NTM 53 | Những suy tưởng triết học (2)

 

Hệ TIÊN ĐỀ MỚI

Giải Mã các Hiện Tượng SIÊU HÌNH

Giải Mã Bí Ẩn Nhân Loại T5 P2/2

Nguồn: https://www.youtube.com/@NhanThucMoi/videos

3 thoughts on “NTM 53 | Những suy tưởng triết học (2)

  1. Thầy kính !

    Con đã viết xong Comment mà Thầy đã gợi ý ngày hôm qua và con cũng đã đưa vào phần Bình Luận tại TRANG NHÀ của Thầy và tại phần Bình Luận dưới Video Talk-show của Thầy trên kênh Nhận Thức Mới tại YouTube.

    Con sẽ viết Commment KHÁC về Các Tiên Đề Triết Học Khoa Học của Thầy đầy đủ như lần trước, sau khi con viết xong con sẽ đưa vào TRANG NHÀ của Thầy ạ.

    Sau đây là Comment con vừa mới viết xong và đã đưa vào phần Bình Luận tại TRANG NHÀ và tại kênh Nhận Thức Mới ở YouTube như con đã nói trên.

    NỀN TẢNG TRIẾT HỌC tức TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC chính là NỀN TẢNG của khoa học.

    Sự phát minh ra các Tư Tưởng Triết Học Khoa Học mới khai sinh ra các Khoa Học, nói cách khác, BÊN DƯỚI các lý thuyết Khoa Học, Tư Tưởng Triết Học Khoa Học mới là NỀN TẢNG kiến tạo (xây dựng, sáng tạo) nên các Khoa Học ở Tây phương.

    Tư Tưởng Triết Học Khoa Học lại đến từ TRỰC GIÁC (INTUITION) và sự kết hợp với TRÍ TƯỞNG TƯỢNG (IMAGINATION).

    Tư Duy Toán Học, Tư Duy Luận Lý (Tư Duy Logic), Tư Duy Lý Luận (Reasoning) phân tích (analysis) và tổng hợp (synthesis) chỉ là để miêu tả (description) lại các Thực Thể (Entity, Entities) của Thế Giới (The World) và Thực Tại (Reality) sống động mà Tư Tưởng con người Trực Giác (Trực: thẳng, ngay tức thì, Giác: nhận biết) được.

    Ví dụ: trong Toán Học, ở Việt Nam và nhiều nước khác dạy Toán thành những Tiến Sĩ THỢ GIẢI TOÁN nghĩa là nói đến Toán Học là CẮM ĐẦU XUỐNG GIẤY GIẢI TOÁN.

    Trong khi vấn đề CỐT LÕI là TƯ TƯỞNG KHOA HỌC (SUY TƯ TRIẾT HỌC KHOA HỌC) mới là NỀN TẢNG VẤN ĐỀ, nghĩa là đào tạo ra những NHÀ TƯ TƯỞNG TOÁN HỌC để phát minh ra các ngành Toán Học.

    Tương tự, các ngành khoa học xã hội chỉ đào tạo ra Tiến Sĩ THỢ NGHIÊN CỨU chứ không đụng đến NỀN TẢNG của khoa học chính là NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG KHOA HỌC hay NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC KHOA HỌC.

    Ví dụ: trong Ngôn Ngữ Học, người ta chỉ đào tạo ra các học vị bằng cấp (Thạc Sĩ, Tiến Sĩ) Ngôn Ngữ Học, mà không nói đến nguồn gốc dẫn đến sự phát triển và hình thành các trường phái Ngôn Ngữ Học hiện đại ở Âu Mỹ xuất phát từ các học phái Tư Tưởng Triết Học Âu Mỹ hiện đại là phái Triết Học Phân Tích (The Analytical Philosophy) khai sinh ra Triết Học Ngôn Ngữ (The Language Philosophy) với những đại biểu lớn đồng thời cũng là những nhà Ngôn Ngữ Học ở Âu Mỹ, Khoa Học Nhận Thức (The Cognition Science) và Ngôn Ngữ Học Nhận Thức (The Cognitive Linguistics) mà chúng vốn phát xuất từ phái Thực Chứng Luận (Positivism) trong truyền thống tư duy Triết Học Khoa Học Tây phương ở Âu Mỹ.

    Các Tư Tưởng Triết Học Khoa Học của Giáo sư Phạm Việt Hưng thật sự rất vững chãi về mặt lý luận và thực tiễn để xây dựng một THẾ GIỚI QUAN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC và một THẾ GIỚI QUAN NHÂN SINH vững vàng và nên được phổ biến cho giới học Tây phương Âu Mỹ biết rằng không phải Âu Trung Luận (European-Centerism: Thuyết Âu châu là Trung Tâm) mới có Tư Tưởng Triết Học Khoa Học.

    Giuse Lê Long

    Sài Gòn, Chúa Nhật, ngày 07 tháng 12 năm 2025 lúc 02:50 P.M.

    Thích

  2. Tiên Đề Triết Học Khoa Học (Tiếp theo)

    (Trình bày: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến sĩ Toán Học, kênh Nhận Thức Mới, thứ Sáu 05 tháng 12/2025.)

    11. Thông tin là một thực thể phi vật chất tồn tại độc lập với vật chất và Thông tin không phải là THUỘC TÍNH của vật chất, vật chất chỉ là một trong nhiều hình thức / phương tiện mà Thông tin VAY MƯỢN và SỬ DỤNG để biểu hiện ra ngoài cho con người nhận biết.

    Não bộ không tạo ra ý thức, Não bộ chỉ giống như một cái van giảm áp hay máy lọc. và bộ hạn chế có tác dụng điều chỉnh ý thức phi vật chất mà chúng ta có được trong những thế giới phi vật chất rộng lớn thành một loại ý thức có dung lượng hạn chế trong hiện thực cuộc sống nhỏ bé.

    THÔNG TIN CÓ TRƯỚC VẬT CHẤT, Ý THỨC CÓ TRƯỚC, VẬT CHẤT CÓ SAU, Ý THỨC QUYẾT ĐỊNH VẬT CHẤT, Ý THỨC KHÔNG PHẢI LÀ THUỘC TÍNH CỦA VẬT CHẤT, TRƯỚC KHI VẬT CHẤT ĐƯỢC HÌNH THÀNH, CẦN PHẢI CÓ BẢN THIẾT KẾ MÔ HÌNH CẤU TẠO CỦA VẬT CHẤT, BỞI MỌI VẬT KHÔNG HÌNH THÀNH NGẪU NHIÊN, NGẪU NHIÊN LÀ VÔ TRẬT TỰ VÀ HỖN LOẠN, TRẬT TỰ CHÍNH LÀ QUY LUẬT TẤT YẾU CỦA MỌI HIỆN TƯỢNG SỰ VẬT TRONG VŨ TRỤ.

