3 thoughts on “NTM 45 | Lương y Nguyễn Đức Cần (2)”
Saigon, sáng thứ BẢY 11:30 A.M. ngày 11 tháng 10 năm 2025
Kính gửi Giáo sư Phạm Việt Hưng và tập thể kênh Nhận Thức Mới !
Nói tôn giáo (religion) là “nguồn gốc” (origins) của khoa học (science) không có nghĩa là tôn giáo tạo ra khoa học, mà là các tư tưởng, cơ chế và môi trường tôn giáo đã góp phần hình thành cách con người suy nghĩ khoa học. Dưới đây là những bằng chứng lịch sử và luận cứ chính cho thấy khoa học có nguồn gốc sâu xa trong tôn giáo.
I. Trong nền văn minh cổ đại
1. Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa
Các tri thức thiên văn, toán học, y học ban đầu đều phục vụ nghi lễ tôn giáo, lịch nông nghiệp, và chiêm tinh học.
Ví dụ:
Lịch Ai Cập ra đời để xác định ngày lễ thần Ra, dựa vào chu kỳ sao Sirius.
Chiêm tinh Babylon phát triển các bảng quan sát thiên văn, từ đó nảy sinh thiên văn học, khoa học.
Trung Hoa cổ đại có 天人相應 Thiên Nhân Tương Ứng, các đài quan sát lập ra để “đọc ý trời”.
Các lĩnh vực như thiên văn, y học, toán học ban đầu không tách rời khỏi tôn giáo, mà là phương tiện để hiểu và phục vụ “ý trời”.
II. Thời Trung Cổ châu Âu: Cơ đốc giáo và sự ra đời của “khoa học hiện đại”
Đây là bằng chứng mạnh nhất cho thấy khoa học hiện đại có nguồn gốc trong thế giới quan tôn giáo.
1. Niềm tin tôn giáo nền tảng cho tư duy khoa học
Các nhà tư tưởng Thiên Chúa giáo tin rằng:
“Vũ trụ là sản phẩm của một Thiên Chúa hợp lý — nên có thể được hiểu bằng lý trí.”
Chính niềm tin này khiến họ tìm kiếm quy luật tự nhiên, vì họ tin Thiên Chúa không hành động hỗn loạn, mà theo trật tự nhất định.
Robert Boyle (cha đẻ của hóa học hiện đại) nghĩ rằng
“And when with excellent Microscopes I discern in otherwise invisible Objects – the Inimitable Subtlety of Nature’s curious workmanship; And when, in a word, by the help of Anatomicall Knives, and the light of Chymicall Furnaces, I study the Book of Nature, and consult the Glosses of Aristotle, Epicurus, Paracelsus, Harvey, Helmont, and other learn’d Expositors of that instructive Volumne; I find my self oftentimes reduc’d to exclaim with the Psalmist, ‘How manifold are thy works, O Lord!’.” – The Excellency of Theology, compared with Natural Philosophy,1674.
“Và khi, nhờ những Kính Hiển Vi tuyệt hảo, tôi nhận thấy trong các Vật Thể vốn vô hình đối với mắt thường – sự tinh vi vô song trong tay nghề kỳ diệu của Tự Nhiên; Và khi, nói ngắn gọn, nhờ dao giải phẫu, và ánh sáng từ các Lò Luyện Hóa Học, tôi chuyên tâm khảo cứu Quyển Sách của Tự Nhiên, đồng thời tra cứu những chú giải của Aristotle, Epicurus, Paracelsus, Harvey, Helmont cùng các học giả uyên bác khác – những người chú giải quyển sách dạy dỗ đó; thì tôi thường thấy mình không thể không thốt lên cùng với Thi Thiên rằng: ‘Lạy Chúa, công trình của Ngài thật muôn phần kỳ diệu!’.” – tác phẩm Sự Cao Quý của Thần Học, So Sánh với Triết Học Tự Nhiên, ấn bản năm 1674.
Isaac Newton nghĩ rằng
“He rules all things, not as the soul of the world, but as Lord over all; and on account of His dominion He is wont to be called Lord God παντοκράτωρ, or Universal Ruler; for God is a relative word, and has reference to servants.” — Isaac Newton, General Scholium, Principia Mathematica, 1713 / 1726 Editions.
