Impressionism, a Language of Creative Art / Tranh Ấn tượng, một Ngôn ngữ Hội họa Sáng tạo

Claude_Monet_soleil_levant
Hình trên: “Impression, Soleil Levant”, tranh của Claude Monet, 1872

Marguerite Guggenheim, a famous art collector, said: “My knowledge of art ended at impressionism”. I want to say the same: “Impressionism is the best of art that I can enjoy”. In order to explain how impressionism is impressive, I am honored to introduce an interesting article by Nguyễn Bảo Hưng: “Impressionism or the Language of Creative Art”, published on Art Forum of Vietnam.
Marguerite Guggenheim, một nhà sưu tập tranh nổi tiếng, nói: “Hiểu biết hội họa của tôi dừng lại ở trường phái ấn tượng. Tôi muốn nói điều tương tự: “Chủ nghĩa ấn tượng là thứ hội họa tuyệt vời nhất mà tôi có thể thưởng thức”. Để giải thích chủ nghĩa ấn tượng gây ấn tượng như thế nào, tôi xin trân trọng giới thiệu một bài báo rất hay của Nguyễn Bảo Hưng, đã đăng trên Diễn đàn Mỹ thuật Việt Nam: “Trường phái ấn tượng hay là Ngôn ngữ Hội họa Sáng tạo”.

Trường phái Ấn tượng hay là Ngôn ngữ Hội họa Sáng tạo

Bài của Nguyễn Bảo Hưng trên Diễn đàn Mỹ thuật Việt Nam

http://mythuat.proboards.com/thread/865/hoi-hoa-tranh-ve

Ngày 15-4-1874 tại cơ sở của nhiếp ảnh gia Nadar số 35 đại lộ Capucines – Paris đã khánh thành cuộc triển lãm tranh của một nhóm họa sĩ ly khai khoảng 30 người trong đó có Monet, Renoir, Degas, Berthe, Morisot, Pissarot… Gọi là ly khai (dissidents) nghe cho xôm tụ, chứ thời bấy giờ họ bị liệt vào nhóm họa sĩ bị khước từ (les refusés) vì tranh của họ không được nhận trưng bày tại Phòng Triển lãm chính thức. Phòng Triển lãm chính thức, được biết dưới tên gọi Le Salon officiel và đặt trụ sở tại Viện bảo tàng Louvre, là nơi hàng năm tổ chức trưng bày các tác phẩm nghệ thuật hội họa hoặc điêu khắc được đánh giá là có mỹ thuật.

Đây chính là cơ hội để tác giả được quần chúng biết đến và đem lại cho họ danh vọng tiền tài. Nhưng muốn vậy họ phải có tác phẩm lọt được vào mắt xanh của một Ban Giám Khảo mà thành viên hầu hết đều là hội viên của Học Viện Mỹ thuật (Académie des Beaux-Arts). Tiêu chuẩn đánh giá và chọn lựa, cho tới giữa thế kỷ 19, vẫn là dựa trên mỹ học kinh viện (académique) và truyền thống Phục Hưng La Mã (La Renaissance romaine). Bởi lẽ cách sử dụng màu sắc và đường nét cách tân của nhóm không hợp nhãn Ban tuyển trạch nên tranh của họ đã bi loại bỏ. Đó cũng là lý do khiến bọn họ đứng ra tổ chức riêng cuộc triển lãm từ 15/04 đến 15/05/1874, đúng hai tuần trước ngày khai mạc Phòng Triển lãm chính thức. Với kỳ vọng sẽ cạnh tranh được với Phòng triển lãm kỳ cựu, một thành viên đã không ngần ngại phát biểu một câu xanh rờn: “Cuộc triển lãm lưu vong này là một thắng lợi lớn và tranh của bọn ta sẽ là một cạnh tranh chí tử với đám khứa lão đui chột ngốc nghếch ấy…”.

