A Precious Comment / Một Ý kiến Quý báu

I am in readers’ big debt, because I have received a lot of valuable comments but I can not answer for all. However, I would like today to discuss on a comment by Mr Hà Văn Thọ, a sincere and profound opinion that I think it may be very useful for many people.

Tôi nợ độc giả rất nhiều, bởi tôi nhận được nhiều bình luận giá trị nhưng không thể trả lời tất cả. Tuy nhiên, hôm nay tôi muốn thảo luận về một bình luận của ông Hà Văn Thọ, một ý kiến chân thành và sâu sắc mà tôi nghĩ có thể rất bổ ích đối với nhiều người.

Ý KIẾN CỦA ÔNG HÀ VĂN THỌ

trên PVHg’s Home ngày 26/11/2017

Thân gửi giáo sư Phạm Việt Hưng

Lang thang trên FB, ngán ngẩm với những cảnh bia bọt tiệc tùng thời thượng thì may mắn gặp được “PVHg’s Home”, một địa chỉ cung cấp những kiến thức được trình bày một cách sâu sắc và nghiêm túc nhưng không kém phần hoa mỹ phù hợp với tâm hồn và tuổi tác của tôi.

  • Ví như chính ở nơi đây, tôi tìm thấy lai lịch chữ “VẠN” của Hitler, điều mà đến tác phẩm dày cộp của W.Shirer về “Đế chế thứ ba” cũng chỉ mơ hồ trong một hai dòng, hay kênh NAT.GEO lại phỏng đoán một cách ấu trĩ rằng xuất xứ của cái logo này là do khi còn nhỏ tuổi, Hitler đã có ấn tượng sâu về một hình đắp nổi đầu hồi một ngôi nhà có dáng dấp gần như chữ “Vạn”.
  • Hay bài về dự án bom nguyên tử của Đức Quốc xã bị chậm trễ ngoài lý do bị Đồng minh cản phá, một phần nữa bởi sự vụng về trong thực hành của thiên tài Heisenberg… Đó là những tư liệu khó tìm, rất thú vị…
  • Đặc biệt có loạt bài về định lý bất toàn của Gödel và thuyết tiến hóa của Đác-uyn cũng rất chuyên sâu.

Nhớ lại cách đây gần 60 năm (1961-62) lần đầu tiên tôi được học về thuyết tiến hóa. Nói chung, nó được chấp nhận 100% (ngoại trừ có phê phán đôi chút về cái gọi là “Đác-uyn xã hội”). Quái dị hơn nữa là mấy cái lập luận ngụy tạo của “nhà khoa học lang băm” Lư-xen-cô cộng với những thao tác của cụ lang vườn Mit-su-rin cũng được coi là một “học thuyết”. Thật là quá dễ dãi.

Thú thực tôi chưa bao giờ tin cá bò lên bờ thành động vật trên cạn dù có “chứng lý” về con cá bàn chân, hay bò sát thành chim với bằng chứng hóa thạch “con chim đầu tiên”. Nhưng khi nói đến vượn biến thành người thì chẳng còn gì để nói ngoài cái cảm nhận hình hài hai loài có đôi chút giống nhau…

Nói chung thuyết tiến hóa chỉ như chuyện cổ tích. Mọi sự vật nếu giải thích theo kiểu các cụ ta ngày xưa rằng “Trời sinh ra thế” có lẽ dễ chấp nhận hơn.

Vừa qua tôi có theo dõi bài giảng của giáo sư tại khoa Triết – ĐH Tổng hợp Hà Nội về định lý bất toàn của Gödel, nói chung không hiểu hết nhưng ít ra cũng sáng tỏ ra được nhiều điều như sau: Trước đây, ta vẫn nghĩ nhận thức của con người về thế giới tự nhiên không bao giờ đạt đến chân lý tuyệt đối giống như đường Hyperbole không bao giờ chạm đến đường tiệm cận của nó. Nghĩ rằng đó là một khái niệm triết học không thể chứng minh nhưng hóa ra nó có một chỗ dựa vững chắc bởi lý thuyết toán học. Chỗ dựa đó chính là Định lý Bất toàn của Kurt Gödel.

Tuy nhiên, qua buổi thuyết trình ngày 28.10.2017 đó của giáo sư, có một vài điều mong được tác giả giải thích thêm:

  1. “Tiến hóa” và “Big bang”đều do con người suy đoán (có lẽ nên đảo ngược lại là “đoán suy” – đoán trước suy sau). Vậy giữa hai thuyết này có sự giống nhau và khác nhau thế nào? Hiện thuyết Big Bang đang được đề cao nhưng không phải ai cũng tán đồng ví như nhà vật lý Hames Alfven đã từng mỉa mai “Big bang” chỉ là một huyền thoại tuyệt vời đáng được dành vị trí danh dự trong… nghĩa trang các lý thuyết đã tiêu ma.” (“Science et Avenir” – 4.1993)
  2. Có chứng tích khảo cổ chỉ ra các loài sinh ra cùng một lúc không?
  3. Đấng toàn năng tạo ra muôn vật trong đó có con người. Chúng ta không thể nào hiểu hết tất cả, đừng bao giờ nghĩ đến việc “chinh phục” ngài. Vậy liệu chúng ta có phải lo lắng rằng đến một ngày nào đó, bọn rô-bốt thông minh sẽ phản bội lại chúng ta – “đấng toàn năng” của chúng?
  4. Thuyết hấp dẫn của Einstein là hình học hay vật lý? Nó có trả lời được bản chất của lực hấp dẫn là gì không?

Rất mong được giáo sư giải thích rõ hơn những vấn đề trên cũng như các câu hỏi khác trong tương lai. Xin cảm ơn giáo sư nhiều.

Hà Văn Thọ

TRAO ĐỔI VÀ BÌNH LUẬN Ý KIẾN CỦA ÔNG HÀ VĂN THỌ

Ông Hà Văn Thọ kính mến,

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn ông rất nhiều vì những ý kiến ông đã chia sẻ trên PVHg’s Home. Dù có chủ định hay không, nhưng những ý kiến của ông đã biểu lộ một cách nhìn, cách suy nghĩ, cách nhận thức thế giới rất sâu sắc, góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều sự thật trong khoa học và giáo dục, nâng cao sự hiểu biết nói chung và đặc biệt có ý nghĩa đối với các bạn trẻ.

Trang PVHg’s Home nhận được nhiều ý kiến bình luận quý giá, nhưng ít có ý kiến nào đánh giá một cách vừa tổng quát vừa cụ thể như của ông. Tôi thực sự cảm kích khi nghe ông bình luận về một số chủ đề ông quan tâm. Phải là một người đa cảm và có trực giác nhạy bén mới có thể có mối quan tâm chính xác trên một phạm vi tri thức rộng như vậy. Tôi xin bình luận về những điều ông quan tâm:

Bài viết này là một kỷ niệm của 21 năm về trước, khi tôi mới sang Úc. Hồi ấy internet mới xuất hiện, thông tin còn nghèo lắm, nên tôi tìm thông tin chủ yếu trên sách báo ở thư viện hoặc sách mua ở ngoài hiệu sách. Tôi vớ được thông tin về Swastika trong Bách khoa Toàn thư World Book của Mỹ, và trong môt số sách lịch sử như “Dictionary of World History” do Chambers xuất bản năm 1994, hoặc “The Pictorial History of World War II” của Charles Messenger. Tôi bàng hoàng thích thú và liền viết thành một bài báo, gửi về cho GS Nguyễn Phúc Giác Hải ở VN để chia sẻ. GS Giác Hải liền gửi cho Tạp chí Nghiên cứu Phật học, và tạp chí này đăng ngay. Đáng tiếc là in nhiều lỗi quá. Tôi bèn viết lại rồi gửi cho Văn Nghệ, và Văn Nghệ cũng đăng ngay trong số ra ngày 15/06/2002. Bài báo đã nhận được nhiều phản hồi quý giá từ độc giả. Sau này tôi lại chỉnh đốn một lần nữa cho hoàn chỉnh hơn, và gửi đăng trên Khoa học & Tổ quốc Tháng 03/2011. Sau đó trang mạng Vietsciences bên Pháp liền đăng lại, rồi mãi sau tôi mới đưa lên PVHg’s Home. Mặc dù bài này viết đã lâu, nhưng đó là một trong những bài tôi ưng ý nhất, vì cùng một lúc nó vẽ lại được một bức tranh lịch sử khá hoành tráng và giải thích được nhiều khái niệm và sự kiện mà trước đó chính tôi đặt nhiều dấu hỏi. Cụ thể bài báo đó đã khẳng định:

