5. Hệ Điều Hành & Chủ Thể Điều Khiển / Nhà Điều Hành (Operating System & Control Subject / Operator)
1. Nói đến Trực Giác, ngoài Blaise Pascal (1623 – 1662) và Albert Einstein (1879 – 1955), người nói nhiều đến vai trò của Trực Giác nhất trong việc nhận thức của tư duy chính là Triết Gia người Pháp Henri Bergson (1859 – 1941) người đã đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1927, quan điểm về Trực Giác của Henri Bergson và Phật Giáo Thiền Thông Trung Hoa là thống nhất không có gì khác biệt, trong đó Trực Giác đóng vai trò là “thâm nhập thực tế và cảm nhận” chứ không chỉ là đứng ngoài quan sát và dùng lý trí (reason, raison) phân tích hoặc chỉ dùng tư duy luận lý (tư duy logic) và tư duy lý luận (reasoning, raisonnement).
Đối với Phật Giáo Thiền Tông Trung Hoa, Lý Luận chỉ là Hý Luận (nói chơi cho vui) bởi vì Lý luận là con đẻ của Tư tưởng & Ngôn ngữ / Ngôn từ – Trực Giác phải đi thẳng tới Thực Tại mà Kinh Nghiệm (nắm bắt trực tiếp, trực nhận) lấy Thực Tại bằng cái Tâm và cái Trí siêu việt MÀ KHÔNG THÔNG QUA HÀNG RÀO NGÔN TỪ TỨC LÝ LUẬN.
Ví dụ thứ nhất: người con được người cha bảo bọc kỹ lưỡng quá nên nó không biết thế giới bên ngoài, ngày nọ, nó hỏi cha rằng: “NÓNG là thế nào?”, người cha trả lời giải thích và phân tích bằng nhiều từ ngữ khác nhau nhưng nó không biết NÓNG là thế nào, nhưng nếu gặp Thiền Sư thì ông chỉ bảo nó chạm vào thanh sắt nung trong lò chìa ra ngoài, khi đó nó GIẬT BẮN NGƯỜI khi chạm que sắt, Thiền Sư chỉ mỉm cười nói: “NÓNG là thế đó !”
Ví dụ thứ nhì: một Thiền Sư viết một bức Thư Pháp, chú tiểu bên cạnh cứ lắc đầu, Thiền Sư viết rồi lại vứt đi và viết lại, thình lình chú tiểu đi tiểu tiện, Thiền Sư KHOAN KHOÁI không còn bị KIỂM SOÁT và được GIẢI PHÓNG NĂNG LỰC nên cầm bút lên phóng bút ào ào, chú tiểu bước vào bất chợt và thốt lên: “Thật là một TUYỆT TÁC !”
Trạng thái Xuất Thần hốt nhiên giác ngộ do Tâm (trạng thái ý thức) khi Thiền nhập định sâu chính là TRỰC GIÁC hoạt động (Tâm tĩnh Trí minh: Tâm yên lặng thì Trí mới sáng), Thiền Tông Phật Giáo Trung Hoa có phát biểu lừng danh 心如秋湖 “Tâm như Thu Hồ”, Tâm phẳng lặng như mặt hồ thì mới PHẢN ẢNH đúng hình ảnh CHÂN THỰC của sự vật, trạng thái này sẽ phát sinh Sóng Não dạng sóng Theta khi vào trạng thái nhập định.
Đạo Đức Lương Thiện là căn nguyên (nguồn gốc) của sự tu dưỡng Tâm Thân và Tinh Thần – Trí Tuệ.
Tư Tưởng (Thought) và các Quá Trình Tư Duy (Thinking) không phải là Trực Giác (Intuition).
2. Mệnh đề Tiên Đề (Axiomatic Clause, Clause Axiomatique) chính là Chân Lý (The Truth, La Vérité) mà Trực Giác (Intuition) đã Kinh Nghiệm (Emperical) và Tiên Nghiệm (Transcendental).
3. Trật tự Toán học là Tuyến tính, là Hàm Số Đa Biến (Multi-Variable Function) với Tham Số (Parameter) có nhiều Biến Số (Variables) Hàm Số có căn mũ chính là Tính Phi tuyến đưa về Tuyến Tính.
Trật tự Ngôn ngữ là Phi tuyến, là Ngữ nghĩa, là Thông tin, là Thế giới / Thực tại.
Tự nhiên có quy luật trật tự của nó, cái gọi là ngẫu nhiên thật ra là cách thức mà tự nhiên trình diễn mà trí tuệ của con người chưa nhận thức được, Tính Phi Tuyến vẫn là có Trật Tự / Quy Luật chứ không phải là ngẫu nhiên, trong tự nhiên Tính Phi Tuyến thể hiện trong chuyển động Cong Tròn (Lực Ly Tâm) và chuyển động Cong Xoắn tức Moment XOẮN (Moment of TORQUE) hoặc Lực Hình XOẮN Ốc (Loa TOÀN Hình), phát minh vượt bậc của con người là tạo ra các Turbin có cánh quạt Hình XOẮN Ốc để NÉN khí vào buồng Turbin gọi là Động Cơ Phản Lực (Jet) hoặc các Máy Khoan Thủy Lực tức mũi khoan bằng nước XOẮN. Toàn bộ vũ trụ này dù là thế giới vô cơ hữu cơ đều là chuyển động XOẮN, các chuỗi phân tử DNA là các chuỗi XOẮN kép.
Ai cũng biết Thái Cực Đồ hình chữ S và hình chữ S NGƯỢC với hai phần trắng đen hai bên một nửa, đó là ÂM và DƯƠNG, người ta chỉ biết có hai trạng thái đối lập, nhưng không ai biết ÂM và DƯƠNG phối hợp với nhau như thế nào, chúng phối hợp với nhau theo hình XOẮN Ốc mà hình chữ S và hình chữ S NGƯỢC chỉ là phiến diện (một mặt bên ngoài) mà con mắt người thường bị đánh lừa nếu không NHÌN SÂU một chút.
TínhPhi Tuyến (Non-linearity) vẫn tuân theo những trật tự và quy luật chặt chẽ, có tính xác định (deterministic), chứ không phải là ngẫu nhiên (random).
Đây là một điểm phân biệt rất quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực Lý Thuyết Hỗn Loạn (Chaos Theory).
Tính Phi Tuyến không chỉ là một khái niệm Toán Học hay Ngôn Ngữ Học trừu tượng, mà nó còn là một tính chất nền tảng và phổ biến diễn ra trong thế giới thực tại (Vật Lý) và trong thông tin / xử lý thông tin.
Dưới đây là cách tính phi tuyến xuất hiện trong hai lĩnh vực đó:
(1) Tính Phi Tuyến trong Thế giới / Thực tại (Vật lý, Tự nhiên)
Rất nhiều hiện tượng tự nhiên vận hành theo cách phi tuyến tính. Thực tế, mô hình tuyến tính thường chỉ là sự đơn giản hóa mà con người tạo ra để dễ tính toán.
Thời tiết và Khí hậu (Lý thuyết Hỗn loạn – Chaos Theory):
Sự thay đổi nhiệt độ, áp suất không khí không diễn ra theo một tỷ lệ cố định. Một thay đổi nhỏ ban đầu (hiệu ứng cánh bướm) có thể dẫn đến những kết quả khổng lồ, không thể đoán trước được. Đây là ví dụ kinh điển về hệ thống phi tuyến.
Sinh học và Sinh thái học:
Sự phát triển dân số không phải lúc nào cũng là đường thẳng. Ban đầu nó tăng theo cấp số nhân (phi tuyến), sau đó chững lại do giới hạn tài nguyên. Tương tác con mồi và kẻ săn mồi cũng là một chu trình phi tuyến phức tạp.
Vật lý học:
Nhiều định luật vật lý cơ bản là phi tuyến. Ví dụ, trong cơ học chất lỏng, dòng chảy rối (turbulent flow) là một hiện tượng phi tuyến tính cực kỳ phức tạp.