“Thiên Chúa cai quản muôn vật, không phải như linh hồn của thế giới, mà như Chúa Tể của toàn thể vũ trụ; và bởi quyền tể trị ấy, Ngài được gọi là Đức Chúa Trời Toàn Năng (παντοκράτωρ, Pantokratōr — Đấng Cai Trị Muôn Loài). Vì ‘Thiên Chúa’ là một danh xưng mang tính tương quan, chỉ có ý nghĩa khi được nói đến trong mối liên hệ với các tôi tớ của Ngài.” – Isaac Newton,Chú Giải Tổng Quát,Các Nguyên Lý Toán Học Của Triết Học Tự Nhiên, các ấn bản năm 1713 – 1726.
2. Các đại học Trung Cổ đều do Giáo hội lập ra
Các đại học trung tâm như Oxford, Paris, Bologna đều là các viện tôn giáo.
Ngôn ngữ giảng dạy là Latin của nhà thờ, và môn học chính là Triết Học Kinh Viện (Scholasticism) — kết hợp thần học với lý luận Logic của Aristotle.
Chính trong môi trường này, Phương Pháp Lý Luận, Phản Biện, Hệ Thống Hóa Tri Thức (cơ sở của Phương Pháp Khoa Học sau này) được hình thành.
3. Các nhà khoa học tiên phong đều là người sùng đạo:
Roger Bacon (thế kỷ 13): Đề cao quan sát và thí nghiệm, Tu sĩ dòng Francisco
Nicolaus Copernicus: Thuyết nhật tâm, Linh mục Công giáo
Johannes Kepler: Quỹ đạo hành tinh elip, Tin rằng “Chúa viết toán học vào vũ trụ”
Isaac Newton: Cơ học cổ điển, Tận hiến cả đời cho nghiên cứu Kinh Thánh
Gregor Mendel: Di truyền học, Tu sĩ dòng Augustino
1. Isaac Newton (1643–1727) — cha đẻ của Cơ Học Cổ Điển
“This most beautiful system of the sun, planets, and comets could only proceed from the counsel and dominion of an intelligent and powerful Being.” — Isaac Newton, Principia Mathematica, 1687.
“Cái hệ thống tuyệt mỹ của Mặt Trời, các hành tinh và sao chổi này chỉ có thể được tạo nên bởi ý chí và quyền năng của một Đấng Thông Tuệ Toàn Năng.” — Isaac Newton, Nguyên Tắc Toán Học, ấn bản năm 1687.
Newton coi việc khám phá quy luật vật lý là khám phá tác phẩm của Thượng Đế.
2. Johannes Kepler (1571–1630) — người tìm ra quỹ đạo elip của hành tinh
“I was merely thinking God’s thoughts after Him.” — Johannes Kepler, Letter to Michael Maestlin, 1595.
“Tôi chỉ đang suy nghĩ lại những ý nghĩ của Thượng Đế sau Ngài.” — Johannes Kepler, Lá Thư gửi Michael Maestlin, ấn bản năm 1595.
Kepler xem toán học và thiên văn là cách con người tiếp cận tư tưởng của Đấng Sáng Tạo.
3. Robert Boyle (1627–1691) — cha đẻ của Hóa Học Hiện Đại
“When with bold telescopes I survey the old and newly discovered stars and planets, I find myself transported by wonder to the Author of all this beauty.” — Robert Boyle, Works, Volumn 8, 1772.
“Khi dùng kính viễn vọng để khảo sát những vì sao và hành tinh, tôi bị cuốn hút bởi sự kinh ngạc đến với Đấng đã sáng tạo nên tất cả vẻ đẹp này.” — Robert Boyle, Các Tác Phẩm, Tập. 8, ấn bản năm 1772.
Boyle xem “Nghiên cứu khoa học là hành vi tôn vinh Đấng Tạo Hóa” (“The study of the Booke of Nature, is one of the Ends of the Institution of the Sabbath.”)