  • Sự trùng lặp hoàn toàn về ngoại hình giữa chữ VẠN của Phật giáo với dấu thập ngoặc của chủ nghĩa quốc xã Đức là có thật. Những cố gắng tìm sự khác biệt bề ngoài giữa hai biểu tượng này đều là những lập luận chủ quan không dựa trên lịch sử.
  • Sự trùng lặp khó hiểu đó là do chữ VẠN của Phật giáo và dấu thập ngoặc của Đức quốc xã đều lấy biểu tượng Swastika của người Aryan làm biểu tượng của mình.
  • Swastika xuất hiện trong nhiều nền văn hóa khác nhau trên trái đất ít nhất từ 1000 năm trước công nguyên và đã được người Aryan, một cộng đồng cư dân rất thông minh tài giỏi từng cư ngụ ở Trung Á thuộc vùng cao nguyên Iran ngày nay lấy làm biểu tượng của mình.
  • Ý nghĩa nguyên thủy của Swastika là sự tốt lành (well) / trạng thái tốt lành (well-being) / phồn thịnh (prosperity) / sáng tạo (creativity).
  • Trong quá trình du nhập vào các nền văn hóa khác, Swastika mang thêm nhiều ý nghĩa như sự thiêng liêng cao cả (đạo Hinđu), chữ VẠN trong tiếng Hán theo nghĩa là cái bao hàm tất cả vũ trụ (All), sự vĩnh hằng (eternity), sự hài hòa và cân bằng âm-dương (dharma), tình yêu và lòng nhân từ (omote manji) / sức mạnh và trí thông minh (ura manji) / …
  • Khám phá vĩ đại về ngôn ngữ học và khảo cổ học thế kỷ 19 chỉ ra rằng tiếng Sanscrit (tiếng Ấn cổ) và các ngôn ngữ Âu Châu có chung một nguồn gốc Aryan, và được gọi là ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European language).
  • Người Aryan rất giỏi chinh phục. Một bộ phận di cư về phía tây bắc, sang Âu Châu và lai tạp với dân bản địa thành các sắc tộc Âu Châu bây giờ. Hầu hết ngôn ngữ Âu châu hiện nay có nguồn gốc Aryan, trừ một vài xứ như Hungari,… Một bộ phận Aryan di cư về phía đông thành dân Bắc Ấn ngày nay.
  • Tóm lại người Âu Châu và người Bắc Ấn hiện nay không những có chung một nguồn gốc ngôn ngữ, mà còn có chung một nguồn gốc sắc tộc. Quá trình lai tạp và di cư đã đa dạng hóa sắc tộc và ngôn ngữ.
  • Phật giáo tiếp thu biết tượng Swastika từ đạo Hinđu, đạo Hinđu tiếp thu từ biểu tượng Swastika của người Aryan.
  • Trong thế kỷ 20, chủ nghĩa quốc xã Đức trỗi dạy, muốn phục thù cho nước Đức sau thất bại trong Thế Chiến I, bèn nghĩ đến việc nêu cao ngọn cờ chủng tộc để tập hợp người Đức, chuẩn bị cho cuộc chiến tranh thống trị thế giới lần thứ II. Trong bối cảnh đó, Thuyết tiến hóa Darwin cung cấp cơ sở “khoa học” cho việc đề cao chủng tộc Đức như chủng tộc thông minh nhất và có quyền lãnh đạo thế giới, thống trị thế giới. Tư tưởng của Darwin trong cuốn “Nguồn gốc loài người” (The Descent of Man) được phổ biến rộng rãi ở Đức: “Vào một giai đoạn nào đó không xa lắm, có thể tính bằng số thế kỷ, các chủng tộc văn minh của loài người hầu như chắc chắn sẽ tiêu diệt và thay thế các chủng tộc man rợ trên khắp thế giới”.
  • Để hợp thức hóa tư tưởng người Đức là chủng tộc thông minh nhất có quyền thống trị thế giới, sao cho phù hợp với thuyết tiến hóa, chủ nghĩa quốc xã bèn tăng cường tuyên truyền làm cho mọi người tin rằng người Đức là hậu duệ THUẦN CHỦNG NHẤT của “chủng tộc Aryan”. Họ chỉ còn thiếu một biểu tượng cho lá cờ.
  • Chính Hitler, vốn là một họa sĩ thi trượt vào trường đại học mỹ thuật, đã tìm thấy biểu tượng mong muốn: Swastika của người Aryan!

Tóm lại, câu chuyện về chữ VẠN vừa là một câu chuyện lịch sử kỳ thú, trong đó có những chi tiết liên quan đến lịch sử các sắc tộc, lịch sử các nền văn minh, các tôn giáo, lịch sử ngôn ngữ học, và liên quan đến cả Thuyết tiến hóa nữa. Một chủ đề hấp dẫn như thế rất đáng để chia sẻ với mọi người.

Với internet ngày nay, thông tin về Swastika đầy đủ và phong phú hơn rất nhiều, độc giả có thể tìm ở đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Swastika

Bài này tôi viết theo “đơn đặt hàng” của nữ TS Thu Hiên, nguyên Tổng Biên tập báo Khoa học & Đời sống, nhân dịp kỷ niệm 100 năm Thuyết Tương đối hẹp, trong đó bao gồm công thức bất hủ E = mc^2 của Albert Einstein (1905 – 2005), tính đến nay cũng đã 12 năm rồi! Tuy nhiên bài này từng đứng ở vị trí “top” trong bảng thống kê số lượng độc giả vào đọc trên PVHg’s Home, kể từ ngày trang mạng này ra đời.

Một học trò cũ của tôi, nay tuổi đã ngoài 50, nhiều lần nói với tôi rằng bài này là một bài giảng vật lý hay nhất về vật lý nguyên tử mà bạn ấy từng đọc, vì cùng một lúc nó diễn giải những nguyên lý cơ bản của vật lý nguyên tử, vừa lược trình lịch sử của môn khoa học này trong thế kỷ 20, vừa kéo người đọc vào một câu chuyện chính trị hấp dẫn như chuyện trinh thám.

Nó cũng buộc người đọc phải vắt tay lên trán để suy ngẫm xem tại sao một trí thức lỗi lạc như Werner Heisenberg lại có thể cam tâm làm tay sai cho quỷ dữ? Phải chăng khái niệm “vĩ nhân” cần được xem xét lại? Phải chăng chúng ta đã quá quen với chuyện sùng bái tài năng mà quên tôn sùng ĐẠO LÝ làm người?

Nó cũng buộc người đời phải vắt tay lên trán để suy ngẫm về “định mệnh”. Nếu Heisenberg thành công trong việc chế tạo bom nguyên tử cho Hitler thì thế giới sẽ ra sao? Liệu chúng ta còn ngồi đây để thưởng thức “vinh quang của khoa học” không? Vậy tại sao một tài năng xuất chúng như Heisenberg lại có thể phạm một sai lầm kỹ thuật nhỏ bé để Hitler không có bom nguyên tử trong tay? Liệu đó có phải là sự can thiệp của Chúa không? Liệu đó có phải là một dấu hiệu mà chỉ có những người có ngoại cảm mới nhận ra sự can thiệp của Chúa không? Thì ra một câu chuyện bề ngoài bình thường như bao câu chuyện khác về khoa học, giáo dục, lịch sử, nhưng ở đây lại chứa đựng những yếu tố tâm linh mà chỉ những người rất nhạy cảm mới nhận thấy, phải chăng  như thế? Tôi đã suy ngẫm về điều này nhiều đêm mà không có đủ dữ liệu để trả lời, mặc dù trực giác nhắn nhủ tôi như thế.

Thực ra khi viết câu chuyện này, tôi nhớ đến một thầy giáo của tôi: thầy Vũ Bình dạy môn vật lý năm cuối cùng ở trường phổ thông. Đó là một người thầy tuyệt vời mà dường như tôi chỉ gặp một hai lần trong đời. Thầy truyền cảm hứng vật lý cho tôi. Những tên tuổi như Heisenberg, Bohr, Landaw,.. đi vào tâm khảm tôi từ đó. Việc ấy giúp cho tôi sau này nắm bắt các vấn đề của vật lý một cách tự nhiên, hào hứng, như được ăn một món ăn khoái khẩu vậy. Vật lý là một khoa học hấp dẫn nhất, vật lý thế kỷ 20 là trang vật lý hấp dẫn nhất, trong đó những tên tuổi như Einstein, Bohr, Heisenberg,… là những tên tuổi hấp dẫn nhất. Tất cả những cái hấp dẫn đó đã giúp tôi kể câu chuyện về bom nguyên tử của Hitler một cách hào hứng cứ như ngày xưa một bà cô ruột của tôi hào hứng kể cho thằng cháu của bà nghe chuyện Tam Quốc ly kỳ như thế nào vậy. Một nhà sư phạm lớn của Mỹ là Joy Hakim yêu cầu môn vật lý phải được dạy theo lối kể chuyện như thế, đúng như những gì đã diễn ra trong lịch sử. Tôi vô tình đã làm đúng như bà yêu cầu, mặc dù tôi làm một cách vô thức theo hứng thú của bản thân. Vì thế tôi rất sung sướng khi gặp những người có thể chia sẻ với mình những ý tứ thâm sâu của câu chuyện, ẩn đằng sau những con chữ khoa học.