(2) Tính Phi Tuyến trong Thông tin và Xử lý Thông tin
Khi thông tin được truyền tải, xử lý và hiểu, tính phi tuyến đóng vai trò trung tâm:
Truyền thông tin (Viễn thông):
Tín hiệu vật lý (sóng radio) khi đi qua môi trường có thể bị méo (distortion) phi tuyến tính. Các bộ khuếch đại (amplifiers) cũng có giới hạn phi tuyến, chúng không chỉ đơn giản làm lớn tín hiệu lên mà còn thay đổi tỷ lệ ở các cường độ khác nhau.
Công nghệ Máy tính và Trí tuệ Nhân tạo (AI):
Đây là lĩnh vực ứng dụng phi tuyến rõ ràng nhất. Trong các Mạng nơ-ron nhân tạo (Artificial Neural Networks), các hàm kích hoạt (activation functions) phi tuyến tính (như ReLU, Sigmoid) là bắt buộc. Nếu không có các hàm phi tuyến này, mạng nơ-ron dù có bao nhiêu lớp đi nữa cũng chỉ tương đương với một mô hình tuyến tính đơn giản, không thể học được các mối quan hệ phức tạp trong dữ liệu (ví dụ: nhận dạng khuôn mặt, hiểu ngôn ngữ tự nhiên).
Tóm lại, Tính Phi Tuyến không phải là một ngoại lệ hay ngẫu nhiên, mà là quy tắc trong thế giới thực và cách chúng ta xử lý thông tin phức tạp, nó cho phép sự phức tạp, sự biến hóa và sự bất ngờ diễn ra.
(3) Ngữ Nghĩa Học và tính Phi Tuyến
Khi các nhà ngôn ngữ học và khoa học nhận thức mô tả ngữ nghĩa là phi tuyến, họ muốn nhấn mạnh rằng cách chúng ta hiểu và xử lý ý nghĩa không phải là một quá trình từng bước, nối tiếp nhau theo trình tự từ vựng.
Các mô hình máy học xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) hiện đại—như các mô hình transformer đứng sau các AI chatbot—hoạt động dựa trên nguyên tắc phi tuyến tính ngữ nghĩa này.
Sự Phi Tuyến trong Ngữ nghĩa
Phụ thuộc vào Ngữ cảnh (Contextual Dependency):
Trong toán học, một hàm tuyến tính thay đổi theo tỷ lệ cố định. Trong ngôn ngữ, ý nghĩa của từ “bank” (ngân hàng / bờ sông) nhảy vọt hoàn toàn tùy thuộc vào ngữ cảnh. Sự thay đổi ý nghĩa đột ngột, không theo tỷ lệ này là một dạng phi tuyến tính về mặt chức năng.
Mô hình Mạng lưới (Network Models):
Bộ não con người lưu trữ ý nghĩa theo dạng mạng lưới liên kết (semantic networks). Khi bạn nghe từ “chim”, bạn kích hoạt đồng thời các khái niệm liên quan như “bay”, “cánh”, “lông vũ”, “trứng”… Sự kích hoạt lan tỏa tức thời này là một quá trình phi tuyến tính, không phải là một chuỗi đọc tuần tự từ A đến B rồi đến C.
Cấu trúc Phụ thuộc (Dependency Structure):
Trong câu “Con mèo đen ngồi trên tấm thảm len màu đỏ”, ý nghĩa của “đen” chỉ bổ nghĩa cho “mèo”, không phải “thảm”. Mối quan hệ phụ thuộc ngữ nghĩa này bắc cầu qua các từ khác (“ngồi”, “trên”, “tấm”), tạo thành một cấu trúc cây (tree structure) hoặc đồ thị (graph), không phải một đường thẳng (linear chain).
Tóm lại:
Cấu trúc Vật lý của ngôn ngữ nói / viết là Tuyến Tính (theo thứ tự thời gian / không gian).
Cấu trúc Ý Nghĩa (Ngữ Nghĩa) là Phi Tuyến Tính (phức tạp, mạng lưới, nhảy vọt theo ngữ cảnh).
Vì vậy, việc liên kết tính “Phi Tuyến” sang Ngữ Nghĩa Học là hoàn toàn chính xác trong bối cảnh Khoa Học Nhận Thức và Ngôn Ngữ Học hiện đại.
4. Thiết Kế (Design) – Tổ Chức & Tác Giả Thiết Kế
Thiết Kế và Tổ Chức là biểu hiện cao nhất của Trật Tự dù là Trật Tự Tuyến Tính (Linear Order) hay Trật Tự Phi Tuyến (Non-linear Order), Trật Tự Phi Tuyến chính là các MÔ HÌNH CẤU TRÚC từ trong tự nhiên đến xã hội và tư duy con người. Thiết Kế và Tổ Chức không thể là sự NGẪU NHIÊN (Randomness) mà phải có “bàn tay” tức Chủ Thể tạo nên gọi là Tác Giả Thiết Kế.
5. Hệ Điều Hành & Chủ Thể Điều Khiển / Nhà Điều Hành (Operating System & Control Subject / Operator)
Một bản Thiết Kết hay một CƠ CẤU TỐ CHỨC được tạo ra tất phải có Hệ Điều Hành tức CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG do Nhà Điều Hành chỉ huy và chỉ đạo, nếu không thì mọi sự vật sẽ trở nên hỗn loạn.
(Trình bày: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến sĩ Toán Học, kênh Nhận Thức Mới, thứ Sáu 28 tháng 11/2025.)
1. Mọi thuyết đều dựa trên một hệ tiên đề, không có một quy trình kỹ thuật nào cho phép xây dựng hệ tiên đề, ngoài công cụ duy nhất là TRỰC GIÁC – “món quà thiêng liêng” và “thứ có giá trị duy nhất”.
“Nếu mà hệ tiên đề phi mâu thuẫn thì chắc chắn là nó không đầy đủ. Thà rằng chấp nhận một hệ tiên đề không đầy đủ mà phi mâu thuẫn còn hơn là chấp nhận một hệ tiên đề đầy đủ nhưng lại mâu thuẫn, đó là cái Toán học sợ nhất.” – Giáo sư Tiến sĩ Phạm Việt Hưng.
2.“Mọi hệ logic đều cần đến một chỗ dựa nằm bên ngoài hệ. ” (Hệ quả Định Lý Bất Toàn Kurt Gödel)
“Cái đúng của toán học phải tìm ở bên ngoài toán học.” Tạ Quang Bửu, nhà Toán học, nói chuyện với Tiến sĩ Toán học Phan Đình Diệu (Nga).
“Giữa cái đúng và cái sai, còn có những cái không thể quyết định được.” Tạ Quang Bửu, nhà Toán học, nói chuyện với nữ Tiến sĩ Toán học Hoàng Xuân Sính (Paris, Pháp)
3. Mọi cỗ máy đều cần đến một hệ điều hành và một nhà điều hành.
4. Vũ trụ tức là cỗ máy vĩ đại nhất ắt phải có một hệ điều hành và nhà điều hành vũ trụ.
Nhà điều hành vũ trụ, là cách nói ám chỉ Thượng Đế, tác giả của công trình vĩ đại là toàn bộ vũ trụ, giới khoa học hay nhắc đến Isaac Newton nói về “Cú Hích của Thượng Đế” (“Divine Kick”, “Divine Intervention”) khi ngài tạo ra vũ trụ và làm cho vũ trụ vận động bằng một “Cú Hích” (“Kick”). Thực tế là, bản thân Isaac Newton không hề dùng từ “Kick” (“Cú Hích”) trong bất kỳ phát biểu chính thức hay thư từ nào của mình để miêu tả sự can thiệp của Thượng Đế. Từ ngữ “Cú Hích của Thượng Đế” (“Divine Kick”) là một cách gọi phổ biến, chủ yếu bắt nguồn từ sự chỉ trích của Gottfried Wilhelm Leibniz đối với quan điểm của Newton.
