Materialism in the light of modern sciences / Chủ nghĩa duy vật dưới ánh sáng của khoa học hiện đại

Q-U (7)

The modern science has proved that Kurt Gödel was totally right in saying “Materialism is wrong”. The building blocks of the universe are not materials but informations. That’s what La Thieu Binh, a researcher of science and Buddhism, wrote in an article sent to PVHg’s Home. I have honour to introduce it to the readers…
Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng Kurt Gödel hoàn toàn đúng khi tuyên bố “Chủ nghĩa duy vật là sai lầm”. Thành phần cơ bản tạo dựng nên vũ trụ không phải là vật chất mà là thông tin. Đó là điều nhà nghiên cứu khoa học và Phật học La Thiếu Bình viết trong một bài báo gửi tới PVHg’s Home. Xin trân trọng giới thiệu với độc giả…

CHỦ NGHĨA DUY VẬT LÀ SAI LẦM

Bài viết của La Thiếu Bình, 10/12/2015

Đề tài “Chủ nghĩa duy vật là sai lầm” của Anh Phạm Việt Hưng quá cơ bản, quá quan trọng nên tôi phải trở đi trở lại với nó nhiều lần. Tôi là kẻ hậu sinh (sinh 1953) nên có cơ hội chứng kiến những phát hiện phi phàm của khoa học, từ đó tôi tin chắc rằng Kurt Gödel hoàn toàn đúng khi tuyên bố chủ nghĩa duy vật là sai lầm.

Năm 1982, Alain Aspect, một nhà vật lý nổi tiếng người Pháp [1], đã chứng minh một cách dứt khoát ai đúng ai sai trong cuộc tranh luận thế kỷ giữa Niels Bohr và Albert Einstein [2]. Như mọi người đều biết, phần thắng đã nghiêng về Niels Bohr, khiến cho người có công lớn trong việc thiết kế bộ máy để tiến hành thí nghiệm là John Clauser phải thất vọng vì ông ta vốn ủng hộ lập trường của Einstein. Từ cuộc thí nghiệm này, người ta rút ra được hai kết luận vô cùng quan trọng :

● Một, vật (ví dụ hạt photon hoặc hạt electron) không hiện thực (non-real), tức là không có thật.

● Hai, vật bất định xứ hay vô sở trụ (non locality), tức là không có vị trí nhất định.

1024px-0012-alain-asp_preview_ecranNhiều người tưởng rằng chỉ có trong thế giới lượng tử thì vật mới bất định xứ còn trong thế giới đời thường thì vật (ví dụ cái bàn) có vị trí nhất định.

Nhà khoa học Việt Nam Trương Văn Tân trong bài báo đăng trên Vietsciences ngày 11/03/2006 nhan đề “Cảm tưởng về quyển The Quantum and The Lotus” (The Quantum and The Lotus là một bản dịch tiếng Anh có sửa đổi của quyển L’Infini dans la paume de la main – du Big Bang à l’éveil, tên đầy đủ của bản dịch là A Journey To The Frontiers Where Science and Buddhism Meet: The Quantum and the Lotus, xuất bản tại Mỹ năm 2001), có đưa ra nhận xét như sau :

Trong thế giới vĩ mô (macrocosm), nguyên lý bất định Heisenberg mất ý nghĩa. Khác với những vật cực nhỏ mà vị trí của nó dựa vào tính xác suất ở nhiều nơi A, B, C…. khác nhau, một vật to như cái bàn không thể lúc thì ở trong phòng học lúc thì tự động nhảy vào nhà bếp hoặc “rong chơi” ngoài sân. Cái bàn trong phòng học sẽ mãi mãi ở đúng vị trí của nó trừ khi ta phải xê dịch. Như vậy, trong thế giới vật lý vĩ mô khác vi mô.”

Điều mà ông Trương Văn Tân không ngờ là cái bàn cũng có thể hành xử giống như photon trong thế giới lượng tử. Hạt photon dễ dàng bị ý thức của người quan sát làm thay đổi vị trí vì hạt photon không có khối lượng, nó không có quán tính hay sức ỳ, trong khi cái bàn có khối lượng, có quán tính khá lớn nên ý thức của người bình thường khó làm cho nó di động, nhưng nếu nói ý thức hay tâm niệm hoàn toàn không thể làm cho nó di chuyển là không đúng.

Năm 1991, một nhà đặc dị công năng là Hầu Hi Quý đã biểu diễn cho ông Lý Gia Thành (Li Ka Shing), nhà tỉ phú Hong Kong thấy rằng cái bàn mạ vàng của ông Thành có thể tùy tiện biến mất khỏi nhà riêng của ông, và xuất hiện tại văn phòng làm việc của ông. Để kỷ niệm cuộc biểu diễn hết sức kỳ lạ này, hai người đã khoác tay chụp hình lưu niệm. Ông Thành đã tặng Hầu Hi Quý một triệu nhân dân tệ để tỏ lòng khâm phục.

HHQ-LyGiaThanh copy

Ảnh trên: Ông Lý Gia Thành (trái) và Hầu Hi Quý (phải)

Năm 2012, Maria Chekhova và các đồng sự tại Viện Khoa học Ánh sáng Max Planck và Đại học Moscow vừa tạo ra những trạng thái lượng tử chứa tới 100.000 photon, và tất cả chúng đều bị vướng víu với nhau. Có nghĩa là một hạt photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau.