Nhưng ý kiến của ông Hà Văn Thọ về Định lý Gödel và tính chất ngụy khoa học của Thuyết tiến hóa có lẽ là những ý kiến giá trị nhất. Tôi phải nói như vậy vì không phải ai cũng có nhận định như ông.

  • Câu chuyện về Định lý Gödel

Có người lấy làm khó chịu tại sao tôi lại dùng Định lý Gödel để phê phán nhiều thứ, từ khoa học đến triết học. Thậm chí để phê phán cả thuyết tiến hóa nữa, một lĩnh vực chẳng dính dáng gì đến Định lý Gödel cả. Tôi không bận tâm đến những người đó, vì họ có quyền suy nghĩ riêng. Họ làm tôi nhớ đến một ý kiến của Einstein rằng “Ít có ai thanh thản nói ra ý kiến đi chệch khỏi định kiến của xung quanh; phần đông thậm chí không đủ sức có được những ý kiến như thế”. Vâng, tôi coi những người đó không đủ sức có những ý kiến đi chệch khỏi định kiến của xung quanh. Vì thế tranh luận với họ sẽ mất thì giờ. Nhưng chính vì thế tôi vô cùng sung sướng khi gặp những chia sẻ đồng điệu. Vâng, tôi đặc biệt cảm ơn ông Hà Văn Thọ vì nhận xét “Đặc biệt có loạt bài về định lý bất toàn của Godel và thuyết tiến hóa của Đác-uyn cũng rất chuyên sâu”.

Định lý Gödel có tầm vóc lớn hơn rất nhiều so với lúc đầu tôi được tiếp cận với nó. Tuy nhiên ngay từ khi mới biết định lý này, tôi rơi vào tình trạng ngỡ ngàng vì không thể hiểu tại sao một định lý toán học lớn đến như thế mà tuyệt nhiên thời sinh viên đi học, tôi và các bạn cùng lớp ở Tổng hợp Toán Hà-nội khóa 1962, không hề được nghe nói đến. Rồi mấy chục năm sau đó, mãi đến trước khi tôi sang Úc định cư, cũng không hề biết. Tôi có gặp tên tuổi của Gödel loáng thoáng trên một cuốn sách dịch nhan đề “Toán học trong thế giới ngày nay”, xuất bản khoảng những năm 1970, bao gồm những bài báo của Mỹ nói về toán học ngày nay. Nhưng ở đó không có một chữ nào về Định lý Gödel. Các tác giả của cuốn sách đó cũng chỉ nhắc đến Gödel một cách quá sơ sài không đủ gây sự chú ý đối với tôi.

Mãi cho đến năm nay, 2017, tôi mới được một người bạn ở Mỹ tặng một cuốn sách xuất bản tại Việt Nam năm 2000, nhan đề “GS Tạ Quang Bửu, con người và sự nghiệp”. Qua đó tôi mới biết Định lý Gödel được du nhập vào Việt Nam nhỏ giọt như thế nào. Tôi đã giới thiệu câu chuyện này trong một bài báo mới đây: “On The Undecidability / Về Cái Bất khả Quyết định”. Trong bài báo này, tôi kể định lý này được du nhập vào Việt Nam một cách từ tốn, thận trọng, thẩm thấu qua một vài con chim đầu đàn của toán học Việt Nam thập kỷ 1980, như GS Tạ Quang Bửu, GS Phan Đình Diệu, GS Hoàng Xuân Sính. Và ngay cả những giáo sư đó cũng đang trong giai đoạn nghiên cứu, tìm hiểu, thay vì đã trở thành một đề tài phổ biến rộng rãi để mọi người trong giới toán học được biết. Nguồn thông tin sách báo hồi ấy đâu có như bây giờ. Lúc ấy, ngay trên thế giới, số người biết định lý này cũng rất hạn chế. Một trong những lý do để giới toán học thế giới không mặn nồng với Định lý Gödel là vì nó “phê phán” toán học. Chữ “phê phán” tôi dùng ở đây chính là chữ của GS Phan Đình Diệu trong cuốn sách tôi mới được tặng nói trên. Vì thế, khi tôi viết bài giới thiệu Định lý Gödel trên các diễn đàn Việt Ngữ, tôi hoàn toàn không biết định lý này đã vào Việt Nam như thế nào, thông qua nguồn nào. Nói như thế để chia sẻ với ông Hà Văn Thọ và với độc giả rằng khi tôi gặp Định lý Gödel ở Úc, tôi thực sự ngỡ ngàng nhưng thích thú. Và tất cả những gì tôi hiểu về nó là tự thân tìm hiểu, thông qua những cuốn sách mới toanh mua ở hiệu sách ở Úc đem về nhà đọc. Xin lưu ý thời điểm đó là 1996, 1997, 1998, tức là những năm cuối của thế kỷ 20. Thật vậy, cuối thế kỷ 20, tôi chứng kiến sự xuất hiện những cuốn sách mới toanh ở Úc nhưng xuất bản ở Anh, Mỹ, giới thiệu Định lý Gödel. Có nghĩa là đối với thế giới, đây cũng là một sự kiện mới nổi bật, mặc dù định lý này ra đời từ 1931. Nói cách khác, mãi cho tới cuối thế kỷ 20 nhân loại mới thực sự “tái khám phá” ra Định lý Gödel. Ngay tại các nước tây phương hiện nay, Định lý Gödel cũng chưa được đem ra giảng dạy tại các trường đại học như Thuyết tương đối của Einstein hay Nguyên lý bất định của Heisenberg, mặc dù tầm vóc và tầm quan trọng của nó cũng ngang với những lý thuyết đó. Một sinh viên tốt nghiệp xuất sắc ngành IT (Công nghệ thông tin) tại Đại học Công nghệ Sydney tỏ ra ngỡ ngàng thích thú khi nghe tôi nói về Định lý Bất toàn của Kurt Gödel và Sự cố Dừng của Alan Turing, vì đó là lần đầu tiên anh ta được nghe những sự kiện trọng đại liên quan mật thiết với chuyên ngành computer của mình. Điều đó cho thấy sự chậm trễ của nền giáo dục toàn cầu đối với việc nhận thức Định lý Gödel ra sao.

Tóm lại, sự thật là không phải chỉ giới toán học Việt Nam, mà giới toán học toàn thế giới, mãi cho tới cuối thế kỷ 20 mới thực sự biết đến Định lý Bất toàn. Giới vật lý còn chậm hơn. Bằng chứng là mãi đến những năm 2007-2010, nhà vật lý lừng danh Stephen Hawking mới biểu lộ sự thấm nhuần của ông đối với Định lý Gödel thông qua hai bài báo nổi tiếng:

Cả hai bài báo đó đều thể hiện sự thay đổi mang tính chất cách mạng trong nhận thức của Hawking đối với “TOE”, tức Lý thuyết về mọi thứ của vật lý hiện đại. Độc giả nào thực sự quan tâm đến vấn đề này, xin đọc hai bài đó trên tạp chí Khoa học & Tổ quốc:

Tôi suy nghĩ rất nhiều khi thấy một người giỏi và tự phụ như Hawking đã phải thay đổi cách nhìn đối với tương lai của vật lý sau khi thấm nhuần Định lý Gödel. Hình ảnh Hawking tương phản 100% với một số “nhà khoa học nho nhỏ” ─ những người mang danh khoa học nhưng lại ít đọc và lười nghiên cứu nên thường hay nẩy lò xo phản ứng mỗi khi nghe thấy những điều lạ tai, trái với niềm tin cố hữu của họ từ ghế nhà trường. Thế mới biết câu nói của Louis Pasteur mới thật là thâm thúy: “Ít khoa học sẽ xa rời Chúa; nhiều khoa học sẽ quay về với Chúa”. Nếu áp dụng câu này vào trường hợp những người phi tôn giáo nói chung thì có thể hiểu Chúa ở đây là CHÂN LÝ.