Newton và người phát ngôn của ông là Samuel Clarke dùng phép ẩn dụ về chiếc đồng hồ (The Watch).
Họ cho rằng, do sự tương tác phức tạp của lực hấp dẫn, cỗ máy vũ trụ sẽ dần dần mất trật tự và cần Thượng đế can thiệp để sửa chữa, tương tự như người thợ đồng hồ phải định kỳ lên dây cót hoặc điều chỉnh lại cỗ máy của mình.
(1) Phát Biểu của Samuel Clarke (bên ủng hộ Newton)
Trong thư gửi Leibniz, Clarke đã diễn đạt ý tưởng này, cho rằng Thượng đế không chỉ là tác giả mà còn là người bảo trì hệ thống:
“The motions of the planets are subject to be disturbed by the mutual gravitation of all the parts of matter; which disturbances, if not constantly corrected by the divine power, would in process of time very much disorder the frame of the world.”
“Chuyển động của các hành tinh phải chịu sự xáo trộn bởi lực hấp dẫn lẫn nhau giữa mọi vật chất; những sự xáo trộn này, nếu không được quyền năng thần thánh liên tục sửa chữa, theo thời gian sẽ làm xáo trộn nghiêm trọng cấu trúc của thế giới.”
(2) Sự Chỉ Trích của Leibniz (người tạo ra ý tưởng “sửa chữa”)
Leibniz đã nhại lại và chỉ trích gay gắt quan điểm này, cho rằng nó làm hạ thấp Thượng đế. Trong lá thư thứ hai gửi Clarke (năm 1716), Leibniz viết bằng tiếng Pháp và được dịch sang tiếng Anh, trong đó có đoạn nổi tiếng:
“Sir Isaac Newton and his followers have also a very odd Opinion concerning the Work of God. They maintain that God Almighty is obliged to clean his Machine [the Universe] now and then with an extraordinary Concours, and even to mend it… He had not, it seems, sufficient Foresight to make it a perpetual motion.”
“Ngài Isaac Newton và những người đi theo ông cũng có một quan điểm rất kỳ quặc về Công trình của Thượng đế. Họ cho rằng Thượng Đế toàn năng buộc phải định kỳ lau chùi Cỗ máy [Vũ trụ] của Ngài bằng một sự can thiệp đặc biệt, và thậm chí phải sửa chữa nó… Dường như Ngài không có đủ sự nhìn xa trông rộng để tạo ra nó thành một chuyển động vĩnh cửu.”
Nguồn của hai câu đối thoại (hay trích dẫn) trên là từ bộ sách “Correspondence between Leibniz and Clarke” (“Thư từ trao đổi giữa Leibniz và Clarke”), diễn ra từ năm 1715 đến 1716. Những trích dẫn này là một phần của cuộc tranh luận bằng thư từ nổi tiếng trong lịch sử Triết học và khoa học, được xuất bản rộng rãi dưới dạng sách ngay sau khi cuộc tranh luận kết thúc.
5. Các định luật vật lý là những lệnh của hệ điều hành vũ trụ.
6. Sự sống là cỗ máy kỳ diệu nhất, ắt phải có một hệ điều hành và một nhà lập trình sự sống. Hệ điều hành sự sống chính là mã DNA, nhà lập trình sự sống là tác giả đã viết ra cái mã DNA.
7. Ngẫu nhiên không tạo ra trật tự mà chỉ tạo ra hỗn loạn.
“Le hasard n’est que la mesure de notre ignorance.” – “Sự ngẫu nhiên chỉ là thước đo sự rốt nát của chúng ta.”– Jules Henri Poincaré (1854 – 1912)
“Quantum mechanics is certainly imposing. But an inner voice tells me that it is not yet the real thing. The theory says a lot, but does not really bring us any closer to the secret of the Old One. I, at any rate, am convinced that He does not throw dice.” – Albert Einstein (1879-1955) Letter to Max Born (1882 – 1970) 12 December 1926.
“Cơ Học Lượng Tử quả thật rất ấn tượng. Nhưng một giọng nói bên trong mách bảo tôi rằng nó vẫn chưa phải là chân lý. Lý thuyết này nói lên rất nhiều điều nhưng thực sự không đưa chúng ta đến gần hơn với bí mật của Ông cụ. Dù sao đi nữa, tôi tin chắc rằng ngài không hề gieo xúc sắc.” – Albert Einstein (1879-1955)thư gửi Max Born (1882 – 1970) nhà Toán học kiêm Vật Lý học ngày 12 tháng 12 năm 1926.
“Quantum mechanics makes absolutely no sense.” – Roger Penrose (1931 – now 2025)
“Cơ học lượng tử hoàn toàn vô nghĩa.” – Roger Penrose (1931 – nay 2025)
8. Trật tự là kết quả của một hành động có ý thức tổ chức. Mọi cái mà chúng ta thấy là có trật tự đều là kết quả của một hành động có ý thức tổ chức. Sự tồn tại của trật tự đòi hỏi sự tồn tại của trí tuệ tổ chức. Trí tuệ tức là trí tuệ biết tổ chức.
9. Trật tự là biểu hiện của một thiết kế hoặc một chương trình do một nhà thiết kế hoặc một nhà lập trình sáng tạo ra.
“Ở bất kỳ đâu tồn tại một thiết kế phức tạp, ở đó ắt phải có một nhà thiết kế; tự nhiên là phức tạp, do đó tự nhiên ắt phải có một nhà thiết kế thông minh.” – Thánh Thomas Aquinas (1225 – 1274)
Nguyên văn phát biểu trên là như sau bằng ngôn ngữ Latin.
“Quinta Via sumitur ex gubernatione rerum.”
“Vidimus enim quod aliqua quae cognitione carent, scilicet corpora naturalia, operantur propter finem; quod apparet ex hoc, quod semper aut frequentius eodem modo operantur, ut consequantur id quod est optimum. Unde patet quod non a casu, sed ex intentione perveniunt ad finem.”
“Omne autem quod caret cognitione, non tendit in finem, nisi directum ab aliquo cognoscente et intelligente; sicut sagitta a sagittante. Ergo est aliquid intelligens, a quo omnes res naturales ordinantur ad finem; et hoc dicimus Deum.”
Teleological Argument /Quinta Via – Saint Thomas Aquinas (1225 – 1274)
“Con đường Thứ Năm được rút ra từ sự quản trị của vạn vật.”
“Chúng ta thấy rằng một số sự vật thiếu nhận thức, cụ thể là các vật thể tự nhiên, hành động vì một mục đích; điều này rõ ràng bởi vì chúng luôn luôn, hoặc thường xuyên, hoạt động theo cùng một cách để đạt được điều tốt nhất. Từ đó rõ ràng rằng chúng đạt đến mục đích không phải do ngẫu nhiên, mà là do ý định.”
“Nhưng bất cứ điều gì thiếu nhận thức, nó không hướng tới một mục đích, trừ khi được định hướng bởi một cái gì đó có nhận thức và trí tuệ; giống như mũi tên được định hướng bởi người bắn cung. Do đó, phải có một cái gì đó có trí tuệ (intelligent), mà qua đó mọi vật tự nhiên được sắp xếp theo mục đích; và chúng ta gọi đó là Thiên Chúa (Deum).”
Lập Luận Mục Đích Luận / Con Đường Thứ Năm – Thánh Thomas Aquinas (1225 – 1274)
Chú thích: Thánh Augustine / Augustino (354 trước Công Nguyên – 430 Công Nguyên) thành Hippo và Thánh Thomas Aquinas (1225 – 1274) là hai người khác nhau, sống ở hai thời kỳ khác nhau và có những ảnh hưởng Triết Học khác biệt. Thánh Augustine (thế kỷ 4-5) bị ảnh hưởng lớn từ Triết Học Plato, trong khi Thánh Thomas Aquinas (thế kỷ 13) xây dựng hệ thống Triết Học và Thần Học dựa trên Triết Học của Aristotle.