4. Louis Pasteur (1822–1895) — người sáng lập Vi Sinh Học
“The more I study nature, the more I stand amazed at the work of the Creator.” – Louis Pasteur, quoted in René Vallery-Radot, The Life of Pasteur, 1902.
“Càng nghiên cứu thiên nhiên, tôi càng kinh ngạc trước công trình của Đấng Sáng Tạo.” – Louis Pasteur, trích lục trong René Vallery-Radot, Cuộc Đời Pasteur, ấn bản năm 1902.
Pasteur là người Công giáo sùng đạo, xem khám phá khoa học là một dạng tôn kính Thiên Chúa.
5. Albert Einstein (1879–1955) — cha đẻ Thuyết Tương Đối
“Science without religion is lame, religion without science is blind.” – Albert Einstein, Science, Philosophy and Religion, 1941.
“Khoa học không có tôn giáo thì què quặt; tôn giáo không có khoa học thì mù lòa.” – Albert Einstein, Khoa Học, Triết Học và Tôn Giáo, ấn bản năm 1941.
Dù không theo tôn giáo cụ thể, Einstein tin rằng tinh thần tôn giáo – niềm tin vào trật tự và ý nghĩa của vũ trụ – là nền tảng của khoa học.
6. Max Planck (1858–1947) — người cha đẻ Cơ Học Lượng Tử
“Both religion and science require a belief in God. For believers, God is in the beginning, and for physicists, God is at the end of all our considerations.” – Max Planck, Religion and Natural Science, 1937.
“Cả tôn giáo lẫn khoa học đều đòi hỏi niềm tin vào Thượng Đế. Với người có đạo, Ngài ở khởi đầu; với nhà vật lý, Ngài ở cuối cùng của mọi suy tưởng.” – Max Planck, Religion and Natural Science, ấn bản năm 1937.
Max Planck coi Thượng Đế là nguyên lý cuối cùng thống nhất khoa học và tôn giáo.
7. Francis Bacon (1561–1626) — cha đẻ của phương pháp khoa học thực nghiệm
“A little philosophy inclineth man’s mind to atheism; but depth in philosophy bringeth men’s minds about to religion.” – Francis Bacon, Essays: “Of Atheism”, 1601.
“Triết học nông cạn dễ khiến con người nghiêng về vô thần; nhưng hiểu sâu triết học lại đưa tâm trí con người trở về với tôn giáo.” – Francis Bacon, Tập Luận Văn: “Bàn Về Chủ Nghĩa Vô Thần”, ấn bản 1601.
Bacon cho rằng càng hiểu sâu quy luật tự nhiên, con người càng nhận ra sự hiện diện của Thượng Đế.
8.Galileo Galilei (1564–1642) — cha đẻ của Khoa Học Quan Sát
“The laws of nature are written by the hand of God in the language of mathematics.” – Galileo Galilei, Letter to the Grand Duchess Christina, 1615.
“Các quy luật của tự nhiên được bàn tay của Thượng Đế viết ra bằng ngôn ngữ toán học.” – Galileo Galilei, Thư Gửi Nữ Công Tước Cao Quý Christina, ấn bản 1615.
Galileo xem khoa học là đọc bản kinh của Thượng Đế viết trong thiên nhiên.
9. James Clerk Maxwell (1831–1879) — người đặt nền móng Điện Từ Học
“I think men of science as well as other men need to learn from Christ, and I think Christians whose minds are scientific are bound to study science that their view of the glory of God may be as extensive as their being is capable.” – Letter from Maxwell to a friend, 1855.
“Tôi nghĩ các nhà khoa học cũng như bao người khác cần học từ Đức Kitô; và các Kitô hữu có tâm trí khoa học phải nghiên cứu khoa học để tầm nhìn về vinh quang Thiên Chúa của họ được rộng bằng chính năng lực con người.” – Thư từ Maxwell gửi một người bạn, ấn bản năm 1855.
10. Nicholas Copernicus (1473–1543) — người khai sinh Thuyết Nhật Tâm
“To know the mighty works of God, to comprehend His wisdom and majesty and power; to appreciate, in degree, the wonderful workings of His laws — surely all this must be a pleasing and acceptable mode of worship to the Most High.” – Nicolaus Copernicus, De revolutionibus orbium coelestium, 1543.