    Thông tin biểu lộ qua vật chất là khái niệm thứ nhất, Thông tin tồn tại độc lập với vật chất là khái niệm thứ hai, hai khái niệm ấy khác nhau.

    Phải nhấn mạnh cái điều đó là bởi vì nhiều người thấy rằng thông tin biểu lộ qua vật chất, cho nên có ý nghĩ cho rằng thông tin là một cái gì nó gắn chặt với vật chất. Nhưng vì không thể nói thông tin là vật chất được cho nên những người ấy hình thành một khái niệm trong đầu là thông tin là một thuộc tính của vật chất.

    Định luật tồn tại khách quan, dù con người có khám phá ra hay không khám phá thì nó vẫn cứ tồn tại; từ khi có vũ trụ thì thông tin đã tồn tại rồi.

    Thông tin tồn tại một cách độc lập, vốn có rồi, con người có biết Thông tin tồn tại hay không lại là chuyện khác, Thông tin biểu lộ qua vật chất cho con người biết, nếu Thông tin không muốn cho con người biết, nó chẳng cần phải lộ ra với con người làm gì cả.

    Hiện nay đang tồn tại những Thông tin mà con người không biết, rất nhiều bí mật mà con người chưa biết hoặc là thậm chí không bao giờ biết nhưng Thông tin vẫn tồn tại.

    Ai tin rằng con người có thể biết được tất cả mọi sự, người đó ngây thơ quá.

    Định Lý Bất Toàn (Toán Học) của Kurt Gödel (Kurt Gödel’s Incompleteness Theorems) khẳng định rằng có những sự thật con người sẽ vĩnh viễn không bao giờ giải thích được, nhưng sự thật vẫn đang tồn tại.

    Do đó Thông tin độc lập với vật chất mặc dù Thông tin có thể biểu lộ thông qua các vật chất cho con người biết.

    VẬT CHẤT LÀ PHƯƠNG TIỆN MÀ THÔNG TIN BIỂU LỘ QUA ĐÓ, hoặc, THÔNG TIN CÓ THỂ BIỂU LỘ BẰNG CÁC HÌNH THỨC PHƯƠNG TIỆN KHÁC.

    Ý THỨC TỒN TẠI ĐỘC LẬP VỚI VẬT CHẤT VÀ CÓ TRƯỚC VẬT CHẤT, Ý THỨC KHÔNG PHẢI LÀ THUỘC TÍNH CỦA VẬT CHẤT.

    TƯ TƯỞNG VÀ CẢM XÚC CỦA CON NGƯỜI CÓ THỂ ĐƯỢC BIỂU HIỆN BẰNG NHIỀU HÌNH THỨC, NGÔN NGỮ LÀ MỘT TRONG NHIỀU PHƯƠNG TIỆN MÀ TƯ TƯỞNG VÀ CẢM XÚC DÙNG ĐỂ BIỂU HIỆN, NHƯ HỘI HỌA, ÂM NHẠC, TOÁN HỌC, ĐIÊU KHẮC, KÝ HIỆU, v.v.

    TINH HOA TƯ TƯỞNG trong Tiên Đề 11 là đã TRIỆT TIÊU DUY TÂM LUẬN NGAY TỪ BAN ĐẦU để tiến đến SỰ TOÀN TRIỆT phái DUY VẬT LUẬN, Tiên Đề này đã cho thấy sự SAI LẦM lớn nhất của Triết Học hiện đại là phân lập DUY VẬT và DUY TÂM.

    Từ Tiên Đề của Khoa Học Gia người Đức Werner Gitt (1937 – nay) chính là nhan đề tác phẩm của Werner Gitt “In the Beginning was Information” (“Tự Khởi Nguyên đã là Thông Tin”), ta đã đi đến được một Tiên Đề Tư Tưởng Triết Học Khoa Học triệt để nhất.

    Nghĩa là, với Tiên Đề THÔNG TIN, đi đến khái niệm Bản Thiết Kế, và tác giả Bản Thiết Kế, đã làm sụp đổ hoàn toàn Duy Tâm Luận (Idealism) trước khi đi tới TOÀN TRIỆT Duy Vật Luận (Materialism) và Duy Vật Luận KHÔNG CÒN ĐƯỜNG SỐNG SÓT vì Duy Tâm Luận đã bị chết ngay từ đầu không có đất sống  thì Duy Vật Luận cũng không còn chỗ dựa để công kích mà xây dựng nền tảng cho mình.

    Vậy thì Triết Học của Triết gia Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1830) có tính Tiên Nghiệm (Transcendental: Siêu Nghiệm) VƯỢT QUA Tư Tưởng của Triết gia Đức Immanuel Kant (1724 – 1804) cho rằng VẬT TỰ NÓ = THING IN ITSELFT và Bất Khả Tri Luận (Agnosticism) nghĩa là Immanuel Kant cho rằng con người KHÔNG THỂ TIÊN NGHIỆM, trong khi Hegel tuyên bố Tiên Nghiệm của ông rằng TINH THẦN TUYỆT ĐỐI (THE ABSOLUTE SPIRIT) mới là nội dung vừa có tính chất TIÊN KHỞI vừa có tính chất TỐI HẬU (CUỐI CÙNG) của vũ trụ và đó là một Tiên Đề MỞ với một Vũ Trụ Quan MỞ BIẾN HÓA VÔ TẬN CÙNG.

    CÁC PHÁT BIỂU TRÍCH DẪN CHO TIÊN ĐỀ 11

    Bàn về Tri Thức Luận còn gọi là Nhận Thức Luận (Epistemology) là một bộ phận tri thức trong Triết Học (Philosophy) Tây phương, Khổng Tử cũng có những câu nói khiến người ngày nay (những con người còn lương tâm và lương tri đạo đức) cũng phải cúi đầu suy nghĩ:

    知之為知之, 不知為不知, 是知也 (論語 – 為政)

    Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã (Luận Ngữ – Vi Chính)

    Biết (thì nói) là biết, không biết (thì nói) là không biết, thì (chính) là biết vậy.

    KHÔNG BÀN NHỮNG CHUYỆN KHÔNG THỂ BIẾT VÀ KHÔNG THỂ CHỨNG MINH ĐƯỢC VÌ KHÔNG CÓ LỢI ÍCH THIẾT THỰC GÌ mà đây là lấy ý từ nguyên văn của Khổng Tử trong sách Luận Ngữ, thiên Tử Lộ.

    子不語怪、力、亂、神。(論語,子路)

    Tử bất ngữ quái, lực, loạn, thần. (Luận Ngữ, [thiên] Tử Lộ)

    Khổng Tử không bàn đến chuyện quái dị, bạo lực, loạn lạc, và quỷ thần.

    Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế giảng Phật Pháp, nhiều môn đệ hỏi ngài:

    “Bạch Thầy, có Thượng Đế sáng tạo vũ trụ muôn loài chăng?”

    Đức Phật nhắm mắt không trả lời, hỏi mãi ngài phải mở mắt ra mà nói:

    “Thượng Đế có hay không thì không liên quan đến quá trình tu học …” và  “Những gì ta giảng dạy chỉ là nắm lá trong bàn tay của ta, trong khi trong rừng thì muôn cành lá.”

    Các nhà khoa học tiên phong đều là người sùng đạo:

    Roger Bacon (thế kỷ 13): Đề cao quan sát và thí nghiệm, Tu sĩ dòng Francisco

    Nicolaus Copernicus: Thuyết nhật tâm, Linh mục Công giáo

    Johannes Kepler: Quỹ đạo hành tinh elip, Tin rằng “Chúa viết toán học vào vũ trụ”

    Isaac Newton: Cơ học cổ điển, Tận hiến cả đời cho nghiên cứu Kinh Thánh

    Gregor Mendel: Di truyền học, Tu sĩ dòng Augustino

    (1) Isaac Newton (1643–1727) — cha đẻ của Cơ Học Cổ Điển

    “This most beautiful system of the sun, planets, and comets could only proceed from the counsel and dominion of an intelligent and powerful Being.”Isaac Newton, Principia Mathematica, 1687.

    “Cái hệ thống tuyệt mỹ của Mặt Trời, các hành tinh và sao chổi này chỉ có thể được tạo nên bởi ý chí và quyền năng của một Đấng Thông Tuệ Toàn Năng.” Isaac Newton, Nguyên Tắc Toán Học, ấn bản năm 1687.

    Newton coi việc khám phá quy luật vật lý là khám phá tác phẩm của Thượng Đế.

    (2) Johannes Kepler (1571–1630) — người tìm ra quỹ đạo elip của hành tinh

    “I was merely thinking God’s thoughts after Him.”Johannes Kepler, Letter to Michael Maestlin, 1595.

    “Tôi chỉ đang suy nghĩ lại những ý nghĩ của Thượng Đế sau Ngài.”Johannes Kepler, Lá Thư gửi Michael Maestlin, ấn bản năm 1595.

    Kepler xem toán học và thiên văn là cách con người tiếp cận tư tưởng của Đấng Sáng Tạo.

    (3) Robert Boyle (1627–1691) — cha đẻ của Hóa Học Hiện Đại

    “When with bold telescopes I survey the old and newly discovered stars and planets, I find myself transported by wonder to the Author of all this beauty.”Robert Boyle, Works, Volumn 8, 1772.

    “Khi dùng kính viễn vọng để khảo sát những vì sao và hành tinh, tôi bị cuốn hút bởi sự kinh ngạc đến với Đấng đã sáng tạo nên tất cả vẻ đẹp này.”Robert Boyle, Các Tác Phẩm, Tập. 8, ấn bản năm 1772.

    Boyle xem “Nghiên cứu khoa học là hành vi tôn vinh Đấng Tạo Hóa” (“The study of the Booke of Nature, is one of the Ends of the Institution of the Sabbath.”)

    (4) Louis Pasteur (1822–1895) — người sáng lập Vi Sinh Học

    “The more I study nature, the more I stand amazed at the work of the Creator.”Louis Pasteur, quoted in René Vallery-Radot, The Life of Pasteur, 1902.

    “Càng nghiên cứu thiên nhiên, tôi càng kinh ngạc trước công trình của Đấng Sáng Tạo.”Louis Pasteur, trích lục trong René Vallery-Radot, Cuộc Đời Pasteur, ấn bản năm 1902.

    Pasteur là người Công giáo sùng đạo, xem khám phá khoa học là một dạng tôn kính Thiên Chúa.

    (5) Albert Einstein (1879–1955) — cha đẻ Thuyết Tương Đối

    “Science without religion is lame, religion without science is blind.”Albert Einstein, Science, Philosophy and Religion, 1941.

    “Khoa học không có tôn giáo thì què quặt; tôn giáo không có khoa học thì mù lòa.”Albert Einstein, Khoa Học, Triết Học và Tôn Giáo, ấn bản năm 1941.

    Dù không theo tôn giáo cụ thể, Einstein tin rằng tinh thần tôn giáo – niềm tin vào trật tự và ý nghĩa của vũ trụ – là nền tảng của khoa học.

    (6) Max Planck (1858–1947) — người cha đẻ Cơ Học Lượng Tử

    “Both religion and science require a belief in God. For believers, God is in the beginning, and for physicists, God is at the end of all our considerations.”Max Planck, Religion and Natural Science, 1937.

    “Cả tôn giáo lẫn khoa học đều đòi hỏi niềm tin vào Thượng Đế. Với người có đạo, Ngài ở khởi đầu; với nhà vật lý, Ngài ở cuối cùng của mọi suy tưởng.”Max Planck, Religion and Natural Science, ấn bản năm 1937.

    Max Planck coi Thượng Đế là nguyên lý cuối cùng thống nhất khoa học và tôn giáo.

    “Die Naturwissenschaft braucht der Mensch zum Erkennen, die Religion aber braucht er zum Handeln.” – Max Planck (1858 – 1947)

    “Man needs natural science for knowledge, but he needs religion for action.” – Max Planck (1858 – 1947)

    “Con người cần khoa học tự nhiên để nhận thức, nhưng con người cần tôn giáo để hành động.” – Max Planck (1858 – 1947)

    (7) Francis Bacon (1561–1626) — cha đẻ của phương pháp khoa học thực nghiệm

    “A little philosophy inclineth man’s mind to atheism; but depth in philosophy bringeth men’s minds about to religion.”Francis Bacon, Essays: “Of Atheism”, 1601.

    “Triết học nông cạn dễ khiến con người nghiêng về vô thần; nhưng hiểu sâu triết học lại đưa tâm trí con người trở về với tôn giáo.”Francis Bacon, Tập Luận Văn: “Bàn Về Chủ Nghĩa Vô Thần”, ấn bản 1601.

    Bacon cho rằng càng hiểu sâu quy luật tự nhiên, con người càng nhận ra sự hiện diện của Thượng Đế.

    (8) Galileo Galilei (1564–1642) — cha đẻ của Khoa Học Quan Sát

    “The laws of nature are written by the hand of God in the language of mathematics.”Galileo Galilei, Letter to the Grand Duchess Christina, 1615.

    “Các quy luật của tự nhiên được bàn tay của Thượng Đế viết ra bằng ngôn ngữ toán học.”Galileo Galilei, Thư Gửi Nữ Công Tước Cao Quý Christina, ấn bản 1615.

    Galileo xem khoa học là đọc bản kinh của Thượng Đế viết trong thiên nhiên.