10. Thông tin là một trình tự xác định của các mã.
“Thông tin là những gì được truyền đạt hoặc thể hiện bằng một sự sắp xếp hoặc trình tự cụ thể của sự vật. Thí dụ: trình tự DNA, trình tự acid amino, v.v.” – ZIM Dictionary.
1. Mọi thuyết đều dựa trên một hệ tiên đề, không có một quy trình kỹ thuật nào cho phép xây dựng hệ tiên đề, ngoài công cụ duy nhất là TRỰC GIÁC – “món quà thiêng liêng” và “thứ có giá trị duy nhất”.
“Nếu mà hệ tiên đề phi mâu thuẫn thì chắc chắn là nó không đầy đủ. Thà rằng chấp nhận một hệ tiên đề không đầy đủ mà phi mâu thuẫn còn hơn là chấp nhận một hệ tiên đề đầy đủ nhưng lại mâu thuẫn, đó là cái Toán học sợ nhất.” – Giáo sư Tiến sĩ Phạm Việt Hưng.
TRỰC GIÁC (INTUITION) & TRÍ TƯỞNG TƯỢNG (IMAGINATION) – Các Trích Dẫn Thuộc Tiên Đề 1
“Imagination is more important than knowledge. For knowledge is limited, whereas imagination embraces the entire world, stimulating progress, giving birth to evolution.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức. Vì kiến thức có hạn, trong khi trí tưởng tượng bao trùm toàn bộ thế giới, kích thích sự tiến bộ, sinh ra sự tiến hóa.” – Albert Einstein (1879-1955)
“I am enough of the artist to draw freely upon my imagination. Imagination is more important than knowledge. Knowledge is limited. Imagination encircles the world.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Tôi đủ chất nghệ sĩ để tự do vẽ theo trí tưởng tượng của mình. Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức. Kiến thức còn hạn chế. Trí tưởng tượng bao quanh thế giới.” – Albert Einstein (1879-1955)
“The only real valuable thing is intuition.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Điều thực sự có giá trị duy nhất là trực giác.” – Albert Einstein (1879-1955)
“I believe in intuition and inspiration… At times I feel certain I am right while not knowing the reason.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Tôi tin vào trực giác và nguồn cảm hứng… Đôi khi tôi cảm thấy chắc chắn mình đúng trong khi không biết lý do.” – Albert Einstein (1879-1955)
“A new idea comes suddenly and in a rather intuitive way, but intuition is nothing but the outcome of earlier intellectual experience.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Một ý tưởng mới xuất hiện một cách đột ngột và theo một cách khá trực quan, nhưng trực giác không là gì ngoài kết quả của trải nghiệm trí tuệ trước đó.” – Albert Einstein (1879-1955)
“The intuitive mind is a sacred gift and the rational mind is a faithful servant. We have created a society that honors the servant and has forgotten the gift.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Trí óc trực giác là một món quà thiêng liêng và trí óc lý trí là một người hầu trung thành. Chúng ta đã tạo ra một xã hội tôn vinh người hầu mà quên mất món quà.” – Albert Einstein (1879-1955)
“All great achievements of science must start from intuitive knowledge, namely, in axioms, from which deductions are then made…Intuition is the necessary condition for the discovery of such axioms.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Mọi thành tựu vĩ đại của khoa học đều phải bắt đầu từ kiến thức trực giác, tức là, từ những tiên đề, từ đó đưa ra các suy luận…Trực giác là điều kiện cần để khám phá ra những tiên đề đó.” – Albert Einstein (1879-1955)
“C’est à l’intérieur même de la vie que nous conduit l’intuition.” – Henri Bergson (1859-1941)
“Chính trong cuộc sống mà trực giác dẫn dắt chúng ta.” – Henri Bergson (1859-1941)
“Il suit de là qu’un absolu ne saurait être donné que dans une intuition, tandis que tout le reste relève de l’analyse.” – Henri Bergson (1859-1941)
“Từ đó, điều tuyệt đối chỉ có thể được đưa ra bằng trực giác, trong khi mọi thứ khác đều phụ thuộc vào sự phân tích.” – Henri Bergson (1859-1941)
“A mathematical concept is like a language – it cannot be acquired by intuition alone.” – David Hilbert (1862-1943)
“Một khái niệm toán học giống như một ngôn ngữ – nó không thể có được chỉ bằng trực giác.” – David Hilbert (1862-1943)
“Athéisme marque de force d’esprit, mais jusqu’à un certain degré seulement.” – Pensées, Blaise Pascal (1623 – 1662)
“Chủ nghĩa vô thần thể hiện sức mạnh của tinh thần, nhưng chỉ ở một mức độ nhất định mà thôi.”– Blaise Pascal (1623 – 1662)
“Memory, joy, are intuitions; and even mathematical propositions become intuitions, for education produces natural intuitions, and natural intuitions are erased by education.” – Blaise Pascal (1623 – 1662)
«La mémoire, la joie sont des sentiments ; et même les propositions géométriques deviennent sentiments, car la raison rend les sentiments naturels et les sentiments naturels s’effacent par la raison.» – Pensées, Blaise Pascal (1623 – 1662)
«Ký ức, niềm vui là trực giác; và ngay cả các mệnh đề toán học cũng trở thành trực giác, vì giáo dục tạo ra trực giác tự nhiên, và trực giác tự nhiên sẽ bị xóa bỏ bởi giáo dục. » – Blaise Pascal (1623 – 1662)
“Những nguyên lý đầu tiên này chỉ có thể nắm bắt được bằng TRỰC GIÁC, và rằng sự thật này khẳng định sự cần thiết phải nhờ cậy đến Chúa trong việc khám phá chân lý.”– Pensées, Blaise Pascal (1623 – 1662)
Nguyên văn câu phát biểu trên trong Pháp ngữ và bản dịch Anh ngữ như sau.
277. The heart has its reasons, which reason does not know. We feel it in a thousand things. I say that the heart naturally loves the Universal Being, and also itself naturally, according as it gives itself to them; and it hardens itself against one or the other at its will. You have rejected the one, and kept the other. Is it by reason that you love yourself?
“Trái tim có những lý lẽ của nó, mà lý trí không hề hay biết. Chúng ta cảm nhận được điều đó trong hàng ngàn sự việc. Tôi nói rằng trái tim tự nhiên yêu Bản Thể Phổ Quát (Universal Being – ám chỉ Thiên Chúa), và đồng thời cũng tự nhiên yêu chính nó, tùy theo cách nó tự hiến dâng cho một trong hai; và nó làm cứng lòng với cái này hay cái kia theo ý muốn của nó. Bạn đã từ chối Đấng Toàn Năng, và giữ lấy chính mình. Bạn yêu chính mình bằng lý trí sao?”
278. It is the heart which experiences God, and not the reason. This, then, is faith: God felt by the heart, not by the reason.
“Vậy nên, chính là trái tim cảm nhận được Chúa, chứ không phải lý trí. Đây chính là bản chất của đức tin: Chúa được cảm nhận bằng trái tim, chứ không phải bằng lý trí.”
Nguyên văn Pháp ngữ trong Pensées của Blaise Pascal:
“[…] Le cœur a ses raisons, que la raison ne connaît point. On le sent en mille choses. C’est le cœur qui sent Dieu, et non la raison. Voilà ce que c’est que la foi parfaite, Dieu sensible au cœur. […]”
“Trái tim có những lý lẽ của nó, mà lý trí không thể biết được. Người ta cảm nhận điều đó trong muôn vàn điều.Chính trái tim cảm nhận Thiên Chúa, chứ không phải lý trí. Đó chính là đức tin hoàn hảo, Thiên Chúa được cảm nhận bằng trái tim.”
282. We know truth, not only by the reason, but also by the heart, and it is in this last way that we know first principles; and reason, which has no part in it, tries in vain to impugn them. The sceptics, who have only this for their object, labour to no purpose. We know that we do not dream, and, however impossible it is for us to prove it by reason, this inability demonstrates only the weakness of our reason, but not, as they affirm, the uncertainty of all our knowledge. For the knowledge of first principles, as space, time, motion, number, is as sure as any of those which we get from reasoning. And reason must trust these intuitions of the heart, and must base them on every argument.