Nhưng cuộc trưng bày của họ lại hầu như là một thất bại. Suốt một tháng trời mở cửa chỉ có khoảng 3500 khách vãng lai, chưa bằng một phần mười tổng số người kéo đến coi Phòng Triển lãm chính thức. Về phần giới phê bình chính thức cũng chỉ bình phẩm qua loa hoặc nhắc chiếu lệ về phòng tranh mà thôi. May thay, một vài nhà phê bình thuộc loại nghiệp dư, không mấy tiếng tăm lại “đánh hơi” được tính khai phá cách tân của đường lối hội họa mới này, như nhận xét của nhà phê bình nào đó trên tờ RAPPEL:

“Bạn hỡi, khi tới đây bạn hãy vứt bỏ mọi thành kiến cổ lỗ sĩ đi. Hẳn một thời đã có những họa sĩ khờ khạo cứ tưởng rằng khi muốn cho ta ý niệm về một cái cây là phải vẽ đúng một cái cây đủ cả thân lẫn cành và lá. Tội nghiệp thay, họ đâu biết răng hội họa phải đem lại cho ta trước hết “ấn tượng” về các sự vật, chứ không phải cái chúng là hiện thực.” (… Vous qui entrez, laissez tout préjugé ancien. Il fut un temps sans doute où des peintres naifs, lorsqu’ils voulaient donner l’idée d’un arbre, peignaient un arbre en effet avec un tronc, ses branches et ses feuilles. Ils ignoraient que la peinture doit donner avant tout “l’impression” des choses, non leur réalité même. Theo J.J LÉVÊQUES – Les Années Impressionnistes _ 1870 – 1889, ACR Éditions Internationales 1990, tr. 284) “Hội họa phải đem đến cho ta cái ấn tượng về các sự vật chứ không phải cái chúng là hiện thực.”.

Nhà phê bình nào đó, khi phát biểu như trên, hẳn đã nắm được ý nghĩa mang tính chất sáng tạo của từ “Impression” (ấn tượng) đặt trước hai chữ “Soleil levant” (Mặt trời mọc) dùng làm tựa đề cho bức tranh “RẠNG ĐÔNG” (Impression, soleil levant, 1872) của Claude Monet. Đó cũng là cảm nhận của nhà phê bình Louis Leroy, cha đẻ ra từ “Impressionnisme”, trong bài tường thuật “L’exposition des impressionnistes” trên tờ “LE CHARIVARI” số ra ngày 25/04/1874.

Khi đứng trước bức “RẠNG ĐÔNG”, ông đã phải thốt lên : “Bức tranh này phô bày cái gi? Ấn tượng! Ấn tượng, phải rồi. Tôi thầm nhủ bởi vì chính tôi cũng bị ấn tượng, quả là đã có ấn tượng trong đó.” (Que représente cette toile? Impression! Impression, j’en étais sûr. Je me disais aussi, puisque je suis impressionné, il doit y avoir de l’impression là-dedans… – Laure-Caroline SEMMER .- Les oeuvres-clés de l’Impressionnisme, p. 84 – Coll. Comprendre & Reconnaître, Edit. LAROUSSE, Paris 2007).

Vậy là cũng như đồng nghiệp của mình trên tờ Rappel, nhà phê bình nghiệp dư Louis Leroy, không ngờ lại tỏ ra có cặp mắt tinh tế hơn người vì đã sớm phát hiện những đường nét cách tân trong bức họa của Monet. Trong khi ấy, hầu hết giới phê bình chính thức được mô tả là có thẩm quyền và uy tín, có lẽ còn say sưa với hào quang của danh hiệu trao tặng, nên vẫn miệt mài trên những lối mòn khiến chưa biết nhìn ra tính sáng tạo của bức tranh báo hiệu một bình minh rạng rỡ cho hội họa.

Vậy tính cách tân sáng tạo ấy là gì ? Để có được câu trả lời thích đáng không gì bằng quan sát và tìm hiểu từng đường nét của bức tranh được coi là cái đinh của buổi ra mắt và đã trở thành đầu đề tranh luận bàn tán trong suốt thời gian phòng tranh mở cửa.