“Được biết đến những công trình vĩ đại của Thượng Đế, hiểu sự khôn ngoan, uy nghi và quyền năng của Ngài, nhận ra sự vận hành kỳ diệu của luật pháp Ngài — đó hẳn là một hình thức thờ phượng đẹp lòng Đấng Tối Cao.”Nicolaus Copernicus, Về Sự Chuyển Động Của Các Tinh Cầu, ấn bản năm 1543.
Kính gửi Giáo sư Phạm Việt Hưng và kênh Nhận Thức Mới !
Đông y có 2 phương pháp chữa bệnh dùng Thuốc (sử dụng thuốc hữu hình) và KHÔNG DÙNG THUỐC (sử dùng thuốc Vô hình). Ở Việt Nam cụ Nguyễn Đức Cần còn gọi là cụ Trưởng Cần, làng Đại Yên, Ba Đình (cũ), Hà Nội đạt đỉnh cao nhất về chữa bệnh không dùng thuốc đó là Khí hay năng lượng sinh học của phát ra tác động vào tạng phủ bị bệnh, điều chỉnh lại công năng hoạt động của chúng trở thành bình thường mà bệnh đỡ, khỏi. Phương pháp dùng thuốc cũng tác động như vậy nhưng phải thông qua quá trình biến đổi từ hữu hình sang vô hình.
Nền tảng của Đông y xây dựng trên các quy luật vận động của Vũ trụ, cơ chế sinh lý người, gọi là các Học thuyết Cổ học như Học thuyết Âm Dương, Tam tài, Tứ trụ, Ngũ hành, Lục khí, Kinh dịch, Cửu tinh, Thập Thiên can, Thập nhị Địa chi, chi nạp âm, 24 sơn 24 tiết khí… trong đó có các Tiên đề (như Âm dương, Ngũ hành…), từ đó xây dựng nên các học thuyết khác. Mỗi học thuyết giải thích quy luật vận động của Vũ trụ, Người theo 1 góc nhất định, tổng thể các học thuyết cổ học phối hợp với nhau mới có thể giải thích tiệm cận đến các quy luật vận động của vũ trụ, người nhưng khi đó nó trở thành quá phức tạp vượt qua khả năng trí tuệ loài người.
Đối với các nhà Tu Mật tông như cụ Trưởng Cần thông qua quá trình tu luyện mà có khả năng thông với Trời (Vũ trụ), thu được khí phù hợp (năng lượng cần thiết cho 1 việc cụ thể) rồi phát ra khí, khí này tác động lên người bệnh mà bệnh khỏi. Cụ có khả năng tìm ra lời giải cho 1 ca bệnh gần như tức thời mà người thầy thuốc khác phải mất rất nhiều thời gian và sức lực để thu thập triệu chứng, phân tích nguyên nhân gây bệnh, xây dựng phương thuốc, phương huyệt điều trị.
Các bài thuyết trình của gs Phạm Việt Hưng và kênh Nhận Thức Mới có rất nhiều điểm tương đồng với triết lý của các học thuyết cổ học như Tiên đề, Định lý, Định lý bất toàn, chuyển động… THẬT KỲ DIỆU.
Tôi biết ơn công sức và nhiệt huyết của Giáo sư và kênh NTM để truyền bá kiến thức thật cho cộng đồng!
Kính gửi BS Đông y Nguyễn Quốc Hùng,
Xin trân trọng cảm ơn bác sĩ Đông y Nguyễn Quốc Hùng vì những ý kiến có ý nghĩa khoa học, góp phần làm sáng tỏ chân lý, sáng tỏ cơ chế bệnh lý của con người.
Không biết ông đã post ý kiến này lên mục comment của Nhận Thức Mới chưa? Nếu chưa, xin ông post lên Video mới nhất của NTM, về phép lạ chữa bệnh của Cụ Nguyễn Đức Cần.
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn ông, mong ông tiếp tục đóng góp ý kiến trên NTM và trên trang PVH’s Home.