(We have intuitive knowledge of the tri-dimensional nature of space and of the infinity of number, and reason then shows that there are no two square numbers one of which is double of the other. Principles are intuited, propositions are inferred, all with certainty, though in different ways.) And it is as useless and absurd for reason to demand from the heart proofs of her first principles, before admitting them, as it would be for the heart to demand from reason an intuition of all demonstrated propositions before accepting them.
“Chúng ta biết chân lý, không chỉ bằng lý trí, mà còn bằng trái tim, và chính bằng cách thức sau này mà chúng ta nhận biết các nguyên lý đầu tiên; và lý trí, vốn không có vai trò gì trong đó, cố gắng công kích chúng cũng chỉ là vô ích. Những người hoài nghi, những người chỉ có mục đích này, đều làm việc vô ích. Chúng ta biết rằng mình không mơ, và dù chúng ta không thể chứng minh điều đó bằng lý trí, sự bất lực này chỉ chứng tỏ sự yếu kém của lý trí chúng ta, chứ không phải, như họ khẳng định, sự bất định của mọi tri thức của chúng ta. Bởi vì sự nhận thức về các nguyên lý đầu tiên, như không gian, thời gian, chuyển động, con số, cũng chắc chắn như bất kỳ tri thức nào chúng ta có được từ lý luận. Và lý trí phải tin tưởng vào những trực giác này của trái tim, và phải đặt nền tảng cho mọi lập luận trên chúng.
(Chúng ta có tri thức trực giác về bản chất ba chiều của không gian và về tính vô hạn của số lượng, và lý trí sau đó cho thấy rằng không có hai số chính phương nào mà số này gấp đôi số kia. Các nguyên lý được trực giác hóa, các mệnh đề được suy luận, tất cả đều chắc chắn, mặc dù theo những cách khác nhau.) Và việc lý trí đòi hỏi trái tim phải chứng minh các nguyên lý đầu tiên của mình trước khi chấp nhận chúng cũng vô ích và phi lý, giống như việc trái tim đòi hỏi lý trí phải trực giác hóa tất cả các mệnh đề đã được chứng minh trước khi chấp nhận chúng vậy.”
Nguyên văn Pháp ngữ trong Pensées của Blaise Pascal:
“[…] Car la connaissance des premiers principes, comme, par exemple, qu’il y a espace, temps, mouvement, nombre, matière, est aussi ferme qu’aucune de celles que nos raisonnements nous donnent. Et c’est sur ces connaissances d’intelligence et de sentiment qu’il faut que la raison s’appuie, et qu’elle fonde tout son discours.
Je sens qu’il y a trois dimensions dans l’espace, et que les nombres sont infinis ; et la raison démontre ensuite, qu’il n’y a point deux nombres carrés, dont l’un soit double de l’autre. Les principes se sentent; les propositions se concluent; le tout avec certitude, quoi que par différentes voies. Et il est aussi ridicule que la raison demande au sentiment, et à l’intelligence des preuves de ces premiers principes pour y consentir, qu’il serait ridicule que l’intelligence demandât à la raison un sentiment de toutes les propositions qu’elle démontre.
Cette impuissance ne peut donc servir qu’à humilier la raison qui voudrait juger de tout; mais non pas à combattre notre certitude, comme s’il n’y avait que la raison capable de nous instruire. Plût à Dieu que nous n’en eussions au contraire jamais besoin, et que nous connussions toutes choses par instinct et par sentiment. Mais la nature nous a refusé ce bien, et elle ne nous a donné que très peu de connaissances de cette sorte: toutes les autres ne peuvent être acquises que par le raisonnement. […]”
“Bởi vì tri thức về các nguyên lý đầu tiên, ví dụ như có không gian, thời gian, chuyển động, số học, vật chất, cũng chắc chắn như bất kỳ tri thức nào mà lý trí của chúng ta cung cấp. Và chính dựa trên những tri thức về trí tuệ (intelligence) và trực giác / cảm giác (sentiment) này mà lý trí phải tựa vào, và từ đó xây dựng nền tảng cho toàn bộ lập luận của mình.
Tôi cảm nhận được rằng có ba chiều trong không gian và rằng các con số là vô hạn; và sau đó, lý trí chứng minh rằng không có hai số bình phương nào mà số này gấp đôi số kia. Các nguyên lý được cảm nhận (bằng trực giác); các mệnh đề được suy luận; tất cả đều có sự chắc chắn, mặc dù đi theo những con đường khác nhau. Và cũng lố bịch rằng lý trí đòi hỏi cảm giác, và trí tuệ phải đưa ra bằng chứng về những nguyên lý căn bản đầu tiên này để chấp thuận chúng, cũng như sẽ rất vô lý rằng trí tuệ đòi hỏi lý trí phải mang lại một trực giác / cảm giác về tất cả các mệnh đề mà nó chứng minh.
Sự bất lực này (ám chỉ sự bất lực của lý trí khi không thể tự chứng minh các nguyên lý cơ bản) do đó chỉ có thể dùng để hạ mình lý trí vốn muốn phán xét mọi thứ; nhưng không phải để chống lại sự chắc chắn của chúng ta, như thể chỉ có lý trí mới có khả năng giáo huấn cho chúng ta. Cầu nguyện Chúa ước gì chúng ta không bao giờ cần đến nó (lý trí), và ước gì chúng ta biết mọi thứ bằng trực giác và cảm giác. Nhưng tự nhiên đã từ chối điều tốt đẹp này với chúng ta, và chỉ ban cho chúng ta rất ít kiến thức loại đó: tất cả những kiến thức khác còn lại chỉ có thể thụ đắc thông qua sự suy luận (lý trí).”
“La connaissance des premiers principes, comme qu’il y a espace, temps, mouvement, nombres, est aussi ferme qu’aucune de celles que nos raisonnements nous donnent. Et c’est sur ces connaissances du cœur et de l’instinct qu’il faut que la raison s’appuie et qu’elle y fonde tout son discours.
Le cœur sent qu’il y a trois dimensions dans l’espace et que les nombres sont infinis, et la raison démontre ensuite que tout cela est impossible. Ces principes sont sentis, et non prouvés. Et c’est en vain que le raisonnement, qui n’y a point de part, essaie de les combattre.”
“Sự nhận thức về những nguyên lý đầu tiên, chẳng hạn như sự tồn tại của không gian, thời gian, chuyển động, và các con số, cũng vững chắc như bất kỳ nhận thức nào mà lý luận của chúng ta mang lại. Và chính trên những nhận thức của trái tim và bản năng này mà lý trí phải dựa vào và dùng để đặt nền tảng cho toàn bộ lập luận của mình.
Trái tim cảm nhận được rằng không gian có ba chiều và các con số là vô tận, và lý trí sau đó chứng minh rằng tất cả những điều đó là bất khả thi. Những nguyên lý này được cảm nhận, chứ không phải được chứng minh. Và sẽ là vô ích nếu lý luận, vốn không có phần trong đó, cố gắng bác bỏ chúng.”
TƯ TƯỞNG “CÚ HÍCH CỦA THƯỢNG ĐẾ” & 3 ĐỊNH LUẬT CỦA ISAAC NEWTON
Khái niệm “Cú Hích của Thượng Đế” (“Divine Kick”, “Divine Intervention”) khi ngài tạo ra vũ trụ và làm cho vũ trụ vận động bằng một “Cú Hích” (“Kick”) hoặc “Sự Can Thiệp của Thượng Đế” (“Divine Intervention”), thuở ban đầu là khái niệm trong tư duy Triết Học truyền thống ở Hy Lạp cổ đại trước thời kỳ Aristotle (384 – 322 trước Công Nguyên) và kéo dài sau đó; khái niệm này được đề cập tiếp tục ở La Mã cổ đại bởi Thánh Thomas Aquinas (1225 – 1274) và các nhà Thần Học (The Theologist) của Tòa Thánh Vatican của Công Giáo Roma.