Đến đây tôi muốn bày tỏ sự cảm kích vô cùng lớn đối với ý kiến của ông Hà Văn Thọ, rằng:

“Trước đây, ta vẫn nghĩ nhận thức của con người về thế giới tự nhiên không bao giờ đạt đến chân lý tuyệt đối giống như đường Hyperbole không bao giờ chạm đến đường tiệm cận của nó. Nghĩ rằng đó là một khái niệm triết học không thể chứng minh nhưng hóa ra nó có một chỗ dựa vững chắc bởi lý thuyết toán học. Chỗ dựa đó chính là Định lý Bất toàn của Kurt Gödel”.

Vâng, hoàn toàn đúng như thế đấy. Từ 1931, tư tưởng về giới hạn của nhận thức không còn là một quan điểm triết học trên mây trên gió nữa, mà có một chỗ dựa vững chắc là Định lý Gödel.

Tôi không rõ chuyên ngành nghiên cứu của ông Thọ, nhưng qua ý kiến trên, tôi thấy ông có trực giác mẫn tiệp. Quả thật là trước Gödel, loài người đã từng bàn đến vấn đề giới hạn của tư duy duy lý.

Trong bài báo “LỬA của PASCAL / PASCAL’s FIRE” tôi đã trình bày rõ rằng Pascal mới thực sự là người đầu tiên chỉ ra bản chất hạn chế của toán học, chứ không phải Kurt Gödel. Nhưng Gödel chứng minh điều này một cách chặt chẽ bằng toán học, chấm dứt mọi tranh cãi về vấn đề này!

Thực ra đã từng có nhiều nhà toán học khó chịu với Định lý Gödel vì tính chất “phê phán” của nó đối với toán học. Họ đã từng muốn bới móc và tìm chỗ sai trong chứng minh của Gödel, nhưng không ai làm nổi việc này. Chứng minh của Gödel là chính xác! Càng muốn bới móc Gödel người ta càng quay sang khâm phục ông, thán phục ông. Phương pháp chứng minh của Gödel tuyệt vời đến nỗi nó đã trở thành mẫu mực của khoa học computer ngày nay. Douglas Hofstadter, GS về khoa học nhận thức của Đại học Stanford và nhiều đại học khác ở Mỹ, nhận định Gödel có thể xem như Ông tổ của ngôn ngữ lập trình hiện đại. Chỉ riêng điều này cũng đủ để tôn Gödel lên bậc những nhà khoa học vĩ đại nhất, bởi không có ngôn ngữ lập trình thì không có thế giới ngày nay.

Một công trình khác của Gödel, đó là chứng mình của ông về sự hiện hữu của Chúa dựa trên phương pháp tiên đề, đã được giới khoa học computer xem như một MÔ HÌNH MẪU MỰC của một bài toán có thể chương trình hóa trên computer. Xin đọc bài “Gödel chứng minh Chúa hiện hữu”  để hiểu thêm vấn đề này.

Tóm lại, Định lý Gödel có những tác động vô cùng to lớn đối với khoa học và triết học nhận thức. Đó chính là nội dung cơ bản của Hội thảo ngày 18/10/2017 vừa qua tại Đại học KHXH và Nhân văn Hà-nội.

  • Câu chuyện về Thuyết tiến hóa Darwin

Tâm sự của ông Hà Văn Thọ về những kỷ niệm thủa học sinh đối với Thuyết tiến hóa và các lý thuyết sinh học “lang băm” là những sự thật mà tôi cũng chứng kiến. Nếu tôi nói ra những ý kiến như thế thì một số người sẽ chụp cho tôi cái mũ “định kiến với thuyết tiến hóa”, thậm chí “phản đối Darwin chỉ vì muốn bảo vệ niềm tin tôn giáo”,… Vì thế tôi vô cùng biết ơn ông Hà Văn Thọ đã giúp tôi khẳng định bản chất hoang đường và ngụy khoa học của học thuyết Darwin.

Đối với tôi, cách nhìn nhận học thuyết Darwin chính là một tiêu chuẩn để “test” trí thông minh. Chẳng hạn, ai tin cá lên bờ biến thành động vật trên mặt đất thì bộ não của người ấy “có vấn đề”. Hoặc ai tin rằng động vật có vú 4 chân trên cạn phải tìm thức ăn dưới biển nhiều quá nên dần dần biến thành cá voi… thì hệ thần kinh của người ấy có lẽ cũng không còn lành mạnh nữa rồi.

Vậy mà đó là những “lý thuyết” nghiêm túc của thuyết tiến hóa đấy, một lý thuyết được coi là khoa học đấy! Trong lý thuyết ấy có sự đóng góp của 500 luận án tiến sĩ về “Người vượn Piltdown”, trước khi hóa thạch người vượn này bị bóc trần là lừa đảo! Đó là một vụ lừa đảo lớn nhất của thuyết tiến hóa và của khoa học nói chung, để lại một hậu quả tai hại không thể cân đong đo đếm được ─ trong 41 năm trời (1912 – 1953), toàn thế giới tin đó là một sự thật, một bằng chứng thật của người vượn, thậm chí đến nay vẫn có rất nhiều chưa biết sự thật lừa đảo này. Tệ hơn, có nhiều người biết sự thật này nhưng vẫn muốn bảo vệ lý thuyết nguồn gốc loài người xuất thân từ vượn. Trong khi tiếp tục tuyên truyền cho thuyết tiến hóa, những người này vẫn tìm cách dấu nhẹm vụ lừa đảo người vượn Piltdown và các vụ lừa đảo khác. Tôi xin chân thành có lời chia sẻ với mọi người rằng muốn biết sự thật Thuyết tiến hóa, hãy cố gắng đọc bài “Here is Evolution Proof / Đây, bằng chứng của Thuyết Tiến hóa” và hãy suy ngẫm về những câu hỏi sau đây:

  • Nếu thuyết tiến hóa có bằng chứng THẬT, tại sao phải làm bằng chứng GIẢ?
  • Có nên tước bằng tiến sĩ của 500 luận án tiến sĩ về người vượn Piltdown không?
  • Tại sao chỉ từ một chiếc răng của một loài lợn mà dám bảo đó là hóa thạch của một người vượn? Đó là trường hợp “Người vượn Nebraska”, từng được trưng bày ở Bảo tàng Tự nhiên ở Mỹ.
  • Có bằng chứng nào để chứng minh đột biến tạo ra loài mới không?
  • Có bằng chứng nào để chứng minh sự sống ra đời ngẫu nhiên từ vật chất không sống không?
  • Và rất nhiều câu hỏi khác không thể liệt kê ra ở đây.

Có nhà tiến hóa gửi thư cho tôi, khuyên tôi nên đọc ý kiến phản biện của họ. Tôi cười trả lời: “Bạn nói nhầm rồi. Thuyết tiến hóa của các bạn là thuyết chính thống. Ý kiến phê phán thuyết tiến hóa mới là ý kiến phản biện. Tất cả những gì các bạn nói đều đã được giảng dạy ở nhà trường và công bố trên các kênh truyền thông chính thức rồi. Tôi biết cả rồi. Các bạn mới là người cần đọc và SUY NGẪM về những ý kiến phản biện thuyết tiến hóa”.

Ông Hà Văn Thọ nói: “Thú thực tôi chưa bao giờ tin cá bò lên bờ thành động vật trên cạn dù có “chứng lý” về con cá bàn chân, hay bò sát thành chim với bằng chứng hóa thạch “con chim đầu tiên”.”

Tôi rất hiểu ý ông khi ông đặt chữ “chứng lý” và chữ “con chim đầu tiên” vào trong ngoặc kép để cho mọi người biết rằng đó là những “chứng lý”… nực cười. Vâng, thuyết tiến hóa TUYỆT ĐỐI VÔ BẰNG CHỨNG. Họ chỉ có bằng chứng sai lầm, hoặc ngụy tạo, hoặc bằng chứng phản lại thuyết tiến hóa. Tôi đã triình bày khá kỹ điều này trong chuyên mục “BIO-CHEMISTRY / Chủ đề Sinh-Hóa” trên PVHg’s Home  

TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI CỦA ÔNG HÀ VĂN THỌ

 CÂU HỎI 1: “Tiến hóa” và “Big bang” đều do con người suy đoán (có lẽ nên đảo ngược lại là “đoán suy” – đoán trước suy sau). Vậy giữa hai thuyết này có sự giống nhau và khác nhau thế nào?