Maria-chekhova

Ảnh trên: Maria Vladimirovna Chekhova, Tiến sĩ Khoa học Đại học Moscow

Thí nghiệm của Maria Chekhova có thể cho phép chúng ta rút ra một kết luận hết sức quan trọng : số lượng không có thật (non quantity). Thật ra giả thuyết Big Bang về sự hình thành vũ trụ cũng đã nói lên điều này. Vũ trụ ban sơ chỉ là một hạt cực vi có kích thước 10-33 (mười lũy thừa âm 33) cm. Giả thuyết Big Bang cũng có thể cho phép chúng ta kết luận rằng Một là Tất cà. Tất cả là Một. Số lượng là không có thật. Kết luận này khiến tôi tin chắc câu chuyện trong Kinh Thánh kể rằng trong một buổi thuyết giảng bên hồ Galilee (Kineret) Chúa Giê Su đã chia 5 ổ bánh mì và 2 con cá cho 5000 đàn ông chưa kể đàn bà và trẻ con ăn no bụng, xong vẫn còn dư lại 12 giỏ bánh. Câu chuyện này có thể tin là thật, có cơ sở khoa học chứ không phải bịa.

Cũng trong năm 2012 các nhà khoa học Anh và Đức làm việc trong dự án GEO600 đã phát hiện ra tiếng ốn toàn ảnh. Craig Hogan, Giám đốc Trung tâm Vật lý thiên văn các hạt cơ bản, Phòng thí nghiệm Gia tốc quốc gia Fermi , GS Đại học Chicago, Illinois, giải thích rằng tiếng ồn toàn ảnh là một hiện tượng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó là dấu hiệu thực nghiệm chứng tỏ vũ trụ có bản chất là số (The Universe is digital) nghĩa là vũ trụ có bản chất là thông tin, vật chất cũng là thông tin. Ông đề xuất bit thông tin của vũ trụ là thế này :
vutrulaso-1
Bit thông tin vũ trụ nằm trong mặt phẳng 2 chiều, khi phóng hiện thành vật thể trong không gian 3 chiều, kích thước tăng lên quá lớn nên có một độ nhòe nhất định, giống như khi ta phóng to quá mức một tấm ảnh, thì đường nét của tấm ảnh bị bể không còn mịn. Độ nhòe đó biểu hiện thành tiếng ồn toàn ảnh mà nhóm GEO600 đã phát hiện năm 2012.

Nếu vũ trụ có bản chất là thông tin, là số (digital), thì rõ ràng chủ nghĩa duy vật bị phá sản, vì vũ trụ vạn vật có một nền tảng khác cơ bản hơn là vật chất, vật chất không độc lập tồn tại, điều đó đã quá rõ ràng trong các thí nghiệm khoa học về hai khe hở, về liên kết lượng tử (quantum entanglement).

Vậy nền tảng thật sự của vũ trụ vạn vật là gì ? Craig Hogan không ngần ngại trả lời rằng đó là thông tin, là số. Mà thông tin hay số không phải là vật chất, mà đó là Thức. Các nhà khoa học hiện nay bối rối không biết dùng từ ngữ gì để diễn tả cái Thức đó, họ tạm dùng từ Conciousness. Từ này có ý nghĩa thông thường là Ý thức. Nhưng cái Thức cơ bản của vũ trụ không phải chỉ là Ý thức. Nó sâu xa rộng lớn hơn ý thức gấp cả tỉ tỉ lần. Chúng ta đành phải trở lại một truyền thống xa xưa của Phật giáo, phái Duy Thức Học, để hiểu Thức là gì. Duy Thức Học PG giải thích rằng Tâm có 8 thức : Thấy, Nghe, Ngửi, Nếm, Tiếp xúc và Ý thức, đây là 6 thức mà mọi người đều biết. Nhưng Duy Thức Học còn nêu thêm 2 thức khác cơ bản hơn nữa : Mạt-na thức (Manas) và A-lại-da thức (Alaya). Manas là thức chấp ngã, nó tự phân biệt mình với phần còn lại của thế giới, tạo thành cái ta của mỗi chúng sinh. Alaya là kho chứa vĩ đại, không phân biệt tốt xấu, đúng sai, ta người. Alaya là kho chứa dữ liệu của cả 8 thức. Như vậy Thức hay Alaya là nền tảng thực sự vô hình, vô lượng, vô sở trụ của vũ trụ vạn vật, từ Thức mới sinh ra không gian, thời gian và vật chất. Cái Thức cơ bản đó nên dịch là Alaya thì tốt hơn là Conciousness. Alaya chính là Tâm, là Phật, là Như Lai, là Chúa, là Thượng Đế, là Trời, là Đạo (của Lão Tử).

Chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa. Nền tảng cơ bản nhất của vũ trụ không phải là vật chất, vật chất chỉ là thứ cấp, nền tảng thực tế là Thức, là Tâm, là Phật tánh, là Chúa Trời. Tất cả danh từ khác nhau chỉ là Một mà thôi.

Tóm lại chủ nghĩa duy vật đã chính thức bị khoa học bác bỏ từ thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982 với hai kết luận quan trọng : vật phi hiện thực (non realism) và vô sở trụ (non locality). Năm 2012, với thí nghiệm của Maria Chekhova, có thể rút ra kết luận thứ ba : vật phi số lượng (non quantity). Vấn đề này không phải dễ hiểu, nhất là đối với những người quá sùng bái vật chất. Do đó đến nay vẫn còn rất nhiều người, kể cả một số nhà khoa học, hãy còn mơ hồ.

Tôi xin bổ sung với Anh Hưng, danh sách một số nhà khoa học hàng đầu thế giới hiện nay đã không còn tin tưởng ở chủ nghĩa duy vật, trong video sau đây :

La Thiếu Bình

Bình luận của PVHg’s Home

● Tư tưởng về bản chất thông tin của thế giới bác bỏ thuyết tiến hóa Darwin: sự sống không thể nẩy sinh một cách tự phát từ sự kết hợp ngẫu nhiên của vật chất không sống, mà hình thành theo chương trình đã được xác lập trong DNA. Bản chất tận cùng của sự sống chính là thông tin trong DNA. Thông tin không thể tự phát từ vật chất, mà bắt buộc phải xuất phát từ một nguồn có ý thức. Nguồn đó là Đấng Sáng tạo. Theo nghĩa hiện đại, có thể nói sự sống là sự vận động của thông tin, được điều khiển bởi Đấng Sáng tạo.