Nhưng trước hết, tưởng cũng nên nhắc lại một sự kiện nay được coi là thuộc loại bên lề, nhưng với chúng ta có thể lại hữu ích. Trong thư sau này gửi cho một người bạn, Monet cho biết bức tranh, thực hiện năm 1872 tại Le Havre, là cảnh tượng đã đập vào mắt ông một sớm mai khi vừa mở cửa sổ, ông nhìn ra bến tàu. Sau đó bức tranh đã được gửi tới Ban Triển lãm mà không có thêm tựa đề. Tới khi được Ban Tổ chức đề nghị chọn cho nó một cái tên, ông đã chỉ đáp lại bằng một chữ ngắn ngủn : “Impression”.

LEF220978 Self Portrait with a Beret, 1886 (oil on canvas) by Monet, Claude (1840-1926) oil on canvas 56x46 Private Collection © Lefevre Fine Art Ltd., London French, out of copyright

LEF220978 Self Portrait with a Beret, 1886 (oil on canvas) by Monet, Claude (1840-1926)
oil on canvas
56×46
Private Collection
© Lefevre Fine Art Ltd., London
French, out of copyright

Hình bên: Claude Monet, chân dung tự họa

Với từ này, hẳn Monet muốn lưu ý mọi người rằng tranh của ông không phải là một hình ảnh về cảng Le Havre (une vue du Havre) theo quan niệm hội họa cổ điển. Trái lại điều ông muốn phơi bày trên tấm vải bố chính là cái cái cảm nhận do ánh sáng cảnh vật bên ngoài đã ùa tới đập vào mắt ông một buổi sáng khi vừa mở cửa sổ ông nhìn ra bến cảng. Và điều mà ông muốn truyền đạt qua bức tranh chính là cái ấn tượng hay đúng ra cái cảm nhận qua thi giác của riêng ông trong khoảnh khắc đó và ở vị trí đó. Có lẽ muốn tránh cho khách viếng thăm khỏi bỡ ngỡ, Edmond Renoir, em của họa sĩ Auguste Renoir và cũng là người phụ trách lập danh mục tác các phẩm trưng bày, đã thêm vào hai chữ soleil levant thành cái tựa “Impression, soleil levant” nhằm giúp cho khách coi tranh hình dung được cụ thể nội dung bức tranh hơn. Dần dà, khi mỹ quan ấn tượng đã trở nên quen thuộc, người ta mới cắt bỏ từ “Impression” để chỉ còn lại hai chữ “Soleil levant” mà thôi. (Sđd, tr. 84). Sự kiện này, ngày nay chẳng còn được mấy ai quan tâm đến ; đôi khi nếu có đem ra nhắc lại, thì cũng chỉ như là giai thoại thêm mắm thêm muối cho vui câu chuyện tại các buổi tiệc tùng hay trong những lúc trà dư tửu hậu mà thôi . Nhưng đặt vào thời điểm bức tranh được đem ra trình làng thì sự hiện diện của từ “Impression” mới quan trọng và cần thiết làm sao. Nó chính là chìa khóa giải mã, là câu niệm chú giúp ta lọt được vào thế giới hội họa ấn tượng và nắm bắt được ý nghĩa của sự tìm tòi sáng tạo cách tân của Monet cùng các đồng môn của ông.

Trước hết, khi đề nghị từ “Impression” làm tựa cho tác phẩm của mình, Monet hẳn muốn nhắc nhở rẳng tác phẩm của ông không phải là một bức tranh họa lại hiện thực theo mỹ quan cổ điển. Bởi vậy ta đừng trông mong tìm thấy ở đấy một bức tranh về bến cảng Le Havre vào lúc bình minh: quang cảnh rạng đông tuyệt mỹ với các đường nét rõ rệt trong một bố cục phân đối hài hòa, những hình thể, những khối hiển lộ nhờ vào sự pha trộn màu sắc khéo léo tạo ra những khoảng sáng tối đậm nhạt đem lại cho ta một ảo giác về chiều sâu không gian. Trái lại ta phải luôn tự nhủ rằng điều mà nhà danh họa muốn truyền đạt tới chúng ta chính là cái ấn tượng mong manh, bất chợt hay đúng ra là cái cảm xúc trong khoảnh khắc trước cảnh tượng ánh sáng chói lọi đã ùa tới tác động vào thị giác ông vào một buổi sáng khi ông nhìn ra bến cảng.