Trong Triết Học Hy Lạp cổ đại trước thời kỳ Aristotle (384 – 322 trước Công Nguyên), khái niệm này trong tiếng Hy Lạp cổ đại gọi là “ἀρχή” – theo tiếng Latin phiên âm là “archē” nghĩa là “Khởi Nguyên” được hiểu khác nhau tùy các Triết Gia vào thời đó.
“ἀρχή” (“archē”): “nước” theo Thales, “khí” theo Anaximenes, “lửa” theo Heraclitus, “apeiron”(“vô định”, “vô hạn”), và theo Aristotle (384 – 322 trước Công Nguyên) là “αἰτία” – theo tiếng Latin phiên âm là “aitía” nghĩa là “Nguyên Nhân” mà tiếng Anh và tiếng Pháp là “Cause” – hoặc nghĩa là “Giải Thích” / “Lý Do” mà trong tiếng Anh là “Explanation” / “Reason” và trong tiếng Pháp là “Explication” / “Raison”.
Aristotle (384 – 322 trước Công Nguyên) phân loại khái niệm “ἀρχή” (“archē”) mà ông gọi là “αἰτία” (“Nguyên Nhân” hoặc “Giải Thích”) thành bốn loại nguyên nhân (“τέτταρες αἰτίαι”) như sau.
Material Cause – “aitia hylikē” / Ὕλη (hylē): Nguyên Nhân Chất Liệu.
Formal Cause – “aitia eidos” / Εἶδοσ (eidos) / μορφή (morphē): Nguyên Nhân Hình Thức.
Efficient Cause – “aitia kinētikē” / Τὸ ὅθεν ἡ ἀρχὴ τῆς κινήσεως (To hothen hē archē tēs kinēseōs): Nguyên Nhân Hiệu Dụng / Nguyên Nhân Tác Động.
Final Cause – “aitia teleologikē / Τὸ τέλος (To télos): Nguyên Nhân Tối Hậu / Nguyên Nhân Mục Đích.
Trong đó, “αἰτία” – theo tiếng Latin phiên âm là “aitía” là khái niệm trung tâm giúp người Hy Lạp giải thích sự vật và khái niệm này hoàn toàn không có ý nghĩa Thần Học (Theology) như sau này thời Triết Học Kinh Viện (The Scholastic Philosophy) ở Tòa Thánh Vatican của Công Giáo Roma kéo dài suốt thời kỳ từ thế kỷ 5 Công Nguyên đến thế kỷ 15 mà Sử Học gọi là thời kỳ Trung Cổ Âu châu (The Medieval Europe).
Và trong bốn nguyên nhân trên, thì khái niệm “αἰτία” – theo tiếng Latin phiên âm là “aitía” nghĩa là “Nguyên Nhân” được Aristotle gắn liền với hai nguyên nhân thứ ba và thứ tư tức Nguyên Nhân Hiệu dụng (Efficient Cause) và Nguyên Nhân Mục đích (Final Cause), nhưng nó được cụ thể hóa thành khái niệm “Động Cơ Bất Động” mà trong tiếng Hy Lạp là “το πρῶτον κινοῦν ἀκίνητον” – theo tiếng Latin phiên âm là “to prōton kinoun akinēton” nghĩa là “cái làm chuyển động đầu tiên nhưng chính nó không chuyển động” và đôi khi là “ἡ πρώτη αἰτία” – theo phiên âm tiếng Latin là “hē prōtē aitia” nghĩa là “Nguyên Nhân Đầu Tiên” (một cách diễn đạt chung) và đó là những từ ngữ mà Aristotle dùng trong các tác phẩm của ông thường được gọi là lãnh vực “ἡ πρώτη φιλοσοφία” – theo tiếng Latin phiên âm là “hē prōtē philosophia” nghĩa là “Triết Học Thứ Nhất” / “Triết Học Đầu Tiên” và lãnh vực “ἡ θεολογία” – theo tiếng Latin phiên âm là “hē theologia” nghĩa là Thần Học (tiếng Anh: Theology, tiếng Pháp: Théologie), sau này Andronicus of Rhodes (thế kỷ 1 trước Công Nguyên) đặt ra danh từ “τὰ μετὰ τὰ φυσικά” – theo tiếng Latin phiên âm là “ta meta ta physika” nghĩa là “Siêu Hình Học” khi biên tập tác phẩm của Aristotle.
Khái niệm “ἀρχή” – theo tiếng Latin phiên âm là “archē” nghĩa là “Khởi Nguyên” mà Aristotle (384 – 322 trước Công Nguyên) gọi là “αἰτία” – theo tiếng Latin phiên âm là “aitía” nghĩa là “Nguyên Nhân” mà Aristotle cụ thể hóa thành khái niệm Động Cơ Bất Động mà trong tiếng Hy Lạp là “το πρῶτον κινοῦν ἀκίνητον” – theo tiếng Latin phiên âm là “to prōton kinoun akinēton” nghĩa là “cái làm chuyển động đầu tiên nhưng chính nó không chuyển động” mà tiếng Anh là “The Prime Unmoved Mover” và tiếng Pháp là “Le Premier Moteur Immobile”; và đôi khi là “ἡ πρώτη αἰτία” – theo phiên âm tiếng Latin là “hē prōtē aitia” nghĩa là “Nguyên Nhân Đầu Tiên” mà tiếng Anh là “First Cause” và tiếng Pháp là “La Cause Première” đôi khi được dịch sang Việt ngữ là cái “Nguyên Ủy” hay “Thủ Nguyên” hoặc gọi chung là “Nguyên Lý Đầu Tiên” từ cách gọi vắn tắt trong tiếng Pháp là “Le Premier” trong các giáo trình (cours) giảng dạy Triết Học bằng tiếng Việt trước đây ở miền bắc Việt Nam trước năm 1954 và ở miền nam Việt Nam trước năm 1975.
Trong Triết Học Kinh Viện thời Âu châu Trung Cổ, đặc biệt là qua công trình của Thomas Aquinas (1225 – 1274), người ta đã tổng hợp Triết học Aristotle với Thần Học Ki-tô Giáo, khái niệm “Động Cơ Bất Động” đã được dịch thành tiếng Latin là “Motor Immovēns” và được hiểu như là “Causa Prima” (“Nguyên Nhân Đầu Tiên”) – thường được đồng nhất với Thượng Đế nghĩa là khái niệm “Cú Hích của Thượng Đế” sau đó được phát triển bởi các Triết Gia Trung Cổ và Thần Học như Thomas Aquinas.
Khái niệm “Cú Hích của Thượng Đế” liên quan đến vấn đề hóc búa trong Vật Lý Cơ Học Cổ Điển của Isaac Newton (1642–1727) thời đó là “Lực sinh ra Chuyển Động” hay “Chuyển Động sinh ra Lực” làm giới Vật Lý lao vào cố gắng chế tạo Động Cơ Vĩnh Cửu như Thượng Đế tạo ra vũ trụ chuyển động không bao giờ ngừng và cho đến nay thất bại hoàn toàn, điều này phản ánh sự tham vọng điên rồ và ngạo mạn của giới khoa học Tây phương vốn đã có từ thời đó, nghĩa là truyền thống tư tưởng Triết Học Hy Lạp cổ đại và Aristotle đã khơi mào vấn đề này cho Isaac Newton và giới Vật Lý Cơ Học Cổ Điển lẫn giới Vật Lý Học Hiện Đại! Đây là Khát Vọng hay Sự Ngạo Mạn Điên Cuồng của giới khoa học Tây phương muốn tìm hiểu và chinh phục vũ trụ thiên địa vạn vật ?