    (9) James Clerk Maxwell (1831–1879) — người đặt nền móng Điện Từ Học

    “I think men of science as well as other men need to learn from Christ, and I think Christians whose minds are scientific are bound to study science that their view of the glory of God may be as extensive as their being is capable.”Letter from Maxwell to a friend, 1855.

    “Tôi nghĩ các nhà khoa học cũng như bao người khác cần học từ Đức Kitô; và các Kitô hữu có tâm trí khoa học phải nghiên cứu khoa học để tầm nhìn về vinh quang Thiên Chúa của họ được rộng bằng chính năng lực con người.”Thư từ Maxwell gửi một người bạn, ấn bản năm 1855.

    (10) Nicholas Copernicus (1473–1543) — người khai sinh Thuyết Nhật Tâm

    “To know the mighty works of God, to comprehend His wisdom and majesty and power; to appreciate, in degree, the wonderful workings of His laws — surely all this must be a pleasing and acceptable mode of worship to the Most High.”Nicolaus Copernicus, De revolutionibus orbium coelestium, 1543.

    “Được biết đến những công trình vĩ đại của Thượng Đế, hiểu sự khôn ngoan, uy nghi và quyền năng của Ngài, nhận ra sự vận hành kỳ diệu của luật pháp Ngài — đó hẳn là một hình thức thờ phượng đẹp lòng Đấng Tối Cao.” Nicolaus Copernicus, Về Sự Chuyển Động Của Các Tinh Cầu, ấn bản năm 1543.

    Các nhà tư tưởng Thiên Chúa giáo tin rằng:

    “Vũ trụ là sản phẩm của một Thiên Chúa hợp lý — nên có thể được hiểu bằng lý trí.”

    Chính niềm tin này khiến họ tìm kiếm quy luật tự nhiên, vì họ tin Thiên Chúa không hành động hỗn loạn, mà theo trật tự nhất định.

    Robert Boyle (cha đẻ của hóa học hiện đại) nghĩ rằng

    “And when with excellent Microscopes I discern in otherwise invisible Objects – the Inimitable Subtlety of Nature’s curious workmanship; And when, in a word, by the help of Anatomicall Knives, and the light of Chymicall Furnaces, I study the Book of Nature, and consult the Glosses of Aristotle, Epicurus, Paracelsus, Harvey, Helmont, and other learn’d Expositors of that instructive Volumne; I find my self oftentimes reduc’d to exclaim with the Psalmist, ‘How manifold are thy works, O Lord!’.”The Excellency of Theology, compared with Natural Philosophy,1674.

    Và khi, nhờ những Kính Hiển Vi tuyệt hảo, tôi nhận thấy trong các Vật Thể vốn vô hình đối với mắt thường – sự tinh vi vô song trong tay nghề kỳ diệu của Tự Nhiên; Và khi, nói ngắn gọn, nhờ dao giải phẫu, và ánh sáng từ các Lò Luyện Hóa Học, tôi chuyên tâm khảo cứu Quyển Sách của Tự Nhiên, đồng thời tra cứu những chú giải của Aristotle, Epicurus, Paracelsus, Harvey, Helmont cùng các học giả uyên bác khác – những người chú giải quyển sách dạy dỗ đó; thì tôi thường thấy mình không thể không thốt lên cùng với Thi Thiên rằng: ‘Lạy Chúa, công trình của Ngài thật muôn phần kỳ diệu!’.” – tác phẩm Sự Cao Quý của Thần Học, So Sánh với Triết Học Tự Nhiên, ấn bản năm 1674.

    Isaac Newton nghĩ rằng

    “He rules all things, not as the soul of the world, but as Lord over all; and on account of His dominion He is wont to be called Lord God παντοκράτωρ, or Universal Ruler; for God is a relative word, and has reference to servants.”Isaac Newton, General Scholium, Principia Mathematica, 1713 / 1726 Editions.

    “Thiên Chúa cai quản muôn vật, không phải như linh hồn của thế giới, mà như Chúa Tể của toàn thể vũ trụ; và bởi quyền tể trị ấy, Ngài được gọi là Đức Chúa Trời Toàn Năng (παντοκράτωρ, Pantokratōr — Đấng Cai Trị Muôn Loài). Vì ‘Thiên Chúa’ là một danh xưng mang tính tương quan, chỉ có ý nghĩa khi được nói đến trong mối liên hệ với các tôi tớ của Ngài.Isaac Newton, Chú Giải Tổng Quát, Các Nguyên Lý Toán Học Của Triết Học Tự Nhiên, các ấn bản năm 1713 – 1726.

    12. Thông tin là một thực thể phi vật chất nhưng có khả năng điều hành vật chất.

    Thông tin là một thực thể phi vật chất, có một nghịch lý như sau.

    Làm thế nào mà một thực thể phi vật chất lại có thể tác động đến vật chất?

    Điều này dường như là một nghịch lý. Có giả thuyết cho rằng phân tử và nguyên tử là vật chất có ý thức, tức là nó hiểu được các mệnh lệnh của thông tin và nó chấp hành, nó tuân thủ. Bác sĩ Trần Thị Tuấn Nga nghiêng về cái ý này cho rằng là virus nó có trí tuệ, nó hiểu được cho nên nó làm những cái công việc có tính chất phản ứng.

    Nguyễn Cao Sơn nêu lên một cái giả thuyết thứ hai rằng giữa thông tin và vật chất tồn tại một cái lực lượng thứ ba vô hình. Lực lượng ấy tạm gọi dễ hiểu là lực lượng thi công. Tức là cái lực lượng ấy hiểu được cái mệnh lệnh của thông tin và cái lực lượng ấy trực tiếp sắp đặt phân tử nguyên tử tuân theo cái mệnh lệnh đó.

    Giống như một bản thiết kế xây dựng, bản thiết kế đó là Thông tin, nhưng muốn biến nó thành cái nhà thì phải có người thợ xây cầm từng viên gạch để đặt vào đúng vị trí mà bản thiết kế nó đã yêu cầu. Thế thì cái người thợ xây dựng ấy là cái người gọi là thi công trình. Theo Nguyễn Cao Sơn, trong vũ trụ tồn tại một lực lượng mô hình thứ ba đóng vai trò là người thực hành các mệnh lệnh của Thông tin.

    13. Để tạo ra một cỗ máy, Thông tin phải có trước.

    14. Thông tin luôn luôn bắt nguồn từ một trí tuệ thông minh.

    Hai dạng Thông tin: một là Thông tin do con người sáng tạo ra,.hai là Thông tin của DNA.

    Thông tin DNA được gọi là Thông tin tự nhiên, và hiện nay người ta đang tranh luận rằng Thông tin tự nhiên ấy không biết từ đâu ra, chắc rằng nó cũng phải xuất phát từ những nguồn trí tuệ thông minh vĩ đại, bởi vì phải là trí tuệ thông minh vĩ đại mới có thể viết được ra một cái chương trình vĩ đại như thế.