● Càng hiểu ý nghĩa của thông tin càng thấy rõ chủ nghĩa duy vật là một chướng ngại vật trên con đường nhận thức thế giới.

● Tư tưởng về bản chất thông tin của thế giới giúp chúng ta hiểu con người là gì. Tôi tán thưởng ý kiến của tác giả La Thiếu Bình rằng bản chất NGƯỜI là THỨC, mà theo ông, chữ “Conciousness” chỉ là một phần của”Thức”.

● Vấn đề bản chất thông tin của thế giới mà tác giả La Thiếu Bình nêu lên làm tôi nghĩ đến Niels Bohr với những phát ngôn bất hủ (mà những cái đầu 1 + 1 = 2 không thể hiểu được). Bohr nói:

There is no quantum world. There is only an abstract quantum physical description. (Không có thế giới lượng tử. Chỉ có một sự mô tả về thế giới vật lý lượng tử trừu tượng).

The fact that religions through the ages have spoken in images, parables, and paradoxes means simply that there are no other ways of grasping the reality to which they refer. But that does not mean that it is not a genuine reality (Việc các tôn giáo trong hàng thế kỷ qua vẫn mô tả thế giới bằng các hình ảnh, truyện ngụ ngôn, và các nghịch lý đơn giản nói lên rằng không có cách nào khác để nắm bắt hiện thực mà nó muốn mô tả. Nhưng điều đó không có nghĩa là điều nó mô tả không phải là một hiện thực thực sự.)

Với những phát ngôn trên, Niels Bohr quả thật đã đi trước thời đại của ông quá xa, và vô tình ông đã với tới thế giới thông tin của gần một thế kỷ sau. Rất khó để hiểu tư tưởng của Bohr – khó đến nỗi nhà vật lý Basil Hiley phải thốt lên lời phàn nàn rằng “Các nhà vật lý ngoài miệng thì nói theo Bohr và phủ nhận Einstein, nhưng cuối cùng phần lớn trong số họ lại chẳng hiểu những gì Bohr nghĩ và rồi vẫn suy nghĩ như Einstein”. Để thấm nhuần Bohr, tôi cho rằng chúng ta phải tập suy nghĩ theo cách như sau: Cái mà ta tưởng là tồn tại ở ngoài kia thực ra không có đâu, cái mà ta tưởng là không có thực ra là có đấy. Tất nhiên điều này không thể biến thành một công thức áp dụng tùy tiện được, mà phải kết hợp nhận thức lý tính với trực giác. Điều kiện thiết yếu là phải thành thực và từ bỏ định kiến. Không thể gân cổ cãi lý ở đây được, vì tư tưởng của Bohr trái ngược với cảm nhận bằng giác quan thông thường. Nhưng cũng đừng ngoài miệng nói theo Bohr mà bụng thì nghĩ như Einstein. Đây chính là chỗ để ta hiểu tại sao Einstein không thể vươn xa tới thế giới tâm linh như Kurt Gödel, mà dừng lại ở thế giới vật chất, mặc dù ông tin có Đấng Sáng tạo ra vũ trụ.

● Theo tôi, khái niệm về bản chất thông tin của thế giới, tức khái niệm THỨC như tác giả La Thiếu Bình đề cập, sẽ là một cuộc CÁCH MẠNG LỚN làm thay đổi hoàn toàn khái niệm khoa học thống trị trong tư tưởng nhân loại mấy trăm năm nay. Có lẽ đây là dấu hiệu chuẩn bị để loài người bước sang một KỶ mới, trong đó tư tưởng duy vật không còn chỗ đứng, và khi đó sự giành giât, chiến tranh,… sẽ lỗi thời. Thực tế hiện nay cho thấy sự giành giật và chiến tranh đang đưa loài người tới thảm họa diệt vong. Đó là dấu hiệu buộc loài người phải hồi tỉnh lại, nếu muốn chuyển sang một KỶ mới tốt đẹp hơn. Để chuẩn bị cho KỶ mới đó, tư tưởng phải đi trước, đó chính là TƯ TƯỞNG VỀ BẢN CHẤT THÔNG TIN CỦA THẾ GIỚI. Tư tưởng này sẽ ném chủ nghĩa duy vật vào sọt rác. Sẽ đến ngày loài người hiểu ra lời Chúa dạy, lời Phật dạy, rằng vật chất là hư ảo. Sẽ đến ngày loài người giác ngộ ra rằng chỉ có ĐẠO mới cứu nổi giống loài của mình và bản thân mình.

Xin chân thành cảm ơn tác giả La Thiếu Bình vì một bài viết rất hay, rất bổ ích.

PVHg’s Home 10/12/2015

GHI CHÚ:

[1] Alain Aspect: Sinh năm 1947, tốt nghiệp École Normale Supérieure, hiện là Giáo sư Viện Quang học thuộc Đại học Bách khoa Pháp, Giáo sư thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS), từng đoạt nhiều giải thưởng lớn về vật lý như Giải Wolf (2010), Huân chương Albert Einstein (2012), Giải ForMemRS (2015).

[2] Cuộc tranh luận về bản chất bất định của thế giới lượng tử, trong đó Einstein cho rằng không có sự bất định, “Chúa không chơi trò xúc xắc”,rằng thế giới dù ở cấp độ nào cũng là những hệ thống vật chất xác định, chỉ có sự kém cỏi của khoa học trong việc xác định hiện thực lượng tử; trong khi Bohr cho rằng thế giới lượng tử mang một bản chất hoàn toàn khác với thế giới thông thường, đó là bản chất bất định, thậm chí không tồn tại hiện thực lượng tử. Vấn đề hiện thực lượng tử có tồn tại hay không đã trở thành mâu thuẫn lớn giữa Einstein và Bohr đến nỗi Einstein nói “Nếu không có mặt trăng thì tôi ngừng nghiên cứu vật lý”. Nhưng với thí nghiệm của Alain Aspect thì Niels Bohr đúng. Để hiểu rõ vấn đề này, có thể đọc Chương 1 cuốn “Từ Xác định đến Bất định” của David Peat, bản dịch của Phạm Việt Hưng, NXB Tri Thức 2011.