Le Havre, như chúng ta cũng biết, là một hải cảng trên biển Manche thuộc vùng Normandie tây bắc nước Pháp nên buổi sáng ở đây thường ướt đẫm sương mù. Khi vừa mở tung cửa sổ, nếu ông đã bị chóa mắt bởi mặt trời như một đĩa lửa xuyên thủng màn sương dày đặc và phản chiếu lấp lánh trên mặt biển, thì ánh sáng chói lọi đó vẫn chưa hội đủ nội lực để làm tan loãng bàu khí quyển còn đậm đặc hơi nước. Bởi vậy đồng thời với mặt trời đỏ chói và cũng do tác động của ánh sáng chói lọi này, trước mắt ông còn lại chỉ là một khung cảnh mơ hồ : một bàu trời ửng hồng còn nhập nhòa với biển cả, bóng dáng của một số ống khói nhà máy và một vài cây cần trục chập chờn ẩn hiện trong bàu không khí vẩn đục, dăm ba chiếc thuyền nhấp nhô mập mờ trên mặt nước… Ngần ấy thứ cùng một lúc ùa tới tác động vào thị giác khiến, trong khoảnh khắc ấy, ông chỉ có ấn tượng về các sự vật chứ không phải là một hình ảnh của cảnh vật. Làm sao để nói lên cái ấn tượng gây cho ông một cảm xúc mạnh mẽ trong khoảnh khắc bất chợt đó ? Thấy rằng không thể dựa trên các phương pháp bài bản cổ điển được, Monet cũng như các đồng môn của ông đã phải đi tìm một ngôn ngữ hội họa (language pictural) mới bằng một phương pháp tiếp cận mới với những kỹ thuật biểu thị mới. Cái ngôn ngữ hội họa mới ấy chính là thành quả của một tìm tòi học hỏi về tác động của ánh sáng trên màu sắc và cảnh vật.

Water-Lilies-and-Japanese-Bridge-(1897-1899)-Monet

Hình bên: Hoa lilies nước và cầu Nhật Bản, tranh của Claude Monet, 1897-1899

Trong một chừng mực nào đó, ta có thể nói hội họa ấn tượng là hội họa của ánh sáng, là hội họa về ánh sáng, là kết quả của tìm tòi về tác động của ánh sáng trên vạn vật. Ứng dụng qui luật quang học Newton về di động ánh sáng, Monet cũng như các đồng môn của ông đã bỏ công sức và thời giờ quan sát ngoại cảnh để ghi nhận rằng : Cùng một cảnh vật nhưng, do tác động của ánh sáng, nó lại cho ta nhiều cảnh tượng khác nhau, nhiều hình ảnh khác nhau, nhiều ấn tượng khác nhau về cảnh vật đó tùy theo điều kiện thời tiết khác nhau, thời điểm khác nhau trong ngày, thậm chí có khi còn cả tùy theo vị trí đứng quan sát nữa. Bởi vậy các bức họa được coi là hoàn mỹ theo quan niệm cổ điển chưa hẳn đã toàn bích vì nó chỉ cho ta hình ảnh một thực tại cứng nhắc, im lìm, bất biến. Mà đời sống lại là một dòng chảy không ngừng. Và chỉ những cái thuộc về hiện tượng, tức là những cái chợt hiện ra trước mắt ta rồi biến đổi, những ấn tượng của ta trong khoảnh khắc ấy mới là phản ánh đích thực của dòng chảy đời sống luân lưu.