    15. Thông tin không bao giờ nảy sinh từ bản thân vật chất.

    Và điều này đã được khẳng định trong một hội nghị quốc tế là Hội Nghị Quốc Tế Về Nguồn Gốc Sự Sống lần thứ VII năm 1983 (The 7th International Conference on the Origins of Life – ICOL 1983) diễn ra từ ngày 10 tháng 7/1983 đến ngày 15 tháng 7/1983 được tổ chức tại Cung Điện Bầu Cử (The Electoral Palace) tại thành phố Mainz Cộng Hòa Liên Bang Đức, hội nghị ấy đã KHÔNG CHO BIẾT từ các thí nghiệm rằng Thông tin không thể xuất phát từ vật chất hoặc “Thông tin xuất phát từ vật chất”, và “vấn đề Nguồn Gốc Sự Sống (The Origin of Life) vẫn còn là vấn đề mở và bỏ ngỏ rất rộng.

    Nguồn nội dung trích dẫn:

    COMMENTARY

    CONGRESS REPORT ON THE 7TH INTERNATIONAL CONFERENCE ON THE ORIGIN OF LIFE, MAINZ (Federal Republic Germany)

    10 – 15 JULY 1983

    Tại hội nghị này, các vấn đề nghiên cứu được đưa ra thảo luận theo nội dung trên như sau.

    “[…] More than 250 scientists from all parts of the world contributed to the success. The main topics discussed in Mainz were arranged into 6 sessions:

    – Cosmology and Cosmochemistry (Interstellar Clouds, Stellar Evolution, Planetary Surfaces and Atmospheres, Comets, Meteorites)

    – Geology and Geochemistry (Early Paleontological Record, Ancient Sedimentary Habitats of Life, Evolution of the Environment)

    –  Simulation of Chemical Evolution in the Laboratory (Small Molecules, Macromolecules, Prebiotic Synthesis, Origin of Chirality)

    – Theory on the Origin of Life: The Origin of Biological Information

    –  Biological Evolution: Energy Conversion

    –  Space Missions and Exobiology: Life under Extreme Conditions […]”

    “[…] Hơn 250 nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới đã đóng góp vào thành công này. Các chủ đề chính được thảo luận tại Mainz được chia thành 6 phiên:

    – Vũ trụ học và Hóa học vũ trụ (Mây giữa các vì sao, Tiến hóa sao, Bề mặt và Khí quyển hành tinh, Sao chổi, Thiên thạch)

    – Địa chất và Địa hóa học (Hồ sơ Cổ sinh vật học Sơ khai, Môi trường sống Trầm tích Cổ đại của Sự sống, Sự tiến hóa của Môi trường)

    – Mô phỏng Tiến hóa Hóa học trong Phòng thí nghiệm (Phân tử nhỏ, Đại phân tử, Tổng hợp Tiền sinh học, Nguồn gốc của Tính quang hợp)

    – Lý thuyết về Nguồn gốc Sự sống: Nguồn gốc của Thông tin Sinh học

    – Tiến hóa Sinh học: Chuyển đổi Năng lượng

    – Các Sứ mệnh Không gian và Ngoại sinh học: Sự sống trong Điều kiện Khắc nghiệt […]”

    16. Nhận thức duy có giới hạn, luôn luôn tồn tại những sự thật không thể giải thích bởi khoa học thuần túy logic duy hoặc vật chất.

    Định Lý Bất Toàn (Toán Học) của Kurt Gödel (Kurt Gödel’s Incompleteness Theorems) khẳng định rằng có những sự thật con người sẽ vĩnh viễn không bao giờ giải thích được, nhưng sự thật vẫn đang tồn tại.

    17. Vũ trụ bao gồm Vật chất, Vật chất đây theo cái ý là Vật chất có khối lượng, năng lượng, Thông tin, Ý thức. và X, X nó những thực thể có thể tồn tại trong vũ trụ mà chúng ta chưa biết, hoặc không biết và vĩnh viễn không biết.

    Công thức: Vũ trụ = Vật chất + Năng lượng + Thông tin + Ý thức + X

    18. Vũ trụ sẽ tan rã nếu không có thông tin điều khiển, Vì thế thông tin là yếu tố làm cho vũ trụ có trật tự và có ý nghĩa.

    Nếu ta nói rằng Thông tin là THUỘC TÍNH của Vật chất thì chỗ này sẽ sai, bởi vì nếu Thông tin là THUỘC TÍNH của Vật chất thì có nghĩa là Thông tin sẽ phải có sau, Vật chất phải có trước.

    Nhưng mà thực tế thì chúng ta thấy là để mà xây một cái nhà ta phải có Bản Thiết Kế, để chế tạo được một cái máy ta phải có Bản Thiết Kế và tất cả các kỹ sư đều là những nhà chế tạo sáng tạo Thông tin.

    19. Các Loài là cố định.

    Thiên nhiên không biến đổi các loài theo cách đó, vì vậy phải có một số lực lượng khác tác động.” – Gregor Mendel (1822 – 1884) – Nguồn trích dẫn: https://bahaiteachings.org/intelligence-behind-intelligent-design/ (Theo Giáo sư Phạm Việt Hưng)

    Wherever complex design exists, there must have been a designer; nature is complex; therefore nature must have had an intelligent designer. – Thomas Aquinas (1225-1274)

    “Bất cứ nơi nào có thiết kế phức tạp, thì chắc chắn phải có một nhà thiết kế; thiên nhiên vốn phức tạp; do đó, thiên nhiên hẳn phải có một nhà thiết kế thông minh.” – Thomas Aquinas (1225-1274)

    Creationism, intelligent design, and other claims of supernatural intervention in the origin of life or of species are not science because they are not testable by the methods of science. – The United States National Academy of Sciences

    “Thuyết sáng tạo, thiết kế thông minh, và những tuyên bố khác về sự can thiệp siêu nhiên vào nguồn gốc sự sống hoặc các loài không phải là khoa học vì chúng không thể kiểm chứng bằng các phương pháp khoa học.” – Viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia Hoa Kỳ

    Come, let us scatter these roses, let us pour out this wine, Let us split the roof of Heaven and draw a new design.” – Hafiz (1321 – 1390) (*)

    “Hãy đến, chúng ta hãy rải những bông hồng này, chúng ta hãy rót rượu này, Chúng ta hãy xé toạc mái vòm Thiên đường và vẽ nên một thiết kế mới.” – Hafiz (1321 – 1390) (*)

    (*) Hafiz (1321 – 1390), là Khwajeh Shams od-Din Muhammad Hafez (1321 – 1390), nhà thơ người Ba Tư.