Phạm Việt Hưng
Saigon, sáng thứ BẢY 11:30 A.M. ngày 11 tháng 10 năm 2025
Kính gửi Giáo sư Phạm Việt Hưng và tập thể kênh Nhận Thức Mới !
Nói tôn giáo (religion) là “nguồn gốc” (origins) của khoa học (science) không có nghĩa là tôn giáo tạo ra khoa học, mà là các tư tưởng, cơ chế và môi trường tôn giáo đã góp phần hình thành cách con người suy nghĩ khoa học. Dưới đây là những bằng chứng lịch sử và luận cứ chính cho thấy khoa học có nguồn gốc sâu xa trong tôn giáo.
I. Trong nền văn minh cổ đại
1. Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa
Các tri thức thiên văn, toán học, y học ban đầu đều phục vụ nghi lễ tôn giáo, lịch nông nghiệp, và chiêm tinh học.
Ví dụ:
Lịch Ai Cập ra đời để xác định ngày lễ thần Ra, dựa vào chu kỳ sao Sirius.
Chiêm tinh Babylon phát triển các bảng quan sát thiên văn, từ đó nảy sinh thiên văn học, khoa học.
Trung Hoa cổ đại có 天人相應 Thiên Nhân Tương Ứng, các đài quan sát lập ra để “đọc ý trời”.
Các lĩnh vực như thiên văn, y học, toán học ban đầu không tách rời khỏi tôn giáo, mà là phương tiện để hiểu và phục vụ “ý trời”.
II. Thời Trung Cổ châu Âu: Cơ đốc giáo và sự ra đời của “khoa học hiện đại”
Đây là bằng chứng mạnh nhất cho thấy khoa học hiện đại có nguồn gốc trong thế giới quan tôn giáo.
1. Niềm tin tôn giáo nền tảng cho tư duy khoa học
Các nhà tư tưởng Thiên Chúa giáo tin rằng:
“Vũ trụ là sản phẩm của một Thiên Chúa hợp lý — nên có thể được hiểu bằng lý trí.”
Chính niềm tin này khiến họ tìm kiếm quy luật tự nhiên, vì họ tin Thiên Chúa không hành động hỗn loạn, mà theo trật tự nhất định.
Robert Boyle (cha đẻ của hóa học hiện đại) nghĩ rằng
“And when with excellent Microscopes I discern in otherwise invisible Objects – the Inimitable Subtlety of Nature’s curious workmanship; And when, in a word, by the help of Anatomicall Knives, and the light of Chymicall Furnaces, I study the Book of Nature, and consult the Glosses of Aristotle, Epicurus, Paracelsus, Harvey, Helmont, and other learn’d Expositors of that instructive Volumne; I find my self oftentimes reduc’d to exclaim with the Psalmist, ‘How manifold are thy works, O Lord!’.” – The Excellency of Theology, compared with Natural Philosophy,1674.
“Và khi, nhờ những Kính Hiển Vi tuyệt hảo, tôi nhận thấy trong các Vật Thể vốn vô hình đối với mắt thường – sự tinh vi vô song trong tay nghề kỳ diệu của Tự Nhiên; Và khi, nói ngắn gọn, nhờ dao giải phẫu, và ánh sáng từ các Lò Luyện Hóa Học, tôi chuyên tâm khảo cứu Quyển Sách của Tự Nhiên, đồng thời tra cứu những chú giải của Aristotle, Epicurus, Paracelsus, Harvey, Helmont cùng các học giả uyên bác khác – những người chú giải quyển sách dạy dỗ đó; thì tôi thường thấy mình không thể không thốt lên cùng với Thi Thiên rằng: ‘Lạy Chúa, công trình của Ngài thật muôn phần kỳ diệu!’.” – tác phẩm Sự Cao Quý của Thần Học, So Sánh với Triết Học Tự Nhiên, ấn bản năm 1674.
Isaac Newton nghĩ rằng
“He rules all things, not as the soul of the world, but as Lord over all; and on account of His dominion He is wont to be called Lord God παντοκράτωρ, or Universal Ruler; for God is a relative word, and has reference to servants.” — Isaac Newton, General Scholium, Principia Mathematica, 1713 / 1726 Editions.