Nghệ thuật, do đó, phải biết nói lên tính sinh động của hiện thực trong từng khoảnh khắc biểu hiện của nó. Bởi vậy các họa sĩ ấn tượng không lấy chủ đề (le sujet ou motif) tức là cảnh vật hay nhân vật làm đối tượng chính cho bức tranh của họ. Chủ đề hay đúng ra là đối tượng hội họa, với họ, chính là tác động của ánh sáng trên cảnh vật chứ không phải bản thân cảnh vật. Cũng vì thế các họa sĩ ân tượng đã hướng về ngoại cảnh nhiều hơn, thay vì thu mình trong xưởng vẽ, để tìm cảm hứng sáng tạo cho các tác phẩm của mình. Và cũng trong chiều hướng nghiên cứu này Monet đã để lại cho ta hàng loạt các bức tranh về cùng một chủ dề nhưng ở các thời điểm khác nhau trong ngày hay trong các mùa thời tiết khác nhau. Thí dụ như loạt tranh về Thánh đường Rouen (série “Cathédrales de Rouen”), về các Đống rạ (série “Les Meules”) hay về các Bông súng (série “Les Nénuphars”).

cathedral of Rouen

Hình bên: Nhà thờ ở Rouen, tranh của Claude Monet

Không chỉ sưu tầm tác động của ánh sáng trên cảnh vật, trường phái ấn tượng còn khai thác một phát hiện khoa học mới mẻ khác, đó là qui luật về “tác động tương phản đồng thời của màu sắc” của Eugène Chevreul (De la loi du contraste simultané des couleurs, 1839). Theo qui luật này, không hề có vật nào giữ được một màu nguyên thủy (couleur primaire) bất biến. Trái lại màu của nó luôn biến đổi do tác động của màu sắc cảnh vật xung quanh. Do đó khi ta có hai màu kế cận nhau, do tác động tương phản của chúng, mắt ta lại nhìn ra thành một màu thứ ba. Thí dụ như đỏ đứng cạnh vàng, ta lại nhìn ra màu cam hoặc màu xanh lơ bên cạnh màu vàng sẽ cho ta màu xanh lá cây. Kết hợp qui luật Newton về di động ánh sáng với qui luật Chevreul về tác động hỗ tương giữa các màu sắc nhóm họa sĩ ấn tượng đã đề xuất một phương thức biểu thị mới (nouveau mode d’expression) để hình thành ngôn ngữ hội họa ấn tượng. Phương thức biểu thị ấy dựa trên nguyên lý được biết dưới tên gọi le mélange optique mà chúng tôi xin tạm dịch là nguyên lý hòa nhập hình ảnh và màu sắc do di động của ánh sáng hay, để cho ngắn gọn, nguyên lý điều hợp quang học. Theo nguyên lý này, khi ta có nhiều hình ảnh tách biệt với những màu sắc khác nhau nhưng tiếp giáp nhau, các hình ảnh và màu sắc ấy lại có khuynh hướng hòa nhập với nhau do tác động của ánh sáng di động lên cặp đồng tử của ta, và sư hòa nhập ấy gia tăng theo tỷ lệ thuận với khoảng cách và với tốc độ ánh sáng. Nguyên lý này chính là phương thức tìm kiếm để Monet thể hiện cảm quan của mình lên bức tranh, và tiến hành cuộc cuộc cách mạng ấn tượng như là một nhãn quan mới về hiện thực, một quan niệm mới về hội họa đánh dấu một đứt đoạn với mỹ quan cổ điển.

Giả dụ ta là một khách tới dự buổi khai mạc cuộc triển lãm hội họa ấn tượng với một nhãn quan cổ điển. Tiến về phía bức tranh “Rạng Đông” (Impression, soleil levant) đang được mọi người xúm xít chỉ trỏ bàn tán, ta đã thấy gì ? Ngoại trừ cái vòng trỏn đỏ cam phía trên gần chính giữa là tương đối rõ nét, còn lại chỉ là những khoảng loang lổ những quẹt sơn khi thì chồng chất lên nhau, khi thì quẹt dọc, khi thì quẹt ngang nom chẳng ra hình thù gì cả. Bức tranh này vẽ cái quái gì đây nhỉ ? Ta tự hỏi. Tìm đọc cái tựa “Impression, soleil levant”: “A, thì ra đây là một bức họa phong cảnh bình minh.” Thế nhưng, ngoại trừ cái vòng tròn màu đỏ cam và phần không gian nhuộm hồng ở đỉnh bức tranh cùng vài vết quẹt loằng ngoằng màu cam ngay phía dưới là gợi cho ta ý tưởng về mặt trời mọc ; còn lại toàn thể bức tranh chỉ là một hình ảnh nhập nhòe, hình chẳng ra hình, nét chẳng ra nét khiến ta khó hình dung nổi phong cảnh đó ra sao cả.