    Source: https://bahaiteachings.org/intelligence-behind-intelligent-design/

    20. Sự sống đã được thiết kế, Bản Thiết Kế là mã DNA. Mã DNA là phép màu kỳ diệu nhất của đấng sáng tạo. Thuyết Tiến Hóa hoàn toàn phi khoa học vì nó dựa trên một tiên đề sai lầm về Triết Học rằng sự sống ra đời một cách ngẫu nhiên từ vật chất vô sinh. Ý kiến cho rằng sự sống ra đời ngẫu nhiên là một tình trạng thiếu hiểu biết.

    “Le hasard n’est que la mesure de notre ignorance.”Sự ngẫu nhiên chỉ là thước đo sự rốt nát của chúng ta. Jules Henri Poincaré (1854 – 1912)

    21. Nhiệm vụ của sinh học hiện đại là giải mã DNA.

    Mặc dù đã có những thành công bước đầu và sẽ có những thành công tiếp theo, việc giải mã sự sống sẽ vĩnh viễn không bao giờ tìm thấy bí mật cuối cùng của sự sống; luôn luôn tồn tại những bí mật của sự sống mà khoa học chưa giải thích được hoặc thậm chí không thể giải thích được; mọi kết luận vội vàng đều có nguy cơ sai một ly đi một dặm.

    22. Mọi biến đổi của sinh vật chỉ diễn ra trong một phạm vi giới hạn, tức là biến đổi trong loài.

    Điều này cần phải khẳng định để thấy rõ là thuyết tiến hóa sai.

    23. Điều kiện cần và đủ để hai sinh vật cùng loại là chúng có thể giao phối và sinh sản. giao phối và sinh sản.

    24. Đột biến gen ngẫu nhiên không dẫn tới tiến hóa mà chỉ dẫn tới thoái hóa.

    “Random genetic mutations do not lead to evolution, but only to degeneration.” – Genetic Entropy, John C. Sanford (1950 – now 2025)

    “Đột biến gen ngẫu nhiên không dẫn đến tiến hóa, mà chỉ dẫn đến thoái hóa.” – Genetic Entropy, John C. Sanford (1950 – nay là 2025)

    “Dù đột biến có nhiều đến đâu, chúng cũng không bao giờ tạo ra bất kỳ tiến hóa nào.” Pierre Paul Grassé (1895 – 1985)

    Thích

  3. Tiên Đề Triết Học Khoa Học (Tiếp theo)

    (Trình bày: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến sĩ Toán Học, kênh Nhận Thức Mới, thứ Sáu 05 tháng 12/2025.)

    25. Thuyết tiến hóa không phải là một sự thật, mà là sự tưởng tượng không thể kiểm chứng được.

    “Evolution is not a fact. Evolution doesn’t even qualify as a theory or as a hypothesis. It is a metaphysical research program, and it is not really testable science.” – Karl Poper (1902 – 1994), Darwinism as a Metaphysical Research ProgrammeThe Philosophy of Karl Popper (Volume 1), edited by Paul Arthur Schilpp, Open Court Publishing Co.(issued 1974)

    “Sự tiến hóa không phải là một sự thật. Sự tiến hóa thậm chí không đủ tiêu chuẩn là một lý thuyết hay một giả thuyết. Nó là một chương trình nghiên cứu siêu hình học, và nó không thực sự là khoa học có thể kiểm chứng được.” – Karl Poper (1902 – 1994), Học Thuyết Darwin Như Một Chương Trình Nghiên Cứu Siêu Hình – sách Triết Học Karl Popper (Tập 1), được biên tập bởi Paul Arthur Schilpp, Open Court Publishing Co. (xuất bản năm 1974)

    Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là Karl Popper đã rút lại hoặc sửa đổi quan điểm này chỉ bốn năm sau đó. Trong một bài báo năm 1978 cho tạp chí New Scientist, ông tuyên bố rằng ông đã thay đổi quan điểm của mình và thừa nhận rằng chọn lọc tự nhiên là có thể kiểm chứng được.

    “I have changed my mind about the testability and logical status of the theory of natural selection; and I am glad to have an opportunity to make a recantation. (…) The theory of natural selection may be so formulated that it is far from tautological. In this case it is not only testable, but it turns out to be not strictly universally true. There seem to be exceptions, as with so many biological theories; and the occurrence of exceptions is not surprising, in view of the probabilistic character of the theory (which, by the way, was stressed by Darwin himself).”

    “Tôi đã thay đổi quan điểm của mình về khả năng kiểm chứng và tình trạng logic của thuyết chọn lọc tự nhiên; và tôi rất vui khi có cơ hội để đưa ra lời cải chính. (…) Lý thuyết chọn lọc tự nhiên có thể được phát biểu theo cách không hề mang tính trùng lặp logic. Trong trường hợp này, nó không chỉ có thể kiểm chứng được, mà còn được chứng minh là không đúng tuyệt đối trong mọi trường hợp. Có vẻ như có những trường hợp ngoại lệ, giống như với rất nhiều lý thuyết sinh học khác; và sự diễn ra của các trường hợp ngoại lệ là điều không đáng ngạc nhiên, khi xem xét tính xác suất (ngẫu nhiên) của các biến thể (mà, theo cách chọn lọc tự nhiên tác động lên, được nhấn mạnh bởi chính Darwin).”

    Nguồn:

    Tên bài báo: “Natural Selection and the Emergence of Mind” (“Chọn Lọc Tự Nhiên và Sự Xuất Hiện của Tâm Trí”)

    Tác giả: Karl Popper (1902 – 1994)

    Tạp chí: Dialectica (một tạp chí quốc tế về Triết Học thuần túy và ứng dụng)

    Nhà xuất bản: Wiley-Blackwell (thông qua tổ chức xuất bản bởi Association Dialectica)

    Năm xuất bản: 1978

    Tập (Volume): 32

    Số (Issue): 3-4

    Trang: Đoạn văn cụ thể được tham chiếu nằm ở khoảng trang 344 đến 346.

    26. Nguyên lý tổ hợp Gene không tương ứng một một với đặc tính với tính trạng, quan hệ giữa Gene và tính trạng là quan hệ phức tạp theo kiểu tổ hợp, một Gene có thể tác động đến nhiều đặc tính; ngược lại, một tính trạng được quyết định bởi một tổ hợp Gene và hiện nay vấn đề này gần như là một bí mật hoàn toàn đối với sinh học hiện đại.

    Bài toán xác định mối quan hệ tổ hợp Gene với các đặc tính, với các tính trạng là một thách thức vô cùng lớn đối với sinh học hiện đại nhưng đó là nhiệm vụ bắt buộc của khoa học về sự sống; chừng nào chưa biết rõ các tổ hợp đó, chừng ấy mọi suy đoán, tưởng tượng về sự tiến hóa đều vô nghĩa, thí dụ, ý kiến nói rằng tinh tinh và con người giống nhau về Gene đến 98% từ đó suy ra là người xuất thân từ tinh tinh, đó là một ý kiến sai lầm bởi vì một khi đã áp dụng cái nguyên lý tổ hợp Gene thì thấy rõ ngay là sai lầm, tức là bộ Gene có thể giống nhau về số lượng các Gene hoặc là thậm chí về trình tự, nhưng nếu tổ hợp Gene mà khác nhau thì nó dẫn đến kết quả tính trạng vẫn khác nhau.