Tìm hiểu nguyên tác Latin của Isaac Newton năm 1687 và bản dịch Anh ngữ của Andrew Motte năm 1729 diễn giải 3 Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn của Isaac Newton kèm theo công thức và giải thích tư tưởng Triết Học Vật Lý của Isaac Newton, từ đó để so sánh Thế Giới Quan của Isaac Newton và Albert Einstein, Max Planck, Niels Bohr, Werner Karl Heisenberg tức toàn bộ giới Vật Lý Học Hiện Đại, Sự Tham Vọng Điên Rồ và Ngạo Mạn của giới khoa học Tây phương từ Triết Học Vật Lý đến Sinh Học hay nói chung là toàn bộ nền tảng tư tưởng Triết Học Khoa Học Tây phương là vốn có từ xưa đến nay tức là từ Hy Lap cổ đại đến La Mã cổ đai và ngày nay, tư tưởng Triết Học Tây phương là CHINH PHỤC THẾ GIỚI TỰ NHIÊN, trong khi nền tảng tư tưởng Triết Học Đông phương trong đó có cả Ki-tô Giáo của Đức Jesus Christus đến Ấn Độ và Trung Hoa là HÒA HỢP THẾ GIỚI TỰ NHIÊN, 2 NỀN TẢNG tư tưởng Triết Học truyền thống khác nhau rõ rệt ảnh hưởng đến quá trình tư duy và hành động thực tiễn trong đời sống và trong tư duy khoa học.
3 ĐỊNH LUẬT NEWTON VỀ CHUYỂN ĐỘNG (Newton’s Three Laws of Motion)
Tài liệu này tổng hợp nguyên văn Latin từ tác phẩm Philosophiæ Naturalis Principia Mathematica (1687) và bản dịch tiếng Anh của Andrew Motte (1729), cùng với bản dịch tiếng Việt tương ứng.
Lưu chú: tên nguyên văn trên bìa sách: Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (1687) – chữ Philosophiæ tại phía cuối cùng có ký âm æ trong Anh ngữ tương đương 2 nguyên âm được thể hiện bằng 2 chữ cái ghép thành là a + e về phương diện phát âm, và cả hình dạng của ký âm æ chính là hình dạng chữ a ghép với chữ e mà thành như thế này ae chính xác như trên bìa sách ghi tên sách là PHILOSOPHIAE NATURALIS PRINCIPIA MATHEMATICA.
1. Định luật I: Định luật Quán tính (Law I: Law of Inertia)
Tài liệu này tổng hợp nguyên văn Latin từ tác phẩm Philosophiæ Naturalis Principia Mathematica (1687) và bản dịch tiếng Anh của Andrew Motte (1729), cùng với bản dịch tiếng Việt tương ứng.
Latin
Corpus omne perseverare in statu suo quiescendi vel movendi uniformiter in directum, nisi quatenus a viribus impressis cogitur statum illum mutare.
Anh ngữ (Andrew Motte, 1729)
Every body perseveres in its state of rest or of uniform motion in a straight line unless it is compelled to change that state by forces impressed upon it.
Việt ngữ
Mọi vật luôn duy trì trạng thái đứng yên (v = 0) hoặc chuyển động thẳng đều (v = constant), trừ khi có lực tổng hợp tác động bên ngoài buộc nó phải thay đổi trạng thái đó. (v: velocity / vận tốc, constant: hằng số)
Thuyết minh:
Ý nghĩa: Lực (ký hiệu: F, viết tắt của Force:Lực) là nguyên nhân gây ra sự thay đổi vận tốc (tức là gia tốc: acceleration), chứ không phải nguyên nhân của chuyển động.
Công thức:∑F = 0 => v = 0
Giải thích Ý nghĩa Công thức: nếu tổng các lực (ký hiệu: ∑F và đọc là Sigma F) tác dụng lên vật bằng 0, thì vận tốc của vật (ký hiệu là v, viết tắt của Velocity: Vận Tốc) là hằng số (constant) – thì vật đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều).
2. Định luật II: Định luật về Sự thay đổi Chuyển động (Law II: Law of Motion/Momentum)
Latin
Mutationem motus proportionalem esse vi motrici impressæ, & fieri secundum lineam rectam qua vis illa imprimitur.
Si vis aliqua motum quemvis generet, dupla duplum, tripla triplum generabit, sive simul & semel, sive gradatim & successive impressa fuerit.
Et hic motus (quoniam in eandem semper plagam cum vi generatrice determinatur) si corpus antea movebatur, motui ejus vel conspiranti additur, vel contrario subducitur, vel obliquo oblique adjicitur, & cum eo secundum utriusque determinationem componitur.
Anh ngữ (Andrew Motte, 1729)
The alteration of motion is ever proportional to the motive force impressed; and is made in the direction of the straight line in which that force is impressed.
If any force generates a motion, a double force will generate double the motion, a triple force triple the motion, whether that force be impressed altogether at once or gradually and successively.
And this motion (as it is always directed the same way with the generating force) if the body moved before, is either added to its motion (if it was direct) or subtracted from it (if contrary) or joined obliquely to it (if oblique), and compounded with it according to the determination of both.
Việt ngữ
Sự thay đổi của chuyển động (motus) luôn tỷ lệ với lực gây động tác dụng lên vật, và xảy ra theo đường thẳng theo đó lực được tác dụng.
Nếu một lực tạo ra một chuyển động, lực gấp đôi tạo ra chuyển động gấp đôi, lực gấp ba tạo ra chuyển động gấp ba, bất kể lực tác dụng một lần ngay tức thì hay tác dụng dần dần.
Và chuyển động mới này (vì nó luôn được định hướng cùng chiều với lực sinh ra nó), nếu vật đã chuyển động trước đó, thì sẽ được cộng vào chuyển động cũ (nếu cùng phương), hoặc được trừ đi khỏi nó (nếu ngược phương), hoặc được cộng vào một cách xiên (nếu lực tác dụng xiên), và được hợp lại với chuyển động cũ theo định hướng của cả hai.
Thuyết minh:
Ý nghĩa: Lực tổng hợp hay tổng các lực (ký hiệu: ∑ F và đọc là Sigma F) tác dụng lên vật thì bằng với Khối Lượng (ký hiệu: m, viết tắt của Mass: Khối Lượng) nhân với Gia Tốc (ký hiệu: a, viết tắt của acceleration: gia tốc) mà lực đó gây ra.
Công thức:∑F = m.a
CÔNG THỨC NGUYÊN THỦY CỦA ISAAC NEWTON (1642–1727)
F = dp/dt
dt là ký hiệu dùng trong Vi Tích Phân (Calculus) và nó đại diện cho một khoảng thời gian vô cùng nhỏ (Δt) tiến tới Zero (0), nó là một đại lượng vô cùng quan trọng trong Vật Lý và Toán Học, được gọi là vi phân của thời gian (differential of time).
dp là ký hiệu trong Vi Tích Phân (Calculus), đại diện cho vi phân của động lượng (differential of momentum).
Tại sao Momentum (Động Lượng) lại ký hiệu bằng p, không phải m?
Vì m đã dành cho mass (khối lượng).
Trong lịch sử Vật Lý Âu châu, đặc biệt từ thời Isaac Newton và Leonhard Euler (1707–1783), Động Lượng được gọi theo tiếng Latin:
petere (đẩy tới, lao tới)
impulsus (xung lực)
petens quantitas (đại lượng hướng tới, đại lượng xung kích)
Nhiều tài liệu thế kỷ 17–18 dùng ký hiệu p từ gốc Latin nói trên.
Do đó, p trở thành ký hiệu truyền thống cho Động Lượng (Momentum).
Diễn giải ngắn gọn:
p = Momentum (Động Lượng)
m = Mass (Khối Lượng)
v = Velocity (Vận Tốc)
Theo tiếng Latin, Isaac Newton dùng danh từ Motus (Chuyển Động) và Quantitas Motus (Động Lượng); sau này, Leonhard Euler (1707–1783) muốn tiêu chuẩn hóa thuật ngữ chính xác theo Toán Học nên dùng danh từ Momentum (Động Lượng) cũng là tiếng Latin và được dùng phổ biến đến ngày nay.