Cảm nghĩ này của ta chắc cũng là cảm nghĩ chung của đa số khách tới coi tranh bữa đó còn ôm theo nhãn quan cổ điển. Và cái cảm nghĩ này đã được nhà phê bình bảo thủ Emile Cardon nói lên dùm bằng những lời lẽ châm biếm trên tờ La Presse (29/04/1874) như sau : “Cái trường phái này loại bỏ hai điều : đường nét là cái không thể thiếu được nếu ta muốn đem lại cho một sinh vật hay một sự vật một hình thể, và màu sắc là diều giúp cho hình thể đó được hiện ra như thực. Hãy lấy sơn trắng hay sơn đen bôi lên ba phần tư một tấm bố, và phần còn lại màu vàng. Sau đó chỉ việc lấy cây cọ quệt những vệt xanh vệt đỏ trên đó, thế là là anh đã có một bức tranh ấn tượng về mùa xuân để các đệ tử tha hồ trầm trồ tán tụng.” (Cette école supprime deux choses : la ligne sans laquelle il est impossible de reproduire la forme d’un être animé ou d’une chose, et la couleur qui donne à la forme l’apparence de la réalité. Salissez de blanc ou de noir les trois quarts d’une toile, frottez les restes de jaune, piquez au hazard des taches rouges et bleues, vous aurez une impression de printemps devant laquelle les adeptes tombent en extase. Theo Dominique LOBSTEIN .- Au temps de l’impressionnisme 1863-1886, p.63 _ Gallimard 1993/ Réunion des Musées nationaux ).

Vậy là, mặc dù đã có sự cảnh báo của Monet với từ Impression, nhà phê bình Emile Cardon đã không chịu mở rộng tầm nhìn để đón nhận tính cách tân sáng tạo trong bức họa. Cứ khư khư ôm lấy các chuẩn mức của mỹ quan cổ điển, ông vẫn muốn đi tìm ở “Rạng Đông” một bức tranh hoàn chỉnh với chủ đề là một phong cảnh, một chân dung, một điển tích trong đó người nghệ sĩ thể hiện tài năng của mình bằng những hình thể, đường nét cân đối trong một bố cục pha trộn ánh sáng, màu sắc hài hòa. Do tầm nhìn còn bị giới hạn bởi lập trường bảo thủ ấy nên ông ta mới đánh giá bức họa của Monet bằng những lời lẽ mỉa mai riễu cợt. Ông đâu biết rằng điều mà ông cho là những vệt sơn quét của một thủ pháp lố lăng để lòe thiên hạ ấy, lại chính là kết quả của một khổ công tìm tòi của Monet dựa trên các phát hiện khoa học mới mẻ để thể hiện cái nhìn khai phá và thổi một luồng sinh khí mới cho hội họa.

Như đã trình bày ở trên, các họa sĩ ấn tượng không lấy chủ đề (le sujet ou motif) tức là cảnh vật hay nhân vật làm đối tượng chính cho tác phẩm của họ. Cũng như chất xúc tác để gây ra một phản ứng hóa học, ngoại cảnh hay chủ đề, với các họa sĩ ấn tượng, chỉ được coi như một thứ nền tạo điều kiện hay cơ hội cho họ phô bày các ấn tượng, cảm xúc chủ quan trong một khoảnh khắc và ở vào một thời điểm nào đó mà thôi. Mà muốn biểu thị các sắc thái biến đổi chập chờn thoáng hiện ấy : bàu không khí ẩm ướt sương mai, sóng nước long lanh, chân trời mặt biển nhập nhòa, cảnh vật nhòe nhoẹt …