TRẢ LỜI 1:

Một số người cho rằng hai lý thuyết này có tư tưởng giống nhau vì cùng muốn giải thích vấn đề NGUỒN GỐC. Thuyết tiến hóa muốn giải thích nguồn gốc sự sống, Lý thuyết Big Bang muốn giải thích nguồn gốc vũ trụ. Nhưng đó là cái nhìn bề ngoài, không phản ánh đúng thực chất hai lý thuyết này, không thấy sự KHÁC BIỆT rất lớn giữa hai lý thuyết này. Cụ thể sự khác biệt đó là ở chỗ:

– Nếu Thuyết tiến hóa là hoang đường, hoàn toàn tưởng tượng, và mang tính chất NGỤY khoa học, thì Lý thuyết Big Bang là một lý thuyết khoa học, dựa trên suy diễn toán học và thực tiễn vật lý.

– Nếu Thuyết tiến hóa hoàn toàn loại bỏ vai trò của Nhà thiết kế sự sống thì Lý thuyết Big Bang lại ủng hộ quan điểm cho rằng phải có Nhà thiết kế Vũ trụ.

– Thuyết tiến hóa hoàn toàn vô căn cứ, phi khoa học, hoang đường, và ngụy khoa học. Nó không phải là khoa học, vì phi logic và phi quy nạp. Hai tiên đề cơ bản của nó là:

  • 1/ Sự sống ra đời ngẫu nhiên từ vật chất không sống
  • 2/ Đột biến dẫn tới thay đổi cấu trúc di truyền dẫn tới loài mới

Cả 2 tiên đề trên đều không phải là những tiên nghiệm (priori) được mọi người thừa nhận, và cũng chẳng phải định luật (law) của sự sống, vì nó hoàn toàn không có bất cứ một thực tế hoặc một thí nghiệm nào để kiểm chứng. Thậm chí các thí nghiệm kiểm chứng cho kết quả phản lại thuyết tiến hóa.

– Lý thuyết Big Bang là một lý thuyết khoa học vì nó là một hệ quả trực tiếp của Thuyết tương đối tổng quát của Albert Einstein. Hệ quả đó được rút ra từ những suy diễn logic toán học. Vì thế nó được đa số các nhà vật lý và toán học thừa nhận, kể từ khi Georges Lemaître nêu lên mô hình Big Bang (thuật ngữ Big Bang do Fred Hoyle, một nhà toán học xuất sắc của Anh, đặt ra để gọi tên vụ nổ lớn). Tuy nhiên còn nhiều câu hỏi mà Lý thuyết Big Bang chưa hoặc không trả lời được, và nó cũng chưa đủ thực tế để kiếm chứng một cách chắc chắn, mặc dù cũng đã có những bằng chứng kiểm chứng vụ nổ lớn. Chẳng hạn, theo lý thuyết Big Bang, vụ nổ lớn ắt phải để lại những vi sóng hóa thạch (tàn dư) tiếp tục lan truyền trong vũ trụ. Thực tế, các trạm quan sát thăm dò vi sóng đã bắt được những sóng này. Vì thế, mặc dù Lý thuyết Big Bang vẫn còn thiếu dữ liệu thực tế để được khẳng định một cách hoàn toàn chắc chắn, đến nay nó vẫn được đa số các nhà vật lý ủng hộ vì các suy diễn toán học dẫn tới nó là hoàn toàn hợp lý. Bản thân Albert Eíntein cũng tán thưởng công trình của Lemaître, thậm chí ông coi đó là một khám phá lớn. Tuy nhiên, việc kiểm chứng lý thuyết Big Bang vẫn đang nằm trong giai đoạn tiếp diễn, và chừng nào chưa đủ bằng chứng thuyết phục 100% thì sự nghi ngờ là điều cần thiết. Nhưng nghi ngờ như thế nào cũng lại là một vấn đề không dễ trả lời.

– Vả lại, cần nhận thức chính xác hơn rằng Lý thuyết Big Bang không đưa ra được câu trả lời của khoa học về nguồn gốc của vũ trụ, bởi không ai biết “điểm kỳ dị” (singularity point), tức điểm ban đầu của vũ trụ từ đâu mà ra? Cũng không ai biết kích hoạt nào làm cho nó bùng nổ? Vì thế, nếu ai nói Lý thuyết Big Bang đã giải thích được nguồn gốc của vũ trụ là không đúng.

– Theo Định lý Gödel, không có một hệ logic nào có thể tự nó giải thích NGUYÊN NHÂN ĐẦU TIÊN của nó (tức hệ tiên đề). Nguyên nhân đầu tiên chỉ có thể nhận thức bằng TRỰC GIÁC. Vì thế cả Thuyết tiến hóa lẫn Lý thuyết Big Bang đều không thể được xem là những lý thuyết giải thích vấn đề nguồn gốc.

– Thuyết Big Bang còn được ủng hộ thêm bởi Định luật Entropy. Theo định luật này, toàn thể vũ trụ, xét như một hệ kín, sẽ thoái hóa dần, hỗn loạn dần. Nếu không có điểm khởi đầu của vũ trụ thì thời gian được coi là vô hạn, nếu thế thì vũ trụ ắt phải thoái hóa từ lâu rồi. Nhưng theo Thuyết Big Bang, vũ trụ có điểm khởi đầu (cách đây ngót 14 tỷ năm), thời gian chưa đủ để nó đi đến chỗ tan loãng, vì thế nó vẫn đang tồn tại như hiện nay. Tuy nhiên, hiện tượng vũ trụ giãn nở gia tốc do Saul Perlmutter và một số nhà khoa học khác khám phá ra gần đây chứng tỏ vũ trụ đang giãn nở gia tốc, sự tan loãng đang diễn ra ngày càng nhanh hơn, và theo dự đoán hiện nay, vũ trụ sẽ đi đến lúc tan loãng hoàn toàn và trở về hư không. Khám phá của Saul Perlmutter đã đoạt Giải Nobel Vật lý năm 2008. Vì thế, Thuyết Big Bang có nhiều điểm phù hợp với những lý thuyết khoa học đang tồn tại, và do đó nó được cộng đồng khoa học công nhận nó là một lý thuyết khoa học. Lý thuyết Big Bang có thể còn nhiều kẽ hở, không thể chắc chắn và rõ ràng như quỹ đạo chuyển động của các hành tinh quanh mặt trời, nhưng nó là một lý thuyết vật lý có cơ sở toán học, phù hợp với nhiều quan sát thực tế, phù hợp với nhiều lý thuyết vật lý đã có. Bạn rất khó để bác bỏ những lập luận toán học và vật lý xuất phát từ Thuyết tương đối tổng quát của Einstein dẫn đến Big Bang.

– Nếu Thuyết tiến hóa hoàn toàn bế tắc trước vấn đề nguồn gốc sự sống thì Lý thuyết Big Bang đã được nhiều nhà khoa học lớn sử dụng để giải thích vài trò thiết yếu của Nhà thiết kế vũ trụ, tức Đấng Sáng tạo, trong việc hình thành vũ trụ. Để biết rõ điều này, xin đọc bài “Nan đề Sáng Thế / Genesis Problem”  .

CÂU HỎI 2: Có chứng tích khảo cổ chỉ ra các loài sinh ra cùng một lúc không?

TRẢ LỜI 2:

CÓ, và có RẤT NHIỀU. Điều này đã được trình bày rõ trong bài “LIFE EXPLOSION / Sự bùng nổ sự sống

CÂU HỎI 3: Đấng toàn năng tạo ra muôn vật trong đó có con người. Chúng ta không thể nào hiểu hết tất cả, đừng bao giờ nghĩ đến việc “chinh phục” ngài. Vậy liệu chúng ta có phải lo lắng rằng đến một ngày nào đó, bọn rô-bốt thông minh sẽ phản bội lại chúng ta – “đấng toàn năng” của chúng?

TRẢ LỜI 3:

Đúng là rất đáng lo ngại khi khoa học và công nghệ không được điều chỉnh bởi ĐẠO. Nhà vật lý vô thần Stephen Hawking đã nhiều lần lên tiếng cảnh bảo nhân loại về điều này. Nếu robots phản lại “đấng sáng tạo” của chúng thì lỗi không phải do chúng, mà do chính “đấng sáng tạo” ra chúng ─ những “đấng sáng tạo” tự phụ coi mình là “đấng sáng tạo” có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Tất nhiên những “đấng sáng tạo” này là sản phẩm của một nền văn hóa tôn sùng vật chất, coi thường các giá trị tinh thần hoặc vô… ĐẠO. Vậy vấn đề văn hóa sẽ quyết định tương lai của loài người.