Advertisements

5 thoughts on “Materialism in the light of modern sciences / Chủ nghĩa duy vật dưới ánh sáng của khoa học hiện đại

  1. 1. Trung quán luận và đặc biệt Duy thức học là những trường phái triết học thượng thặng của Phật giáo đại thừa. Trong Duy thức học, quy trình hoạt động của TÂM (Mind) được mô tả và giải thích chi tiết trong từng Satna (lượng tử thời gian). Triết học Phật giáo nhiều điểm trùng hợp với tư tưởng của Bohr và Heisenberg liên quan đến Cơ học lượng tử nói riêng và Bản thể luận nói chung.

    2. Nếu THÔNG TIN cũng là VẬT CHẤT, do đó cũng là NĂNG LƯỢNG thì đây quả là một chuyện “ĐỘNG TRỜI” trong khoa học và triết học.

    Số lượt thích

  2. Chủ nghĩa duy vật, ở một thái cực vô thần là một sai lầm, nhưng chủ nghĩa duy tâm ở một thái cực kia chỉ có “tâm” mới tồn tại “ nhất thiết duy tâm tạo” cũng là một sai lầm. Sự thật không nằm ở hai đầu của thái cực này mà sự thật nằm ở giữa hai thái cực này.
    Kinh Thánh chép Khi Chúa sáng tạo ra thế giới này trong sáu ngày thì có một điệp khúc cứ lặp lại sau mỗi công trình đó : “ Ngài thấy điều đó là tốt lành”. Không có một sự tốt lành nào mà Chúa tạo ra lại là ảo ảnh. Kinh Thánh cũng cho biết con người tạo ra bao gồm ba phần : Linh hồn ( Spirit), Tâm hồn ( Soul) và Vật chất ( body). Cả ba đó đều là hiện thực và không có cái nào là ảo ảnh cả.
    Chúa Jesus đã chứng minh Ngài có một thân thể vật chất thực sự khi cho ông Thánh Toma được chạm tay vào cạnh sườn, được thọc tay vào lỗ đinh của Chúa vào ngày Ngài Phục Sinh.
    Sách Khải Huyền chép vào ngày cuối “Biển sẽ trả lại những người chết nó vẫn giữ, Âm Phủ cũng trả lại những người chết nó giam giữ” (Kh 20,11-15).- Tức thân thể vật chất và linh hồn sẽ tác hợp trở lại để chịu phán xét.
    Chúa Jesus phán “Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục.” ( Mathew 10:8)
    Kinh Thánh khẳng định rằng Thiên Đàng , Trời Mới Đất Mới cõi đời đời không phải là một thế giới tâm linh mà vẫn là một thế giới bình thường nơi con người được phục hồi linh hồn trong một thân thể mới vinh hiển, là một thân thể vật chất thực sự nhưng không bị giới hạn bởi không gian và thời gian và là một nơi trọn vẹn về đạo đức.
    Nên Theo lời dạy của Chúa thì “duy vật” là sai, mà “duy tâm” cũng sai.

    Xin giới thiệu bài thảo luận bên dưới để thấy rõ hơn.

    CÓ ĐIỀU GÌ THẬT KHÔNG? – KENELL J. TOURYAN

    GIÁO SƯ: Có người từng nói: “Tôi không biết mình là một con người mơ làm một chú bướm – hay mình là một chú bướm mơ được làm con người.”

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Phải chăng khoa học tự nhiên là một tập hợp các sự thật? hay là một tập hợp các ý kiến?

    GIÁO SƯ: Quan trọng hơn, chúng ta có thực sự biết điều gì không? Có điều gì là thật không – hay sự thật chỉ tồn tại trong tâm trí chúng ta?

    GIÁO SƯ: Hai nhà xã hội học giành được một giải thưởng nhờ viết một cuốn sách công bố rằng khoa học không phải là sự khám phá những sự thật về thế giới tự nhiên. Họ công bố rằng những sự thật được khoa học công bố chẳng qua là những thỏa thuận giữa các chuyên gia với nhau mà thôi.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Nói cách khác, phải chăng các nhà khoa học bầu chọn cho những điều họ tin? Và đa số phiếu sẽ quyết định điều nào họ gọi là “sự thật?”

    GIÁO SƯ: Đó là cách lý giải của một nhóm các nhà tư tưởng. Họ tự gọi mình là “những nhà hậu hiện đại” bởi vì họ muốn thay thế các tư tưởng “hiện đại” bằng những điều ít dựa vào logic hơn.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Họ nghiêm túc chứ?

    GIÁO SƯ: Trước khi chúng ta thảo luận các quan điểm hậu hiện đại, tôi muốn giới thiệu vị chuyên gia về chủ đề hôm nay của chúng ta. Tiến sĩ Kenell [ken-EL] Touryan [tur-YAHN] đã thuyết trình về tư tưởng hậu hiện đại tại hội nghị hằng năm năm 1997 của Hiệp Hội Khoa học Hoa Kỳ. Ông đã có 20 năm nghiên cứu và ứng dụng các nguồn “năng lượng tái tạo.”

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Chẳng phải đó là các nguồn năng lượng không phụ thuộc vào “nhiên liệu hóa thạch” như xăng, dầu và than sao?