woman in a garden, 1867, Claude_Monet_022

Hình bên: Người đàn bà trong vườn hoa, tranh của Claude Monet, 1867

Monet, cũng như các đồng môn của ông, đều thấy rằng không thể tiếp tục vay mượn các thủ pháp cổ điển được. Trái lại chỉ có phương pháp dựa trên nguyên lý điều hợp quang học (le principe de mélange optique) mà họ đã chịu khó bỏ công nghiên cứu và tìm hiểu mới giúp họ vững bước trên con đường sáng tạo. Cũng vi vậy các họa sĩ ấn tượng đã từ bỏ việc minh họa các hình thể với những đường nét khô khan cứng nhắc. Thay vào đó là những quẹt sơn kế cận, khi dọc, khi ngang, khi ngắn khi dài, có khi chồng xéo lên nhau để tạo ra những bóng dáng mơ hồ… Nhìn gần, những lát sơn quẹt này chỉ cho ta một hình ảnh nhòe nhoẹt chẳng rõ hình thù ra sao. Nhưng với khoảng cách, do tác động của ánh sáng, chúng lại hòa hợp với nhau và đem lại cho ta hình ảnh của một cảnh vật không ngừng chuyển động. Ngoài ra, cùng với việc bỏ rơi các hình thể đậm nét, họa sĩ ấn tượng cũng thay thế cách pha trộn màu sắc bài bản để tạo ra các khoảng không gian sáng tối, đậm nhạt bằng những quẹt sơn màu tiếp cận nhau hoặc chồng chất lên nhau. Hệ quả là, với khoảng cách và do tác dụng của truyền bá ánh sáng, những quẹt sơn màu này, thay vì là những vết loang lổ, lại truyền đạt cho ta cái ấn tượng của một bàu khí quyển với ánh sánh đang nhảy múa trên mặt biển lung linh sóng nước ; hoặc đem lại cho ta cảm giác đang đứng trước một thực tại sinh động như khi ta đưa mắt lắng nghetiếng gió reo vui trên cánh đồng rực đỏ hoa mào gà. (coi Monet, Les Coquelicots 1873).

Trên đây là trình bày sơ lược về ý nghĩa nội dung và về môt vài bí quyết thủ thuật trong ngôn ngữ sáng tạo của hội họa ấn tượng. Chúng tôi xin dành cho quí độc giả phần quan sát bức “Impression, soleil levant” (1) để thưởng lãm và đánh giá công trình nghiên cứu và học hỏi của trường phái ấn tượng đã đóng góp cho sự cách tân hội họa như thế nào.

NGUYỄN BẢO HƯNG
(Février – Avril 2011)

Chú thích
(1) – Có thể truy cập dễ dàng trên Google bằng cách gõ : ” soleil levant monet”. Ngoài ra quí vị nào có dịp viêng thăm Paris có thể tới coi tận mắt bức tranh của Monet trưng bày tại Le musée Marmottan Monet 2, rue Louis – Boilly, 75016 Paris. Mở cửa từ 10 giờ tới 18 giờ mỗi ngày, ngoại trừ thứ hai hàng tuần và hai ngày 1-5 và 25-12.

Tài liệu tham khảo :
Elisabeth LIEVRE-CROSSON : Comprendre la peinture – Les Esentiels Milan , Editions Milan 1999.
J.J LEVEQUES : Les Années Impressionnistes 1870-1889 – ACR Editions Internationales 1990.
Nadeije LANEYRE-DAGEN : Lire la peinture dans l’intimité des oeuvres – Collect. Comprendre et Connaỵtre, Edit. Larousse 2002.
Patricia FRIDER-CARASSAT & Isabelle MARCADE : Les Mouvements dans la peinture – Collect. Comprendre et Reconnaître, Edit. Larousse 2003.
Nicole TUFFELLI : L’art au XIXè siècle – Collect. Comprendre et Reconnaỵtre, Edit. Larousse 1987.
Dominique LOBSTEIN : Au temps de l’impressionnisme – Gallimard 1993/Réunions des Mussées Nationaux.
Laure-Caroline SEMMER : Les oeuvres-clés de l’Impressionnisme – Collect. Comprendre et Reconnaître, Edit. Larousse 2007.
Isabelle CAHN : Comment regarder Monet – Edit. Hazan, Paris 2010.