Rất nhiều cảnh báo của nhiều nhà khoa học, học giả, nhà văn, nhà tôn giáo… về tương lai của nhân loại sẽ tối tăm nếu con người vô ĐẠO. Bài học trong Kinh Thánh về “Tháp Babel” dường như không có ý nghĩa gì với nhiều người. Thói tự phụ của con người chính là nguồn gốc và nguy cơ hủy diệt loài người, chứ không phải robots.

André Bourguignon, một nhà nhân loại học nổi tiếng người Pháp, trong công trình nghiên cứu vĩ đại của ông về “Lịch sử Tự nhiên của Con người”, đã chua chát kết luận rằng con người là một loài điên rồ, vì nó là loài duy nhất tiến hành những cuộc tàn sát TRONG LOÀI của mình, và từ đó con người đã tự hạ mình xuống DƯỚI động vật.

Tại sao Bourguignon lại bi quan chua chát như thế? Vì ông đã nghiên cứu rất kỹ thuyết tiến hóa Darwin và đã chứng kiến hai cuộc Thế Chiến trong thế kỷ 20, ông thấy không còn gì điên rồ hơn thế?

Cứu cánh duy nhất là ĐẠO. Dường như tình hình đã gấp gáp lắm rồi nên nhà văn trứ danh người Canada Yann Martel đã phải cho ra mắt tác phẩm bất hủ của ông: “CUỘC ĐỜI CỦA PI” (Life of Pi).

Đọc cuốn ấy, tôi có cảm tưởng Thượng đế gửi thông điệp cho chúng ta qua Yann Martel.

Ai dám coi thường bản thông điệp ấy? Đó là tất cả những người đi trên còn tầu Tsimtsum, trừ anh chàng Pi, một tâm hồn trong sáng tin tưởng tuyệt đối vào Thượng Đế, Chúa Jesus và Đấng Allah !

Đối với tôi, “Cuộc đời của Pi” là một tuyệt tác, một tác phẩm văn học hay nhất và đáng đọc nhất hiện nay. Đó là triết học, là minh triết quý giá, thức ăn bổ dưỡng cho linh hồn! (đã được xuất bản bằng tiếng Việt bởi Công ty Nhã Nam)

CÂU HỎI 4: Thuyết hấp dẫn của Eisntein là hình học hay vật lý? Nó có trả lời được bản chất của lực hấp dẫn là gì không?

TRẢ LỜI 4:

Thuyết hấp dẫn của Albert Einstein chính là Thuyết Tương đối tổng quát của ông, Đó là sự kết hợp lý thuyết hấp dẫn của Newton với Hình học Riemann.

Hình học Riemann là một sự tổng quát hóa của các dạng hình học phi-Euclid khác nhau như Hình học Lobachevsky, Hình học của Janos Bolyai người Hungari,…

Hình học của Riemann thuần túy là toán học. Lúc mới ra đời không ai biết nó sẽ có ứng dụng thực tế như thế nào. Nhưng vài chục năm sau, Einstein tìm thấy ý nghĩa vật lý của nó: Không gian vật lý của vũ trụ chính là không gian tuân thủ những tính chất của Hình học Riemann.

Người “mách” cho Einstein biết thứ hình học phù hợp với tư tưởng vật lý của ông là một bạn học cũ của ông tại Đại học Bách khoa Zurich của Thụy sĩ, đó là Marcel Grossmann.

Để sử dụng Hình học Riemann và các lý thuyết toán học cần thiết khác cho lý thuyết vật lý của mình, Einstein đã phải nhờ cậy đến sự giúp đỡ của Grossmann và của nhà nữ toán học  xuất sắc Emmy Noether. Tóm lại:

Thuyết tương đối tổng quát = Hình học Riemann + Lý thuyết hấp dẫn của Newton

Lý thuyết hấp dẫn của Newton cũng có cái khung hình học của nó, đó là Hình học Euclid. Nói cách khác, không gian vật lý của Newton là không gian Euclid, thẳng, tuyến tính, một không gian trống rỗng chứa đựng các thiên thể giống như một cái túi trống rỗng khổng lồ chứa đựng các vật thể. Mọi tính chất trong không gian ấy tuân thủ các tính chất của hình học Euclid. Thí dụ: Ánh sáng chạy từ điểm A đế điểm B, bất kể khoảng cách xa bao nhiêu, sẽ vạch ra một đường thẳng tuyệt đối.

Nhưng trong không gian Einstein, ánh sáng đi từ A đến B nói chung sẽ không thẳng, mà cong, cong theo những tính chất của hình học Riemann đã mô tả, vì không gian của Einstein không trống rỗng, mà lấp kín vật chất. Độ cong được xác định theo mật độ vật chất ở khu vực mà ánh sáng đi qua. Mật độ vật chất càng lớn thì độ cong càng lớn. Tại sao vậy? Vì theo lý thuyết hấp dẫn, vật chất càng lớn thì lực hấp dẫn càng lớn. Khu vực nào vật chất có mật độ tập trung lớn thì ánh sáng đi qua khu vực đó sẽ bị cong theo độ cong của không gian. Các thí nghiệm và quan sát thiên văn kể từ năm 1919 đến nay đã xác định những tiên đoán của Einstein là hoàn toàn đúng.

Tóm lại, thuyết hấp dẫn của Einstein, tức Thuyết tương đối tổng quát (hoặc thuyết tương đối rộng), vừa là hình học vừa là vật lý. Về mặt triết học, Einstein khác hẳn Newton ở chỗ không chấp nhận có không gian trống rỗng và do đó không có không gian Euclid tuyệt đối.

Hình học Euclid chỉ đúng trong những không gian có khoảng cách nhỏ, cũng như Cơ học Newton chỉ đúng trong những hiện tượng vật lý có tốc độ nhỏ (so với ánh sáng). Hình học Euclid có thể xem như một trường hợp đặc biệt của Hinh học Phi Eulcid hoặc Hình học Riemann khi không gian có kích thước nhỏ. Cơ học Newton cũng có thể xem như một trường hợp của Thuyết tương đối của Einstein khi không-thời-gian được xét trong phạm vi kích thước nhỏ và các vật thể chuyển động với tốc độ nhỏ so với ánh sáng.

Về bản chất của lực hấp dẫn, nó là tương tác giữa những vật chất có khối lượng. Công thức F = ma đã cho thấy điều đó. Vì thế muốn biết bản chất của lực hấp dẫn thì phải biết bản chất của khối lượng. Ngày xưa người ta dạy trẻ em rằng khối lượng là mức độ đo lượng vật chất chứa trong vật thể. Nhưng với sự phát triển của khoa học, định nghĩa ấy bị xem là mơ hồ. Trong nửa đầu thế kỷ 20, Cơ học lượng tử ra đời nghiên cứu các hạt cơ bản, khám phá ra rằng có hạt có khối lượng, có hạt không. Nếu vậy thì khối lượng phải là một đặc tính do một hạt nào đó gây ra. Năm 1964, nhà vật lý người Anh Peter Higgs, bằng toán học, tiên đoán sự tồn tại tất yếu của một hạt thuộc loại boson có nhiệm vụ truyền khối lượng cho các hạt khác. Trong một thời gian rất dài giới vật lý mòn mỏi chờ đợi việc xác nhận sự tồn tại của boson đó. Nhất thiết phải có một loại boson như thế thì mới có thể giải thích được bản chất của khối lượng, tức là bản chất của hấp dẫn. Ban đầu nó được gọi tên là Higgs boson, theo tên của người tiên đoán sự tồn tại của nó. Nhưng vì sự tồn tại của Higgs boson thiết yếu đến mức Leon Lederman, một nhà vật lý đoạt Giai Nobel năm 1988, đã phải nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của nó bằng cách gọi nó là “Hạt của Chúa”. Mãi đến năm 2012, tức là 48 năm sau kể từ khi Higgs boson được tiên đoán tồn tại, Trung tâm hạt nhân Âu Châu, CERN, với máy gia tốc khổng lồ LHC đặt tại biên giới Pháp-Thụy sĩ mới tìm ra “Hạt của Chúa”. Đó là một chiến công vang dội của vật lý hiện đại. Nhiều người muốn ăn mừng vì nghĩ rằng có lẽ sắp đến ngày vật lý học ca khúc khải hoàn với việc tìm thấy những bí mật cuối cùng của vật lý học. Nhưng nhà vật lý Phạm Xuân Yêm, GS vật lý lý thuyết tại Đại học Marie Curie ở Pháp đặt câu hỏi: “Hạt Higgs đóng vai trò truyền khối lượng cho các hạt khác, nhưng bản thân Hạt Higgs cũng có khối lượng? Vậy ai truyền khối lượng cho Hạt Higgs?”. Câu hỏi này là một thí dụ tuyệt vời để minh họa cho một câu châm ngôn triết học thâm thúy của Immanuel Kant từ thế kỷ 18:

“Mỗi câu trả lời lại làm dấy lên một câu hỏi mới”.