    27. Không thể dùng khoa học vật chất để giải thích các hiện tượng phi vật chất siêu hình.

    28. Phải xây dựng một Hệ Tiên Đề cho mới để có thể giải thích được các hiện tượng siêu hình và Hệ Tên Đề này gồm có năm Tiên Đề như sau.

    Tiền Đề 28.1. Tồn tại một trung tâm thông tin trong vũ trụ như một hệ điều hành của vũ trụ và sự sống.

    Nicolas Tesla nói rằng bộ não của chúng ta chỉ là một cỗ máy tiếp nhận thôi, trong vũ trụ có một trung tâm cốt lõi mà từ đó chúng ta nhận được tri thức, sức mạnh, niềm cảm hứng, nhưng ta chưa thâm nhập được vào cái bí mật cốt lõi ấy. Ý kiến này có lý bởi vì nếu chúng ta tin vào điều NicolasTesla nói, chúng ta có thể giải thích được rất nhiều hiện tượng mà bằng khoa học vật chất chúng ta không giải thích được.

    Tiên Đề 28.2. Bộ não của con người là cỗ máy tiếp nhận thông tin và tri thức.

    Tiên Đề 28.3. Tiên Đề 28.4. và Tiên Đề 28.5. một dịp khác sẽ nhắc lại.

    Muốn xây dựng, muốn giải thích những hiện tượng mà khoa học hiện nay không giải thích được, chúng ta cần phải xây dựng một Hệ Tiên Đề mới về nhận thức luận.

    29. Thế giới có nhiều tầng, tầng hữu hình, tầng siêu hình; nhưng tất cả các tầng ấy đều thống nhất trong một vũ trụ nhất thể; cái vũ trụ nhất thể ấy người phương Đông gọi nó là Đạo.

    Đạo: 1. nghĩa đen: con đường, 2. nghĩa phái sinh (derivative meaning): chân lý, đạo lý, giáo lý tôn giáo, giáo nghĩa tôn giáo, giáo pháp / phương pháp, phép tắc (法則 pháp tắc), quy tắc, quy luật.

    30. Mô hình để thể hiện khái niệm / phạm trù Đạo gọi là Thái Cực Đồ bao gồm Âm (Yin) và Dương (Yang) hay gọi là Lưỡng Nghi.

    Mô Hình Vũ Trụ: Elliptic – Hyperbolic Model (E-H Model)

    Elliptic Model Equation (Phương Trình Mô Hình Ellipse): [(x^2 / a^2) + (y^2 / b^2) = 1] (Mô Hình Lồi)

    Hyperbolic Model Equation (Phương Trình Mô Hình Hyperbol):

    [(x^2 / a^2) – (y^2 / b^2) = (x^2 / b^2) – (y^2 / a^2) = (y^2 / a^2) – (x^2 / b^2) = 1] (Mô Hình Lõm)

          Phương Trình Mô Hình Ellipse                                   Phương Trình Mô Hình Hyperbol

    Nguồn: sưu tầm (Internet – Google)

                                              Mô Hình Vũ Trụ: Elliptic – Hyperbolic Model (E-H Model)

    Nguồn: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến Sĩ Toán Học

    Vũ Trụ Vật Chất: Elliptic Model (Mô Hình Lồi) – Vũ Trụ Phi Vật Chất: Hyperbolic Model (Mô Hình Lõm)

    Vũ Trụ Vật Chất: Vũ Trụ “Thực” – Vũ Trụ Phi Vật Chất: Vũ Trụ “Ảo”

    Thế giới mà chúng ta đang sống đây chúng ta gọi là thực, thế giới sau sự sống chúng ta coi là ảo; nhưng bao giờ mà ta chuyển sang thế giới ảo ấy thì ta sẽ nói thế giới này là thật. Đạo Phật nói là thế giới thật này của chúng ta là thế giới ảo, vậy khái niệm thật và ảo thực ra chỉ mang tính tương đối thôi, đứng trên hệ quy chiếu khác nhau thì sẽ nhận thức khác nhau, đó cũng là một loại mô hình của Đạo nhưng là bổ sung một chút thông tin mang tính chất toán học để chứng minh rằng thực và ảo thực chất là một, do đó chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi chúng ta thấy có những hiện tượng mà chúng ta gọi là phi vật lý, phi vật chất hình thành đó là trường hợp chữa bệnh mà không dùng thuốc, chữa bệnh bằng phép lạ.

    Trong vũ trụ này tồn tại vô số các không gian ngang dọc đan xen nhau và khoa học hiện nay không thể phát hiện ra, chúng ta chỉ nhìn thấy, chỉ khám phá được cái không gian ba chiều này thôi, còn những không gian khác cao hơn và nó phức tạp hơn thì con người vẫn chưa khám phá ra được, và ở những không gian đấy thì phân tử, nguyên tử hay bất kỳ một vật chất nào nó cũng đều có ý thức của nó, và những người có năng lực tinh thần cao có thể giao tiếp với những ý thức của các loại phân tử, nguyên tử hay các vật chất khác nhau.

    Hai giả thuyết, giả thuyết thứ nhất rằng phân tử, nguyên tử vật chất là có ý thức, giả thuyết thứ hai là tồn tại một lực lượng vô hình sắp xếp vật chất theo các lệnh thông tin, hiện nay các nhà khoa học đã khám phá ra rằng vật chất là có ý thức, kể cả những vật chất rất nhỏ đều có ý thức của nó, nhưng mà tất nhiên là nó ở một không gian khác giống như không gian Hyperbol.

    Về giả thuyết thứ hai, trong vũ trụ này có tồn tại các lực lượng vô hình hay tạm gọi là các sinh mệnh, họ cao hơn con người, sinh mệnh ở tầng cao hơn, và khi mà người ta cần phải làm gì đó hoặc là một việc gì đó, họ sẽ sắp xếp để con người làm những việc mà họ cho rằng con người cần làm, thành ra cả hai cái giả thuyết này đều đúng cả.

    Có một nhóm các nhà khoa học rất là uy tín và tuyên ngôn một nền Khoa học Hậu Duy vật có trình độ hiểu biết rất là cao, người ta đã tụ hp với nhau trong một hội nghị quốc tế và người ta đưa ra một cái người ta gọi là tuyên ngôn của một nền khoa học hậu vật chất, là tuyên ngôn của một nền khoa học mà vượt trên qua thế giới vật chất, thế giới hậu vật lý.