Advertisements

2 thoughts on “Impressionism, a Language of Creative Art / Tranh Ấn tượng, một Ngôn ngữ Hội họa Sáng tạo

  1. 1. Có thể thấy có sự tương tự khi so sánh trường phái Cổ điển và trường phái Ấn tượng trong Hội họa với Cơ học cổ điển Newton và Cơ học lượng tử trong Vật lí học. Hội họa Ấn tượng coi trọng cái Cảm xúc nảy sinh trong một khoảng khắc ngắn ngủi khi con mắt của tác giả TƯƠNG TÁC với cảnh vật. Điều này tương tự như cái cảm xúc “sét đánh” nảy sinh trong bạn khi trên đường phố bạn bất chợt bắt gặp một người phụ nữ đẹp.

    2. Con người tìm kiếm những ngôn ngữ BỔ SUNG cho loại ngôn ngữ thông thường ở nơi các loại hình nghệ thuật như Hội họa, Âm nhạc, Văn chương, Thơ ca, Kiến trúc, Điêu khắc, Sân khấu, Điện ảnh v.v… Đến lượt mình, mỗi loại hình nghệ thuật này lại tìm kiếm các trường phái khác nhau nhằm đa dạng hóa ngôn ngữ biểu hiện của chúng. Mỗi trường phái nghệ thuật đều có triết lý riêng và những giá trị riêng.

    3. Trong âm nhạc cũng hình thành trường phái Ấn tượng mà điển hình là các tác phẩm của các nhà soạn nhạc như Claude Debussy, Maurice Ravel…Tuy nhiên tôi cũng chưa hiểu có sự tương đồng hay không của khái niệm Impression trong hội họa và âm nhạc vì các kênh tác động của hai loại hình nghệ thuật này là khác nhau: thị giác và thính giác. Tôi chỉ biết một điều chắc chắn rằng: khi thưởng lãm một bức tranh thì các cảm xúc đột sinh trong tôi cũng giống như khi tôi thưởng thức một tác phẩm âm nhạc vậy.

    4. Mặc dù đã có Internet băng thông rộng, chúng ta vẫn cần phải đi du lịch, vì du lịch khi coi nó là một loại hình nghệ thuật thì đây là một nghệ thuật tác động cùng lúc tới tất cả các kênh giác quan của chúng ta: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác (ẩm thực đường phố (!)…), và nhiều “thứ giác” nữa (!). Du lịch mạo hiểm cũng có những giá trị riêng của nó. Khách quốc tế khi dạo chơi ở Việt Nam thì cũng chẳng khác gì du lịch mạo hiểm là mấy (!).

    5. Các bạn thử tượng tượng xem loài người có cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa gì không nếu thiếu vắng hoàn toàn các loại hình nghệ thuật ? Einstein có nói đại ý: chúng ta phải tôn vinh các nghệ sỹ trước khi tôn vinh các nhà khoa học. Ý tại ngôn ngoại, bạn hiểu ý tứ thâm sâu của câu nói này như thế nào ? Chắc chắn nó sẽ phụ thuộc vào cái ” văn hóa riêng” có ở nơi bạn. Khoa học và nghệ thuật tôn vinh con người và đem đến cho chúng ta các giá trị của CHÂN – THIỆN – MỸ.

    Số lượt thích

  2. Xin giới thiệu và chia sẻ với các bạn một masterpiece thuộc trường phái Ấn tượng của nhà soạn nhạc danh tiếng người Pháp Maurice Ravel: Bản Boléro tai địa chỉ trên YouTube: Wiener Philharmoniker – Maurice Ravel – Bolero – Gustavo Dudamel – HD – Music Sheet Download

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s