“Thiên Chúa cai quản muôn vật, không phải như linh hồn của thế giới, mà như Chúa Tể của toàn thể vũ trụ; và bởi quyền tể trị ấy, Ngài được gọi là Đức Chúa Trời Toàn Năng (παντοκράτωρ, Pantokratōr — Đấng Cai Trị Muôn Loài). Vì ‘Thiên Chúa’ là một danh xưng mang tính tương quan, chỉ có ý nghĩa khi được nói đến trong mối liên hệ với các tôi tớ của Ngài.” – Isaac Newton, Chú Giải Tổng Quát, Các Nguyên Lý Toán Học Của Triết Học Tự Nhiên, các ấn bản năm 1713 – 1726.
2. Các đại học Trung Cổ đều do Giáo hội lập ra
Các đại học trung tâm như Oxford, Paris, Bologna đều là các viện tôn giáo.
Ngôn ngữ giảng dạy là Latin của nhà thờ, và môn học chính là Triết Học Kinh Viện (Scholasticism) — kết hợp thần học với lý luận Logic của Aristotle.
Chính trong môi trường này, Phương Pháp Lý Luận, Phản Biện, Hệ Thống Hóa Tri Thức (cơ sở của Phương Pháp Khoa Học sau này) được hình thành.
3. Các nhà khoa học tiên phong đều là người sùng đạo:
Roger Bacon (thế kỷ 13): Đề cao quan sát và thí nghiệm, Tu sĩ dòng Francisco
Nicolaus Copernicus: Thuyết nhật tâm, Linh mục Công giáo
Johannes Kepler: Quỹ đạo hành tinh elip, Tin rằng “Chúa viết toán học vào vũ trụ”
Isaac Newton: Cơ học cổ điển, Tận hiến cả đời cho nghiên cứu Kinh Thánh
Gregor Mendel: Di truyền học, Tu sĩ dòng Augustino
1. Isaac Newton (1643–1727) — cha đẻ của Cơ Học Cổ Điển
“This most beautiful system of the sun, planets, and comets could only proceed from the counsel and dominion of an intelligent and powerful Being.” — Isaac Newton, Principia Mathematica, 1687.
“Cái hệ thống tuyệt mỹ của Mặt Trời, các hành tinh và sao chổi này chỉ có thể được tạo nên bởi ý chí và quyền năng của một Đấng Thông Tuệ Toàn Năng.” — Isaac Newton, Nguyên Tắc Toán Học, ấn bản năm 1687.
Newton coi việc khám phá quy luật vật lý là khám phá tác phẩm của Thượng Đế.
2. Johannes Kepler (1571–1630) — người tìm ra quỹ đạo elip của hành tinh
“I was merely thinking God’s thoughts after Him.” — Johannes Kepler, Letter to Michael Maestlin, 1595.
“Tôi chỉ đang suy nghĩ lại những ý nghĩ của Thượng Đế sau Ngài.” — Johannes Kepler, Lá Thư gửi Michael Maestlin, ấn bản năm 1595.
Kepler xem toán học và thiên văn là cách con người tiếp cận tư tưởng của Đấng Sáng Tạo.
3. Robert Boyle (1627–1691) — cha đẻ của Hóa Học Hiện Đại
“When with bold telescopes I survey the old and newly discovered stars and planets, I find myself transported by wonder to the Author of all this beauty.” — Robert Boyle, Works, Volumn 8, 1772.
“Khi dùng kính viễn vọng để khảo sát những vì sao và hành tinh, tôi bị cuốn hút bởi sự kinh ngạc đến với Đấng đã sáng tạo nên tất cả vẻ đẹp này.” — Robert Boyle, Các Tác Phẩm, Tập. 8, ấn bản năm 1772.
Boyle xem “Nghiên cứu khoa học là hành vi tôn vinh Đấng Tạo Hóa” (“The study of the Booke of Nature, is one of the Ends of the Institution of the Sabbath.”)