    GIÁO SƯ: Đúng vậy. Năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng địa nhiệt là các loại “năng lượng tái tạo” – bởi vì chúng có nguồn cung cấp mới mỗi ngày. Chúng cũng ít gây ô nhiễm và an toàn hơn, Chẳng hạn như, các nguồn năng lượng phụ thuộc vào việc khai mỏ dưới lòng đất.
    Tiến sĩ Touryan đã làm việc tại Viện Nghiên Cứu Năng Lượng Tái Tạo Quốc Gia tại Golden [GOHL-den], Colorado [kol-oh-RAD-oh]. Ông đi công tác trên khắp thế giới ở cương vị giáo sư và cố vấn cho nhiều dự án kỹ thuật cao cấp. Buổi thảo luận hôm nay được dựa trên bài diễn thuyết của tiến sĩ Touryan.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Từ đâu các nhà hậu hiện đại có ý tưởng rằng khoa học không thể khám phá ra sự thật?

    GIÁO SƯ: Giáo sư Touryan nói rằng họ có nhiều điểm khởi đầu khác nhau. Ông nói: “Tuy nhiên, họ có một điểm tương đồng. Đó là họ mang một thái độ thù địch đối với khoa học. …Điều khiến việc đối đầu với các quan niệm này trở nên…khó khăn là họ không dựa trên những tranh cãi bằng lời, nhưng chủ yếu dựa trên những cách tiếp cận khoa trương, tự cho mình vị thế cao hơn người khác.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Chẳng hạn như?

    GIÁO SƯ: Nhiều người đưa ra những tuyên bố quá khích trong những nỗ lực bảo vệ môi trường của mình. Có người từng nói rằng trong vòng 20 năm, những cây cối còn sót lại trên trái đất sẽ nằm trong viện bảo tàng. Họ tuyên bố rằng công nghiệp khai thác gỗ đang đốn hạ quá nhiều cây, và sự ô nhiễm gây ra từ đó giết chết thêm nhiều cây khác.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Hầu như không thể nào tất cả cây cối lại có thể biến mất trong vòng 20 năm được. Gió và côn trùng phát tán hàng triệu hạt giống thực vật.

    GIÁO SƯ: Và những người sống bằng nghề đốn gỗ biết rằng họ sẽ tự khiến mình mất việc nếu khai thác gỗ cạn kiệt. Vì vậy, nhiều công ty khai thác gỗ trồng thêm nhiều cây mới để thay thế.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Như vậy có phải những người buộc tội khoa học và công nghiệp phá hoại môi trường là sai không?

    GIÁO SƯ: Đúng mà cũng sai. Nhiều người trong số họ có những lời chỉ trích có lý. Nhưng nhiều người quá khích tuyên bố rằng cách duy nhất để bảo vệ môi trường là phải chấm dứt hoạt động của toàn bộ nền công nghiệp. Hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng nền công nghiệp có thể hoạt động theo những cách thức ít nguy hại cho môi trường.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Như vậy các nhà hậu hiện đại tự cho mình là vượt trội về đạo đức, bởi vì họ có một động lực tốt – như là bảo vệ môi trường?

    GIÁO SƯ: Đúng vậy. Nhiều người trong số họ nghĩ rằng nếu họ có một động lực tốt, thì họ sẽ có lý do chính đáng để phát biểu một số điều sai sự thật nghiêm trọng để đạt được động cơ đó.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Nhưng tư tưởng chủ đạo của những nhà hậu hiện đại là chúng ta không thể biết chắc chắn được điều gì. Chẳng phải họ đúng một phần khi nói rằng các nhà khoa học tuyên bố biết nhiều hơn những gì họ thực sự biết hay sao?

    GIÁO SƯ: Một số nhà khoa học đúng là như vậy – nhưng chỉ đôi khi mà thôi. Tiến sĩ Touryan nói một số nhà khoa học nghĩ rằng họ biết một số điều nào đó quá chắc chắn đến nỗi không chịu lắng nghe những bằng chứng đi ngược lại tư tưởng của mình.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Xin cho ví dụ?

    GIÁO SƯ: Nhà địa lý học người Đức Alfred Wegener [VAY-guh-ner] sống vào đầu thế kỷ hai mươi. Vào năm 1915 hầu hết các nhà khoa học đã chế nhạo thuyết kiến tạo mảng của ông – đó là ý tưởng cho rằng các lục địa trên trái đất nằm trên các phiến đá khổng lồ có khả năng dịch chuyển. Ông đã thực hiện nhiều nghiên cứu mở rộng để chứng minh cho quan điểm của mình, nhưng ông đã qua đời vào năm 1930 như một người bị ruồng bỏ khỏi giới tri thức.
    Nhưng ý tưởng từng bị nhạo cười vào thời của Wegener giờ đây lại được công nhận là một nguyên lý nền tảng của địa chất học.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Vì sao lại lâu như vậy?

    GIÁO SƯ: Một phần bởi vì chúng ta không thể thí nghiệm bằng cách dịch chuyển một bộ phận của quả đất có kích cỡ lớn ở tầm lục địa. Chúng ta phải chờ đợi đến khi tự nhiên làm điều đó – và ở đúng chỗ để quan sát nó xảy ra.
    Giáo sư Touryan chỉ ra một lý do khác. “Trong các cuộc tranh luận khoa học…, các quan điểm được đưa ra dựa trên những thước đo được quy định bởi các định kiến xã hội, chính trị, và ý thức hệ, hoặc thậm chí bởi…sự đố kỵ nghề nghiệp và sự thất thường của người trình bày.”

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Giáo sư đang nói rằng có những định kiến và sự thất thường trong khoa học. Các nhà hậu hiện đại sẽ nói rằng khoa học tự nhiên chẳng qua là những định kiến và sự thất thường.

    GIÁO SƯ: Đúng vậy. Luôn có mặt tốt và mặt xấu trong các hoạt động của con người, kể cả khoa học. Đừng “vơ đủa cả nắm (throwing the baby out with the bath-water).”

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Đúng vậy.