Vì thế hôm nay chúng ta có thể biết rõ hơn trước đây, cụ thể là trước năm 2012, về bản chất của lực hấp dẫn, nhưng có lẽ chúng ta sẽ KHÔNG BAO GIỜ biết được bản chất cuối cùng của nó là gì.

Đó là điều Định lý Gödel đã nói với chúng ta từ năm 1931.

Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn ông Hà Văn Thọ, vì ý kiến trao đổi của ông đã tạo cảm hứng cho bài viết này.

PVHg 12/12/2017

 

Advertisements

10 thoughts on “A Precious Comment / Một Ý kiến Quý báu

  1. Một cái máy vi tính dù phức tạp đến đâu cũng chỉ ở vào một trong hai trạng thái: nếu không mở thì tắt, nếu không tắt thì mở. Còn tâm lý của con người phức tạp hơn: có khi chúng ta buồn, cũng có khi vui, nhưng cũng có khi không buồn cũng không vui, lại cũng có khi vừa vui vừa buồn
    Máy móc và robot chỉ có thể smart hoặc intelligent chứ không baog giờ wisdom hay wise như con người được

    Còn thuyết tiến hóa thì không biết nên gọi nó là ngụy khoa học ( pseudoscience ) hay là dở khoa học ( bad science ) đây ? Phải chăng là cả 2 ?

    Số lượt thích

    • Cám ơn bạn Slam,
      Ý kiến của bạn rất hay! Riêng Thuyết tiến hóa mà gọi nó là “dở khoa học” (bad science) có lẽ chưa chính xác, bởi vì nó là zero về khoa học (non scientific) và thậm chí là phản khoa học (anti-scientific).
      Có một số người nói với tôi, rằng Thuyết tiến hóa nói chung là sai, nhưng vẫn có những phần đúng. Tôi hỏi cái gì đúng, họ trả lời: “Sinh vật có khả năng biến đổi để thích nghi với môi trường là đúng”. Tôi trả lời:
      Đúng là sinh vật có khả năng biến đổi để thích nghi với môi trường, NHƯNG:
      – Sự biến đổi để thích nghi là có GIỚI HẠN, thay vì vô hạn.
      – Giới hạn đó chính là biến đổi TRONG LOÀI, không thể có biến đổi để biến loài này thành loài khác. Vì loài được xác định bởi hệ gene cố định. Hai loài khác nhau được xác định bởi hệ gene khác nhau, không thể lai tạp.
      – Darwin đã sai lầm khi áp dụng tùy tiện nguyên lý biến đổi để thích nghi mà không phân biệt trong loài với khác loài. Thực tế ông chỉ quan sát được biến đổi trong loài, rồi TƯỞNG TƯỢNG SUY ĐOÁN ra sự biến đổi từ loài này thành loài khác. Đó chính là chỗ sai LỚN NHẤT của Darwin mà thiên hạ lại ca tụng cái sai lớn nhất thành “khám phá vĩ đại” nhất của Darwin, được đặt tên là sự tiến hóa, nhưng thực chất 100% chỉ là tưởng tượng bịa đặt, hoang đường, không hề có thực tế!
      – Vì thế việc áp dụng tùy tiện quy luật thích nghi chứng tỏ không hiểu rõ quy luật đó. Darwin chính là người áp dụng quy luật đó tùy tiện, vì không có một căn cứ thực tế nào cả.
      – Vả lại, vấn đề biến đổi để thích nghi ko phải của thuyết tiến hóa, vì trước Darwin nhiều người đã nói rồi.
      PVHg

      Liked by 2 people

  2. Thân gửi anh Phạm Việt Hưng
    Trước hết cảm ơn anh đã có những lời tốt đẹp ưu ái dành cho tôi.
    Nhân đây, tôi muốn thêm vài lời về lý do tại sao tôi không tin vào lý thuyết của Darwin. Như tôi đã có lần tâm sự, nghề nghiệp của tôi gần như không liên quan gì đến Toán – Lý – Sinh. Kiến thức khoa học tự nhiên của tôi cũng chỉ bó hẹp trong những gì mà nhà trường phổ thông hệ 10 năm đã truyền thụ cách đây gần 60 năm. Tuy nhiên, những niềm say mê yêu thích từ thời trẻ trong tôi không bao giờ tắt. Chỉ hiềm năng lực rất rất có hạn cho nên tôi luôn tự coi mình chỉ là chú bé chăn trâu ngước nhìn lên đỉnh núi nơi các vị thần trí tuệ đang đàm đạo để mà “kính nhi viễn chi” mà thôi.
    Trở lại câu chuyện của chúng ta: Năm 1952, đang học lớp 2 phổ thông, lần đầu tiên được nghe thầy giáo giảng rằng chúng ta sống trên một quả cầu vĩ đại có tên Trái Đất, được gọi là “hành tinh” tự quay quanh mình và quay quanh Mặt Trời đứng yên là một “định tinh”. Thật không thể nào hiểu nổi khi trước mắt mình là mặt đất mênh mông, bằng phẳng. Thêm nữa, nói rằng Trái Đất quay nghĩa là sẽ có lúc đầu mình lôn ngược xuống dưới, sẽ bị rơi ra ngoài mãi mãi? Thầy không nói gì về lực hấp dẫn của Newton mà chỉ đưa hình tượng con kiến bò trên quả bưởi, cũng như con người, nó không cảm nhận được quả bưởi tròn và cũng có lúc nó bị lộn ngược xuống dưới mà không rơi để minh họa sự việc.
    Năm lớp 8, tôi đươc biết thêm trục Trái Đất luôn nghiêng và xoay tròn theo hình phễu gọi là “Tuế Sai”, lập tức tôi liên tưởng đến con vụ (con quay) mà bọn trẻ hay chơi, nó cũng quay tít, lượn vòng và trục cũng giao động theo hình phễu. Phải chăng Trái Đất cũng là một con vụ mà ai đó đang chơi? Và đương nhiên, đến một ngày nào đó, nó cũng đổ kềnh như con vụ của bọn trẻ.
    Từ hai hình tượng sơ khai này, tôi cảm nhận thế giới ta đang sống thật là mong manh, phải có một thế lực nào đó nâng đỡ mới ổn định bền lâu được.
    Đến lớp 10, học về thuyết tiến hóa: từ vô cơ biến thành hữu cơ, từ hữu cơ biến thành chất sống, từ chất sống hình thành sự sống, từ sự sống sơ khai tiến dần lên thành con người. Quá trình này đều do ngẫu nhiên mà có. Còn một điều nữa là trong vũ trụ bao la có hàng tỉ tỉ hành tinh duy chỉ có Trái Đất là hội tụ đủ trăm nghìn điều kiện cực kỳ thuận lơi, cực kỳ chuẩn xác cho sự sống hình thành và phát triển như cấu trúc hóa học, khối lượng, tốc độ quay, độ nghiêng của trục, khoảng cách đến Mặt Trời, nhiêt đô, bầu khí quyển nước, thủy triều…cũng là do ngẫu nhiên mà có.
    Đã có lần tôi nghe một anh bạn “luận” về ngẫu nhiên như sau: nếu 7 tỉ người trên Trái Đất cùng chơi xổ số, tôi trúng độc đắc thì dù xác suất trúng đó là cực kỳ thấp nhưng sự kiện này vẫn có thể chấp nhận được là ngẫu nhiên. Song nếu chỉ có vài vạn người chơi mà tôi trúng số năm này sang năm khác thì không còn là ngẫu nhiên nữa mà dứt khoát có kẻ “chống lưng” ngầm. Trường hợp phức tạp hơn, giả dụ hôm nay tôi đánh rơi chiếc nhẫn trong vịnh Hạ Long, năm sau câu được con cá trong Vũng Tàu, mổ ra có chiếc nhẫn của tôi trong bụng nó thì đúng là chỉ có bàn tay của Thương Đế can thiệp mà thôi. Sự sống hình thành và phát triển trên một Trái Đất có trăm nghìn yếu tố thuận lợi có một không hai trong vũ trụ khôn cùng này cực kỳ hạn hữu và bí ẩn chẳng kém gì chuyện con cá và chiếc nhẫn, tứ nó phủ định sạch trơn thuyết tiến hóa tự nhiên của Darwin.
    Thật là ký lạ, có một danh họa thế kỳ 19 là Paul Gauguin đã từng tự vấn một câu hỏi muôn thuở “Chúng ta từ đâu đến? Chúng ta là gì? Chúng ta đi về đâu?” Tôi mới biết đến lời này của Gauguin chỉ mới khoảng 30 năm nay nhưng thực chất 1 ý nghĩ tương tự đến với tôi từ rất sớm và nó ảm ảnh tôi suốt cuộc đời. Có lẽ chỉ có ông Trời mới trả lời được.
    Về các phương trình vật lý, đương nhiên tôi không hiểu chúng. Nhưng tôi đoán chắc chẳng có phương trình nào lý giải được tận gốc sự vật tại sao lại thế này mà không phải là thế khác bởi đó là bí mật của tự nhiên. Làm sao biết hết “cơ trời”
    Không rõ có đúng như thế không? Mong được PVHg’s Home giải đáp. Xin cảm ơn