4. Louis Pasteur (1822–1895) — người sáng lập Vi Sinh Học
“The more I study nature, the more I stand amazed at the work of the Creator.” – Louis Pasteur, quoted in René Vallery-Radot, The Life of Pasteur, 1902.
“Càng nghiên cứu thiên nhiên, tôi càng kinh ngạc trước công trình của Đấng Sáng Tạo.” – Louis Pasteur, trích lục trong René Vallery-Radot, Cuộc Đời Pasteur, ấn bản năm 1902.
Pasteur là người Công giáo sùng đạo, xem khám phá khoa học là một dạng tôn kính Thiên Chúa.
5. Albert Einstein (1879–1955) — cha đẻ Thuyết Tương Đối
“Science without religion is lame, religion without science is blind.” – Albert Einstein, Science, Philosophy and Religion, 1941.
“Khoa học không có tôn giáo thì què quặt; tôn giáo không có khoa học thì mù lòa.” – Albert Einstein, Khoa Học, Triết Học và Tôn Giáo, ấn bản năm 1941.
Dù không theo tôn giáo cụ thể, Einstein tin rằng tinh thần tôn giáo – niềm tin vào trật tự và ý nghĩa của vũ trụ – là nền tảng của khoa học.
6. Max Planck (1858–1947) — người cha đẻ Cơ Học Lượng Tử
“Both religion and science require a belief in God. For believers, God is in the beginning, and for physicists, God is at the end of all our considerations.” – Max Planck, Religion and Natural Science, 1937.
“Cả tôn giáo lẫn khoa học đều đòi hỏi niềm tin vào Thượng Đế. Với người có đạo, Ngài ở khởi đầu; với nhà vật lý, Ngài ở cuối cùng của mọi suy tưởng.” – Max Planck, Religion and Natural Science, ấn bản năm 1937.
Max Planck coi Thượng Đế là nguyên lý cuối cùng thống nhất khoa học và tôn giáo.
7. Francis Bacon (1561–1626) — cha đẻ của phương pháp khoa học thực nghiệm
“A little philosophy inclineth man’s mind to atheism; but depth in philosophy bringeth men’s minds about to religion.” – Francis Bacon, Essays: “Of Atheism”, 1601.
“Triết học nông cạn dễ khiến con người nghiêng về vô thần; nhưng hiểu sâu triết học lại đưa tâm trí con người trở về với tôn giáo.” – Francis Bacon, Tập Luận Văn: “Bàn Về Chủ Nghĩa Vô Thần”, ấn bản 1601.
Bacon cho rằng càng hiểu sâu quy luật tự nhiên, con người càng nhận ra sự hiện diện của Thượng Đế.
8. Galileo Galilei (1564–1642) — cha đẻ của Khoa Học Quan Sát
“The laws of nature are written by the hand of God in the language of mathematics.” – Galileo Galilei, Letter to the Grand Duchess Christina, 1615.
“Các quy luật của tự nhiên được bàn tay của Thượng Đế viết ra bằng ngôn ngữ toán học.” – Galileo Galilei, Thư Gửi Nữ Công Tước Cao Quý Christina, ấn bản 1615.
Galileo xem khoa học là đọc bản kinh của Thượng Đế viết trong thiên nhiên.
9. James Clerk Maxwell (1831–1879) — người đặt nền móng Điện Từ Học
“I think men of science as well as other men need to learn from Christ, and I think Christians whose minds are scientific are bound to study science that their view of the glory of God may be as extensive as their being is capable.” – Letter from Maxwell to a friend, 1855.
“Tôi nghĩ các nhà khoa học cũng như bao người khác cần học từ Đức Kitô; và các Kitô hữu có tâm trí khoa học phải nghiên cứu khoa học để tầm nhìn về vinh quang Thiên Chúa của họ được rộng bằng chính năng lực con người.” – Thư từ Maxwell gửi một người bạn, ấn bản năm 1855.
10. Nicholas Copernicus (1473–1543) — người khai sinh Thuyết Nhật Tâm
“To know the mighty works of God, to comprehend His wisdom and majesty and power; to appreciate, in degree, the wonderful workings of His laws — surely all this must be a pleasing and acceptable mode of worship to the Most High.” – Nicolaus Copernicus, De revolutionibus orbium coelestium, 1543.