    Thứ khoa học dựa trên công cụ chân thật và tinh tế nhất của mọi công trình nghiên cứu khoa học mà chúng ta sở hữu chính là bản thân Ý Thức, Ý Thức không chỉ tồn tại độc lập với cơ thể mà còn là thứ cơ bản nhất của mọi thứ, đó là lý do sau khi con người rời khỏi thế giới vào thế giới ấy thì lúc ấy còn thật hơn thế giới hiện nay.

    Thông tin nó chẳng còn phụ thuộc vào cái vật chất đâu cả, việc theo đuổi thực tại cốt lõi của vũ trụ là bất khả thi nếu không dùng đến Ý Thức, tại vì hiện nay các nhà khoa học đang lờ đi vai trò của ý thức.

    Người ta không nghiên cứu sâu về Ý Thức, không nghiên cứu về bản chất của Ý Thức không hề là một thứ sản phẩm phụ và không quan trọng của các quá trình vật chất, Ý Thức không chỉ rất thật, nó còn thật hơn toàn bộ sự tồn tại vật chất còn lại và rất có thể là thứ cơ bản nhất của mọi thứ.

    Bản chất là thật ra là ý thức chính là nguồn gốc của sinh mệnh, sinh mệnh con người gắn với Ý Thức chứ không phải gắn với thân xác, bởi vì khi mà chúng ta thoát khỏi thế giới này thì cái Ý Thức đó chính là sinh mệnh của chúng ta, và đấy mới là sự thật,đấy mới là cái thật, đấy mới là cái thực tế của sinh mệnh con người.

    “The brain is not the creator of consciousness, but the reducing valve or filter that limits the vast, universal consciousness to the small amount that we can process for the purposes of living on this planet.” – Proof of Heaven: A Neurosurgeon’s Journey into the Afterlife, Eben Alexander, Simon & Schuster LLC (2012).

    Bản thân Não bộ không tạo ra Ý Thức, Não bộ chỉ giống như một cái van giảm áp hay máy lọc và bộ hạn chế có tác dụng điều chỉnh Ý Thức phi vật chất mà chúng ta có được trong những thế giới phi vật chất rộng lớn thành một loại Ý Thức có dung lượng hạn chế trong hiện thực cuộc sống nhỏ bé này.” – sách Chứng Cứ Thiên Đường: Hành Trình Của Một Bác Sĩ Phẫu Thuật Thần Kinh Về Thế Giới Bên Kia, tác giả: Eben Alexander, nhà xuất bản Simon & Schuster LLC ở Hoa Kỳ (năm 2012), dịch giả: Nguyễn Thị Thu Liên, Nhà Xuất Bản Thế Giới (Phát hành bởi First News Trí Việt) năm 2013.

    Con người tiếp nhận rất nhiều thông tin hay là năng lực của bộ năng lực Ý Thức đó rất là lớn, tuy nhiên trong thế giới này thì con người bị cái dung lượng của bộ Não hay là cái năng lực của bộ Não bị hạn chế lại để cho thông tin chỉ phù hợp với cả cái thế giới này thôi, thế giới vật lý này, và điều này cũng rất là dễ hiểu, và hiện nay các nhà khoa học nhìn thấy gì là con người mới sử dụng chỉ tầm 5 đến 10% năng lực của bộ Não thôi, và những người mà được mở năng lực Não bộ ra nhiều hơn ấy thì năng lực của họ rất là lớn, về mặt tư duy, mặt ý thức, điều đó rất là rất là hợp lý.

    “The brain filters consciousness and only interprets a very small proportion of the information that Universal Consciousness creates, so our brain is limited, it’s filtered, it’s bottling up information so that the human being only perceives that amount.” – The Truth in the Light: An Investigation of Over 300 Near-Death Experiences, Peter Brooke Cadogan Fenwick (1935 –2024) & Elizabeth Fenwick, Headline Books (1995).

    Não lọc nhận thức và thông dịch một phần rất nhỏ các thông tin mà Ý Thức nội tại của vũ trụ tạo ra, tức là bộ não chúng ta bị hạn chế, bị lọc, tức là bóp thông tin nhỏ lại để con người nó chỉ nhận thức đến thế thôi.” – sách Sự thật trong Ánh sáng: Nghiên cứu về Hơn 300 Trải Nghiệm Cận Tử, đồng tác giả: chồng là ông Peter Brooke Cadogan Fenwick (1935 –2024) và vợ bà Elizabeth Fenwick, nhà xuất bản Headline Books ở Anh Quốc (năm 1995).

    Lão Tử phái Đạo Gia (phái Triết Học Trung Hoa cổ đại thời Xuân Thu Chiến Quốc) gọi quy luật của vũ trụ là Đạo, Đạo Phật gọi là Pháp – “Vạn pháp quy chung” (“Mọi quy luật đều thống nhất”), Pháp hay khái niệm Đạo là khái niệm quan trọng nhất của con người, nếu mà con người mà không tuân theo Pháp, không tuân theo Đạo mà thì chắc chắn là họ sẽ không tin vào không gian khác, không tin vào những câu chuyện mang tính nhân quả để ước thúc đạo đức của mình, và qua đó khi đạo đức xuống dốc thì xã hội sẽ không biết đi đâu hoặc về đâu và con người lúc đấy sẽ rất là nguy hiểm, cái khái niệm Đạo hay là khái niệm tự nhiên hay là khái niệm Pháp là khái niệm rất là quan trọng mà chúng ta cần phải nói đến, và những người mà muốn nghiên cứu tìm hiểu về những vấn đề Bản Thể Luận hay là khoa học Logic mà khoa học hiện nay không giải thích được thì chúng ta sẽ phải hiểu cái việc này, tức phải tìm hiểu và phải tuân theo Pháp của vũ trụ hay là Đạo của vũ trụ thì mới có thể giải thích được những vấn đề mà khoa học hiện đại bó tay.

    道生一,一生二,二生三,三生萬物 –老子

    ĐẠO SINH NHẤT, NHẤT SINH NHỊ, NHỊ SINH TAM, TAM SINH VẠN VẬT – Lão Tử.

    ĐẠO SINH MỘT, MỘT SINH HAI, HAI SINH BA, BA SINH VẠN VẬT – Lão Tử.

    人法地,地法天,天法道,道法自然。《老子道德經•第二十五章》

    Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên.” [Lão Tử Đạo Đức Kinh – Đệ Nhị Thập Ngũ Thiên]

    “Người theo phép của Đất, Đất theo phép của Trời, Trời theo phép của Đạo, Đạo theo phép của Tự Nhiên.” [Đạo Đức Kinh – Chương 25]

    Thích

Gửi phản hồi cho creativelyinternet8a3d7f9469 Hủy trả lời