    GIÁO SƯ: Các nhà khoa học cũng chỉ là con người. Vì vậy nhiều người bị cảm xúc của mình tác động khi có ai đó thách thức học thuyết mà họ thích.
    Nhiều nhà khoa học nói “khoa học đã làm sáng tỏ” và trông chờ mọi người đồng tình ngay lập tức. Giáo sư Touryan nói những người phát biểu như vậy cũng chẳng khác nào nói rằng: “Đừng tranh cãi nữa mà hãy tin tôi đi!”

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Nhiều nhà khoa học dành cả đời chỉ để theo đuổi một học thuyết. Vì vậy tôi có thể hiểu vì sao họ sẵn sàng chống lại bất cứ ai nói rằng họ đã lãng phí cuộc đời mình cho một ý tưởng sai lầm!

    GIÁO SƯ: Đúng vậy. Giáo sư Touryan nói: “…tri thức,…dù không bao giờ là chắc chắn, nhưng cũng có thể hoàn toàn là như vậy.” Ông chỉ ra rằng những người cho rằng khoa học không thể biết điều gì đích xác, chỉ đi theo luận chứng một chiều. Ông trả lời rằng các nhà khoa học chỉ chấp nhận một học thuyết khi các bằng chứng được thu thập từ nhiều nguồn, để kiểm chứng học thuyết đó.
    Ông nói: “thật ra,…có vô số các luồng luận chứng có thể tạo nên sự mạch lạc, những mối liên hệ hết sức chặt chẽ.”

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Một sợi dây thừng được làm nên bởi rất nhiều tao hay sợi. Vì vậy một học thuyết khoa học được chống đỡ bởi nhiều luồng luận chứng.

    GIÁO SƯ: Đúng vậy. Kết quả là sợi dây thừng rất chắc chắn.
    Các sự thật khoa học cũng giống như vậy. Mặc dù chúng ta không thể chắc 100% về một học thuyết khoa học, nhưng chúng ta có đủ bằng chứng để cho thấy hầu hết các học thuyết là hoàn toàn có thể.
    Chúng ta sẽ đưa ra những ví dụ về việc đó trong chương trình tới.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Vào đầu chương trình, giáo sư có trích dẫn: “Tôi không biết mình là một con người mơ làm một chú bướm – hay mình là một chú bướm mơ được làm con người.”
    Ai đã nói điều đó? Và ý của người đó là gì?

    GIÁO SƯ: Một người có tên là Suzuki [soo-ZOO-kee] đã nói câu đó vào những năm 1960. Ông dùng câu nói đó để bày tỏ niềm tin của mình vào một triết lý phủ nhận tư duy phân tích.
    Giáo sư Touryan phản đối lại Suzuki: “Nhưng các bằng chứng về sự tồn tại của tự nhiên lại không phụ thuộc vào việc chúng có được quan sát hay không, khoa học vẫn có hiệu quả.”

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Tôi có ấn tượng là cả hai phía đều có những tư tưởng cực đoan. Có những nhà khoa học tuyên bố biết tất cả sự thật. Nhiều người đối lập với khoa học lại cho rằng các nhà khoa học chẳng biết gì.

    GIÁO SƯ: Đúng vậy. Nhiều nhà khoa học đã đánh mất uy tín vì tuyên bố biết nhiều hơn những gì họ thực sự biết. Nhà thiên văn học trước đây của Hoa Kỳ Carl Sagan [SAY-gun; theo vần với Tổng Thống Reagan] có viết: “Vũ trụ là tất cả những gì đang tồn tại, hoặc đã tồn tại, hoặc sẽ tồn tại.”

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Nói cách khác, ý của ông ấy là: “Nếu những nhà khoa học chúng tôi không quan sát được điều gì, thì điều đó không tồn tại.”

    GIÁO SƯ: Đó là một quan niệm không thực sự khoa học, nhưng thuộc về thuyết khoa học vạn năng. Thuyết khoa học vạn năng là niềm tin rằng khoa học tự nhiên là hiện thực duy nhất – là giải pháp cho mọi vấn đề, và thậm chí là thần thánh.
    Học giả J. D. Grove viết rằng quan điểm của những nhà hậu hiện đại là một cách phản ứng chống lại thái độ thứ gì cũng biết nầy. Ông tin rằng nhiều người đã tin theo chủ nghĩa hậu hiện đại như một cách để báo thù thuyết khoa học vạn năng.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Với tôi, dường như sự thật đang nằm đâu đó giữa hai thái cực này. Các nhà khoa học biết một số điều rất rõ. Bằng cách ứng dụng các nguyên lý khoa học chúng ta đang chuyển tải cuộc thảo luận này hôm nay.

    GIÁO SƯ: Đúng vậy. Một thái cực là chủ nghĩa vô thần, nói rằng chỉ có vật chất mới tồn tại. Thái cực kia là triết lý nói rằng tâm trí hay tâm linh mới là những gì thực hữu, còn vật chất chỉ là một ảo giác.
    Điều làm tôi bị thu hút vào Kinh Thánh là cuốn sách đó khuyến khích chúng ta nhìn vào tất cả hiện thực. Kinh Thánh dạy rằng vật chất chính là hiện thực. Kinh Thánh cũng dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời, Đấng đã tạo dựng nên vật chất, là có thực.

    NGƯỜI PHỎNG VẤN: Những người theo chủ nghĩa duy vật nhìn vào cuộc sống với một mắt nhắm lại. Và những người tuyên bố chỉ có tư tưởng mới tồn tại cũng vậy.

    GIÁO SƯ: Đức Chúa Trời ban cho chúng ta hai mắt và hai tai, để chúng ta có thể nhìn nhận hai mặt của hiện thực – vật chất và tâm linh. Kinh Thánh cho chúng ta một cái nhìn hiện thực về cả hai điều đó.