“Được biết đến những công trình vĩ đại của Thượng Đế, hiểu sự khôn ngoan, uy nghi và quyền năng của Ngài, nhận ra sự vận hành kỳ diệu của luật pháp Ngài — đó hẳn là một hình thức thờ phượng đẹp lòng Đấng Tối Cao.” Nicolaus Copernicus, Về Sự Chuyển Động Của Các Tinh Cầu, ấn bản năm 1543.
ThíchThích
Kính gửi Giáo sư Phạm Việt Hưng và kênh Nhận Thức Mới !
Đông y có 2 phương pháp chữa bệnh dùng Thuốc (sử dụng thuốc hữu hình) và KHÔNG DÙNG THUỐC (sử dùng thuốc Vô hình). Ở Việt Nam cụ Nguyễn Đức Cần còn gọi là cụ Trưởng Cần, làng Đại Yên, Ba Đình (cũ), Hà Nội đạt đỉnh cao nhất về chữa bệnh không dùng thuốc đó là Khí hay năng lượng sinh học của phát ra tác động vào tạng phủ bị bệnh, điều chỉnh lại công năng hoạt động của chúng trở thành bình thường mà bệnh đỡ, khỏi. Phương pháp dùng thuốc cũng tác động như vậy nhưng phải thông qua quá trình biến đổi từ hữu hình sang vô hình.
Nền tảng của Đông y xây dựng trên các quy luật vận động của Vũ trụ, cơ chế sinh lý người, gọi là các Học thuyết Cổ học như Học thuyết Âm Dương, Tam tài, Tứ trụ, Ngũ hành, Lục khí, Kinh dịch, Cửu tinh, Thập Thiên can, Thập nhị Địa chi, chi nạp âm, 24 sơn 24 tiết khí… trong đó có các Tiên đề (như Âm dương, Ngũ hành…), từ đó xây dựng nên các học thuyết khác. Mỗi học thuyết giải thích quy luật vận động của Vũ trụ, Người theo 1 góc nhất định, tổng thể các học thuyết cổ học phối hợp với nhau mới có thể giải thích tiệm cận đến các quy luật vận động của vũ trụ, người nhưng khi đó nó trở thành quá phức tạp vượt qua khả năng trí tuệ loài người.
Đối với các nhà Tu Mật tông như cụ Trưởng Cần thông qua quá trình tu luyện mà có khả năng thông với Trời (Vũ trụ), thu được khí phù hợp (năng lượng cần thiết cho 1 việc cụ thể) rồi phát ra khí, khí này tác động lên người bệnh mà bệnh khỏi. Cụ có khả năng tìm ra lời giải cho 1 ca bệnh gần như tức thời mà người thầy thuốc khác phải mất rất nhiều thời gian và sức lực để thu thập triệu chứng, phân tích nguyên nhân gây bệnh, xây dựng phương thuốc, phương huyệt điều trị.
Các bài thuyết trình của gs Phạm Việt Hưng và kênh Nhận Thức Mới có rất nhiều điểm tương đồng với triết lý của các học thuyết cổ học như Tiên đề, Định lý, Định lý bất toàn, chuyển động… THẬT KỲ DIỆU.
Tôi biết ơn công sức và nhiệt huyết của Giáo sư và kênh NTM để truyền bá kiến thức thật cho cộng đồng!
ThíchThích
Kính gửi BS Đông y Nguyễn Quốc Hùng,
Xin trân trọng cảm ơn bác sĩ Đông y Nguyễn Quốc Hùng vì những ý kiến có ý nghĩa khoa học, góp phần làm sáng tỏ chân lý, sáng tỏ cơ chế bệnh lý của con người.
Không biết ông đã post ý kiến này lên mục comment của Nhận Thức Mới chưa? Nếu chưa, xin ông post lên Video mới nhất của NTM, về phép lạ chữa bệnh của Cụ Nguyễn Đức Cần.
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn ông, mong ông tiếp tục đóng góp ý kiến trên NTM và trên trang PVH’s Home.
Phạm Việt Hưng
ThíchThích