    Số lượt thích

  3. Qủa thật, học sinh ở Việt Nam học và biết quá ít trong khi đó lại vẫn bị quá tải. Cách dạy kiểu hiện tại khiến học sinh học thì ít và lại bị áp lực, thụ động. Trẻ em Việt Nam dường như đang bị ép lặp lại những gì người lớn nói chứ không phải là học kiểu tự nghiên cứu và tự bổ sung, sáng tạo. Cá nhân tôi thấy ” trường đời ” giúp người ta học được kỹ năng sống, học cách giao tiếp, đối nhân xử thế, vượt qua cảnh ngộ. Còn ” trường internet ” thì có lẽ khỏi phải bình luận rồi, nếu ai có trực giác và cái trí sáng suốt thì ắt sẽ tiếp cận được Chân Lý, sẽ học được bao điều hay, lẽ phải mà chưa chắc thầy cô hay ba mẹ mình đã dạy.
    Nhưng trường học thì dường như không đếm xỉa mấy, hoặc nếu có dạy thì cũng chỉ lướt qua. Còn đâu thì dường như trường học hơi quá chú trọng vào thành tích, điểm số. Học sinh gần như không được dạy nhiều về ĐẠO, hay cũng không được hiểu thế nào là nền khoa học, tri thức chân chính.
    Những vụ bạo lực học đường gần đây vẫn gia tăng. Có lần tôi cũng xem một clip quay một phụ huynh bức xúc khi con gái bị bạn đánh, phải đến tận trường để lên tiếng, và có một đoạn ông thốt lên rằng: ” Đây là học trường hay chiến trường ? “

    Số lượt thích

  4. Rất cảm ơn chú vì những khối kiến thức mới mẻ và khổng lồ trong những bài viết và cả những clip trên youtube , mặc dù không biết sâu về toán và vật lý nhưng ko hiểu sao cháu lại rất thích đọc những tác phẩm của chú , và cảm nhận được nó , thực sự cháu từ rất lâu từ hồi còn bé tí rất ám ảnh về bản chât của cái chết , và cả những thứ vô hạn , khi nghĩ về nó là cháu thấy thảng thốt , hoang mang và bất lực . trước đây cháu là người vô thần 100% , cháu cũng là người tin tuyệt đối vào khoa học và sự xác định , nhưng gần đây cháu tình cờ đọc được cuốn ” thiết kế vĩ đại ” của stephen hawking mặc dù không thực sự hiểu đc hết , rồi sau đó lại tình cờ đọc đc những bài viết và xem clip của chú thì cháu cảm thấy như không gian nhận thức của mình được mở rộng và rõ ràng hơn rất nhiều , quan trọng hơn là cháu dần cảm thấy không còn sợ 2 điều trên nữa mỗi khi nghĩ về chúng , vì cháu dần cảm nhận được sự hiện hữu của đấng sáng tạo , cháu thấy thế giới không còn lạnh lùng , đơn độc và vô cảm như trước nữa ạ ! Hiện tại cháu không biết mình lên gia nhập và theo tôn giáo nào không ! ? mặc dù hằng đêm cháu vẫn nghĩ về ” Đấng ” với sự biết ơn và một cảm giác tôn kính yêu thương thực sự !
    Gần đây trước mỗi bài báo , mỗi xu hướng xã hội , hay những dòng tranh luận phân bua không hồi kết cháu cũng đã thực sự có những câu trả lời rất công bằng và trung dung cho riêng mình ! Cháu cũng đang cố tìm hiểu , phân tích và cảm nhận một hiện tượng rất lạ mà đang hots hiện tại đó là bitcoin ( chỉ tự thử sức với tu duy và chí tò mò của mình thôi , chứ cháu ko có ý định tham gia ) nhưng trực giác của cháu thì cho rằng bitcoin là sự cách mạng lớn là sự khởi đầu cho tương lai một thế giới đại đồng thực sự , một ngôi nhà chung cho cả thế gioi trong tương lai , nhưng bằng lý lẽ và kinh nghiệm thì lại có vẻ như chỉ ra đó là một trò bịp lớn . và cháu để ý trên thế giới hầu như cũng có 2 luồng ý kiến như vậy mà lạ là lại xuất phát từ những ý kiến của những con người có kiến thức rất uyên thâm và tầm cỡ trên thế giới , còn ở việt nam số đông những người tham gia thì tâm lý đám đông và tham lam thì cháu không xét đến . thật sự đây là vấn đề rất thú vị để kiểm tra trực giác , qua tìm hiểu sơ bộ thì cháu đc biết đằng sau bitcoin là những công nghệ rất tiên tiến về thuật toán , bảo mật , và lý thuyết thông tin , liệu rằng chúng ta có thể áp dụng đc định lý bất toàn và lý thuyết thông tin để tìm ra bản chất của nó ở thời điểm hiện tại không chú ? Rất vui nếu được chú đọc và tư vấn cho cháu thêm về những suy tư lựa chọn một tôn giáo cũng như những câu hỏi thú vị xung quanh hiện tại của chúng ta ạ ! Cảm ơn chú nhiều ạ !

    Số lượt thích

  5. Chào bác ạ.

    Cháu trình độ tiếng anh thấp nên không tự đọc các tài liệu tiếng anh để kiểm chứng được, mong bác điều tra giúp ạ:

    http://khoahoc.tv/them-hai-ky-tu-moi-vao-bo-ma-gene-89646

    Nếu đây không phải là lừa đảo (khoahoc.tv chuyên đưa tin giật gân câu view còn bản thân nature.com cũng bị chỉ trích là lá cải không ít) thì bác có suy nghĩ gì về việc họ đã có khả năng lập trình được mã DNA ạ?

    Phiền bác thêm nữa ạ:

    http://genk.vn/cac-nha-khoa-hoc-tim-ra-gen-gay-hoi-mieng-lieu-no-co-lien-quan-den-ung-thu-hay-khong-20171220173355886.chn

    Các báo lá cải việt nam chuyên đưa những tin giật tít thế này (báo nước ngoài cũng không ít, ở đâu thì cũng muốn câu view bất cần đưa tin trung thực). Chúng có cơ sở khoa học gì không hay là đoán bừa, phán bậy gây ra hoang mang cho mọi người ạ? Cháu nghĩ mã gen là thứ rất phức tạp, đâu có dễ phân tích được các mối liên hệ dây mơ rễ má chằng chịt giữa chúng phải không ạ? Giờ đây chỉ dựa vào nghiên cứu sơ sài mà phán bậy thì quả là phi đạo đức.

    Cháu cảm ơn bác ạ. Chúc bác giáng sinh an lành bên gia đình và bạn bè.

    Số lượt thích

    • Cám ơn cháu semsucsic,
      Bác tán thành với cháu là hiện nay có rất nhiều báo lá cải với tin lá cải. Trong thời đại thông tin, con người sẽ ngu hơn nếu không có đủ trực giác sáng suốt để chắt lọc thông tin.
      Thí dụ, nếu ai đó dám bảo khoa học có thể lập trình mã DNA thì bác nghĩ người đó hoặc điên hoặc “ngu vô hạn” đúng như Einstein nói. Hoặc tin cá tiến hóa thành loại lưỡng cư, bò sát tiến hóa thành chim, động vật có vú tiến hóa thành cá voi, vượn tiến hóa thành người,… cũng tương tự mà thôi.
      Hơn bao giờ hết, trực giác trở thành tài sản quý nhất, đúng như Einstein nói: “Trực giác là thứ duy nhất thực sự có giá trị”.
      Người có trực giác tốt sẽ biết bài báo nào đáng đọc, bài báo nào nên bỏ vào Rubbish Bin. PVHg

      Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s