    Số lượt thích

    • http://phapam.net/wp-content/uploads/2016/09/TAI-LIEU-THAM-KHAO-VE-SU-TUONG-DONG-GIUA-TIN-HOC-VA-PHAT-GIAO.pdf
      Ví dụ 1: Khi chiếu chùm ánh sáng trắng đi qua một lăng kính nó sẽ tách ra thành một chùm ánh sáng nhiều màu. Khi quay cái lăng kính này thì chùm ánh sáng nhiều màu đi ra khỏi lăng kính cũng biến đổi theo.
      Ví dụ 2:Giả sử ta có một mạch điện gồm 2 đầu vào và 1 đầu ra, một đầu vào giữ cố định còn đầu vào còn lại ta làm cho nó thây đổi khi đó đầu ra sẽ thây đổi theo
      Điều đó cho ta thấy rằng bất kỳ một hệ tương tác nào luôn có ít nhất 3 đối tượng một đối tượng cố định, một đầu vào biến thiên làm cho một đầu ra biến thiên theo. Như trong Phật giáo gọi là tam tế tướng là Nghiệp tướng, chuyển tướng và hiện tướng. Tương tự đối với hiện tượng vướng víu lượng tử được tạo ra với công cụ khoa học ngày nay, các nhà khoa học tạo ra được những hạt hạ nguyên tử cụ thể là các hạt photon có sự tương tác hay gọi là có sự vướng víu với nhau, khi đó dù tách chúng ở khoảng cách xa xôi cở nào chăng nữa thì khi họ làm cho 1 photon nào đó thây đổi trạng thái thì ngay lập tức các hạt photon còn lại thây đổi theo, nghĩa là có một đầu vào biến thiên và đầu ra biến thiên theo. như vậy còn một đối tượng thứ 3 cố định này nằm ở đâu nó là thứ gì. mà dù các photon này có cách xa cở nào cũng không ảnh hưởng đến tốc độ truyền trạng thái của photon này đến photon kia phải chăng nó là cái mà nhà Phật gọi là bản thể của vũ trụ: nó không có hình tướng nên nó không bị giới hạn về không gian, thời gian, nhưng mọi hiện tượng đều không nằm ngoài nó và mọi hiện tượng đều xuất phát từ nó. Như một phát biểu của ngài Lục Tổ Huệ Năng: “Không ngờ Tự Tánh vốn không dao động (nên nó là vô hình),Không ngờ Tự Tánh vốn không sanh diệt (không bị giới hạn về không gian, thời gian), Không ngờ Tự Tánh muôn sanh vạn Pháp, Không ngờ Tự Tánh vốn tự thanh tịnh, Không ngờ Tự Tánh vốn tự đầy đủ. (Xem ứng dụng vướng víu lượng tử tại đây)
      Và trong kinh Phật ta gặp rất nhiều các định nghĩa về nó: Trong kinh Hoa Nghiêm thì gọi nó là “tự tánh thanh tịnh viên minh thể” đặc biệt với một câu nói “nhất trần châu biến pháp giới”, nhất trần là một hạt vi trần một sự thây đổi của nó có thể châu biến pháp giới. tốc độ này, không thể nói tốc độ, nó không có tốc độ cho nên nó châu biến, có tốc độ thì nó có thời gian, không có tốc độ thì không có thời gian, đó chính là châu biến (HT Tịnh Không) nên bất kỳ ở khoảng cách nào đối tượng có sự liên kết với nó tức thời liền nhận được.  Chúng sanh có cảm liền có ứng, cảm ứng đạo giao nan tư nghì. Hay là câu này :” duy tâm sở hiện, duy thức sở biến” tâm ở đây là chân tâm là bản thể. Hoặc các kinh về Tịnh Độ thì gọi nó là Thường Tịch Quang. Tịch mà chiếu, chiếu mà tịch. Hay trong kinh Pháp Hoa: Chân Tâm mầu nhiệm (Diệu Pháp) và cũng là Linh Giác căn bản (bản giác). Chân Tâm mầu nhiệm này là bản tánh chân thường, là bản thể bình đẳng của tất cả thánh nhân và phàm phu, của tất cả pháp giới. Phật và chúng sanh từ xưa đến nay đều đồng một thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm này. Phật là người đã ngộ được thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm và chúng sanh là người đã mê lầm thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm. Chúng sanh ngộ được thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm này thì thọ dụng được bốn đức Niết Bàn (Chân Thường, Chân Lạc, Chân Ngã, Chân Tịnh). Chúng sanh nào còn mê lầm thể tánh chân tâm mầu nhiệm này thì chạy theo vọng cảnh điên đảo nên bị sinh tử luân hồi. Hay trong kinh Thủ Lăng Nghiêm: “Các Ngươi phải biết, cái tâm thể Bản Giác của mười phương chúng sanh vốn viên mãn Diệu Minh, cùng với mười phương chư Phật chẳng hai chẳng khác, vì do vọng tưởng của các ngươi mê chấp đạo lý mới thành lỗi lầm, từ đó sanh ra si ái, si ái sanh trưởng khắp nơi, nên có tánh hư không, sự mê chấp tiến hóa không ngừng, nên sanh ra thế giới, vậy thì mười phương vô số quốc độ đều do vọng tưởng kiến lập. Phải biết: Hư không sanh khởi trong tâm các Ngươi như đám mây ở giữa hư không, huống là các thế giới đều ở trong hư không”. Hoặc trong kinh Viên Giác: tánh hư không thường trụ chẳng động. Trong Như Lai Tạng vốn chẳng có sự sanh diệt nên chẳng có sự tri kiến sanh diệt trong đó, cũng như pháp giới tánh, rốt ráo viên mãn đầy khắp mười phương không gian và thời gian, ấy mới gọi là nhân địa phát tâm theo chánh pháp, tu hành theo chánh hạnh. như kinh Kim Cang có nói “Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh, Như sương cũng như chớp,Nên quán sát như vậy. Và nhiều kinh Đại Thừa khác như bộ Bát Nhã 600 quyển, kinh Duy Ma Cật, kinh Phạm Võng, kinh Đại Bảo Tích, kinh Đại Bát Niết Bàn …

      Số lượt thích

  3. Pingback: Nhà toán học lớn nhất thế kỷ 20: “Chủ nghĩa Duy vật là Sai lầm” | Khoa học và Tu luyện

  4. http://phapam.net/wp-content/uploads/2016/09/TAI-LIEU-THAM-KHAO-VE-SU-TUONG-DONG-GIUA-TIN-HOC-VA-PHAT-GIAO.pdf

    Điều đó cho ta thấy rằng bất kỳ một hệ tương tác nào luôn có ít nhất 3 đối tượng một đối tượng cố định, một đầu vào biến thiên làm cho một đầu ra biến thiên theo. Như trong Phật giáo gọi là tam tế tướng là Nghiệp tướng, chuyển tướng và hiện tướng. Tương tự đối với hiện tượng vướng víu lượng tử được tạo ra với công cụ khoa học ngày nay, các nhà khoa học tạo ra được những hạt hạ nguyên tử cụ thể là các hạt photon có sự tương tác hay gọi là có sự vướng víu với nhau, khi đó dù tách chúng ở khoảng cách xa xôi cở nào chăng nữa thì khi họ làm cho 1 photon nào đó thây đổi trạng thái thì ngay lập tức các hạt photon còn lại thây đổi theo, nghĩa là có một đầu vào biến thiên và đầu ra biến thiên theo. như vậy còn một đối tượng thứ 3 cố định này nằm ở đâu nó là thứ gì. mà dù các photon này có cách xa cở nào cũng không ảnh hưởng đến tốc độ truyền trạng thái của photon này đến photon kia phải chăng nó là cái mà nhà Phật gọi là bản thể của vũ trụ: nó không có hình tướng nên nó không bị giới hạn về không gian, thời gian, nhưng mọi hiện tượng đều không nằm ngoài nó và mọi hiện tượng đều xuất phát từ nó. Như một phát biểu của ngài Lục Tổ Huệ Năng: “Không ngờ Tự Tánh vốn không dao động (nên nó là vô hình),Không ngờ Tự Tánh vốn không sanh diệt (không bị giới hạn về không gian, thời gian), Không ngờ Tự Tánh muôn sanh vạn Pháp, Không ngờ Tự Tánh vốn tự thanh tịnh, Không ngờ Tự Tánh vốn tự đầy đủ. (Xem ứng dụng vướng víu lượng tử tại đây)
    Và trong kinh Phật ta gặp rất nhiều các định nghĩa về nó: Trong kinh Hoa Nghiêm thì gọi nó là “tự tánh thanh tịnh viên minh thể” đặc biệt với một câu nói “nhất trần châu biến pháp giới”, nhất trần là một hạt vi trần một sự thây đổi của nó có thể châu biến pháp giới. tốc độ này, không thể nói tốc độ, nó không có tốc độ cho nên nó châu biến, có tốc độ thì nó có thời gian, không có tốc độ thì không có thời gian, đó chính là châu biến (HT Tịnh Không) nên bất kỳ ở khoảng cách nào đối tượng có sự liên kết với nó tức thời liền nhận được.  Chúng sanh có cảm liền có ứng, cảm ứng đạo giao nan tư nghì. Hay là câu này :” duy tâm sở hiện, duy thức sở biến” tâm ở đây là chân tâm là bản thể. Hoặc các kinh về Tịnh Độ thì gọi nó là Thường Tịch Quang. Tịch mà chiếu, chiếu mà tịch. Hay trong kinh Pháp Hoa: Chân Tâm mầu nhiệm (Diệu Pháp) và cũng là Linh Giác căn bản (bản giác). Chân Tâm mầu nhiệm này là bản tánh chân thường, là bản thể bình đẳng của tất cả thánh nhân và phàm phu, của tất cả pháp giới. Phật và chúng sanh từ xưa đến nay đều đồng một thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm này. Phật là người đã ngộ được thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm và chúng sanh là người đã mê lầm thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm. Chúng sanh ngộ được thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm này thì thọ dụng được bốn đức Niết Bàn (Chân Thường, Chân Lạc, Chân Ngã, Chân Tịnh). Chúng sanh nào còn mê lầm thể tánh chân tâm mầu nhiệm này thì chạy theo vọng cảnh điên đảo nên bị sinh tử luân hồi. Hay trong kinh Thủ Lăng Nghiêm: “Các Ngươi phải biết, cái tâm thể Bản Giác của mười phương chúng sanh vốn viên mãn Diệu Minh, cùng với mười phương chư Phật chẳng hai chẳng khác, vì do vọng tưởng của các ngươi mê chấp đạo lý mới thành lỗi lầm, từ đó sanh ra si ái, si ái sanh trưởng khắp nơi, nên có tánh hư không, sự mê chấp tiến hóa không ngừng, nên sanh ra thế giới, vậy thì mười phương vô số quốc độ đều do vọng tưởng kiến lập. Phải biết: Hư không sanh khởi trong tâm các Ngươi như đám mây ở giữa hư không, huống là các thế giới đều ở trong hư không”. Hoặc trong kinh Viên Giác: tánh hư không thường trụ chẳng động. Trong Như Lai Tạng vốn chẳng có sự sanh diệt nên chẳng có sự tri kiến sanh diệt trong đó, cũng như pháp giới tánh, rốt ráo viên mãn đầy khắp mười phương không gian và thời gian, ấy mới gọi là nhân địa phát tâm theo chánh pháp, tu hành theo chánh hạnh. như kinh Kim Cang có nói “Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh, Như sương cũng như chớp,Nên quán sát như vậy. Và nhiều kinh Đại Thừa khác như bộ Bát Nhã 600 quyển, kinh Duy Ma Cật, kinh Phạm Võng, kinh Đại Bảo Tích, kinh Đại Bát Niết Bàn …

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s