Giải thích Ý nghĩa Công thức: Lực (ký hiệu: F, viết tắt của Force:Lực) thì bằng với tốc độ thay đổi của Động Lượng (p) theo thời gian (t); ban đầu Isaac Newton tập trung vào Động Lượng (ký hiệu: p, viết tắt của các từ Latin nhóm “pet–” nghĩa là “lao tới, đẩy tới” trong nhiều văn bản Latin về kỹ thuật dùng các từ ngữ như “impetus, momentum, petere, v.v.” để chỉ “xung lực” hoặc “đà”) mà Động Lượng thì bằng với Khối Lượng nhân với Vận Tốc (công thức :p = m.v).
CÔNG THỨC CỦA LEONHARD EULER (1707–1783)
Các nhà vật lý sau này, đặc biệt là Leonhard Euler (1707–1783), đã biến đổi và đơn giản hóa công thức này để áp dụng cho các vật có Khối Lượng Không Đổi (ký hiệu: m = const, viết tắt của Constant:Hằng Số, Số Không Đổi).
Biến đổi: Nếu khối lượng là m không đổi, ta có:
F = dp/dt = dp/dt = d(m.v)/dt = m.(dv/dt) – ta có công thức rút gọn: F = m.a với Gia Tốc là a = dv/dt
Gia Tốc (a) tỉ lệ thuận với Lực (F) và tỉ lệ nghịch với Khối Lượng (m).
Sigma lớn (ký hiệu: ∑) là ký hiệu toán học tiêu chuẩn dùng để biểu thị Phép Tính Tổng (Summation) của một dãy các số hạng hoặc các đại lượng.
1. Ý nghĩa trong Công thức Vật Lý
Trong bối cảnh các định luật Newton, ∑F (đọc là Sigma F) có nghĩa là Tổng Hợp Lực hay Tổng Vector Của Tất Cả Các Lực tác dụng lên vật thể.
∑F = F1 + F2 + F3 + F4 + …Fn (Vector Tổng của Lực 1, Lực 2, Lực 3, và các Lực khác).
2. Ý nghĩa trong Định luật Newton
A. Định luật I (Trạng thái Cân bằng):
∑F = 0
Giải thích: Tổng Vector của tất cả các lực tác dụng lên vật bằng Vector 0. Điều này có nghĩa là các lực đã triệt tiêu lẫn nhau, và vật ở trạng thái cân bằng tĩnh (đứng yên) hoặc cân bằng động (chuyển động thẳng đều).
B. Định luật II (Trạng thái có Gia tốc):
∑F = m.a
Giải thích:Lực Tổng Hợp (Tổng Vector của Tất Cả Các Lực) tác dụng lên vật chính là Lực gây ra Gia Tốc (a) cho vật, và nó tỷ lệ thuận với Khối Lượng (m).
Tóm lại, Sigma (∑) đảm bảo rằng khi áp dụng các Định luật Newton, cần phải tính đến Tất Cả Các Tương Tác Lực mà vật thể đang phải chịu, chứ không phải Chỉ Một Lực Đơn Lẻ.
3. Định luật III: Định luật Hành động và Phản ứng (Law of Action and Reaction)
Định luật này miêu tả bản chất của lực là sự tương tác và luôn xuất hiện theo cặp.
Latin
Actioni contrariam semper & æqualem esse reactionem: sive corporum duorum actiones in se mutuo semper esse æquales & in partes contrarias dirigi.
Anh ngữ (Andrew Motte, 1729)
To every action there is always opposed an equal reaction; or the mutual actions of two bodies upon each other are always equal and directed to contrary parts.
Việt ngữ
Với mỗi tác động luôn có một phản tác động bằng độ lớn và ngược hướng; sự tác động lẫn nhau giữa hai vật luôn bằng nhau và hướng về các phía đối nhau.
Thuyết minh:
Ý nghĩa: Lực luôn là kết quả của sự tương tác giữa hai vật.
Công thức:F (A – B) = – F (B – A)
Giải thích Ý nghĩa Công thức: Lực (F) mà vật A tác dụng lên vật B có cùng độ lớn nhưng ngược chiều với Lực mà vật B tác dụng lên vật A.
(Trình bày: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến sĩ Toán Học, kênh Nhận Thức Mới, thứ Sáu 05 tháng 12/2025.)
11. Thông tin là một thực thể phi vật chất tồn tại độc lập với vật chất và Thông tin không phải là THUỘC TÍNH của vật chất, vật chất chỉ là một trong nhiều hình thức / phương tiện mà Thông tin VAY MƯỢN và SỬ DỤNG để biểu hiện ra ngoài cho con người nhận biết.
Não bộ không tạo ra ý thức, Não bộ chỉ giống như một cái van giảm áp hay máylọc. và bộ hạn chế có tác dụng điều chỉnh ý thức phi vật chất mà chúng ta có đượctrong những thế giới phi vật chất rộng lớn thành một loại ý thức có dung lượng hạn chế trong hiện thực cuộc sống nhỏ bé.
THÔNG TIN CÓ TRƯỚC VẬT CHẤT, Ý THỨC CÓ TRƯỚC, VẬT CHẤT CÓ SAU, Ý THỨC QUYẾT ĐỊNH VẬT CHẤT, Ý THỨC KHÔNG PHẢI LÀ THUỘC TÍNH CỦA VẬT CHẤT, TRƯỚC KHI VẬT CHẤT ĐƯỢC HÌNH THÀNH, CẦN PHẢI CÓ BẢN THIẾT KẾ MÔ HÌNH CẤU TẠO CỦA VẬT CHẤT, BỞI MỌI VẬT KHÔNG HÌNH THÀNH NGẪU NHIÊN, NGẪU NHIÊN LÀ VÔ TRẬT TỰ VÀ HỖN LOẠN, TRẬT TỰ CHÍNH LÀ QUY LUẬT TẤT YẾU CỦA MỌI HIỆN TƯỢNG SỰ VẬT TRONG VŨ TRỤ.
Thông tin biểu lộ qua vật chất là khái niệm thứ nhất, Thông tin tồn tại độc lập với vật chất là khái niệm thứ hai, hai khái niệm ấy khác nhau.
Phải nhấn mạnh cái điều đó là bởi vì nhiều người thấy rằng thông tin biểu lộ qua vật chất, cho nên có ý nghĩ cho rằng thông tin là một cái gì nó gắn chặt với vật chất. Nhưng vì không thể nói thông tin là vật chất được cho nên những người ấy hình thành một khái niệm trong đầu là thông tin là một thuộc tính của vật chất.
Định luật tồn tại khách quan, dù con người có khám phá ra hay không khám phá thì nó vẫn cứ tồn tại; từ khi có vũ trụ thì thông tin đã tồn tại rồi.
Thông tin tồn tại một cách độc lập, vốn có rồi, con người có biết Thông tin tồn tại hay không lại là chuyện khác, Thông tin biểu lộ qua vật chất cho con người biết, nếu Thông tin không muốn cho con người biết, nó chẳng cần phải lộ ra với con người làm gì cả.
Hiện nay đang tồn tại những Thông tin mà con người không biết, rất nhiều bí mật mà con người chưa biết hoặc là thậm chí không bao giờ biết nhưng Thông tin vẫn tồn tại.
Ai tin rằng con người có thể biết được tất cả mọi sự, người đó ngây thơ quá.
Định Lý Bất Toàn (Toán Học) của Kurt Gödel (Kurt Gödel’s Incompleteness Theorems) khẳng định rằng có những sự thật con người sẽ vĩnh viễn không bao giờ giải thích được, nhưng sự thật vẫn đang tồn tại.
Do đó Thông tin độc lập với vật chất mặc dù Thông tin có thể biểu lộ thông qua các vật chất cho con người biết.
VẬT CHẤT LÀ PHƯƠNG TIỆN MÀ THÔNG TIN BIỂU LỘ QUA ĐÓ, hoặc, THÔNG TIN CÓ THỂ BIỂU LỘ BẰNG CÁC HÌNH THỨC PHƯƠNG TIỆN KHÁC.
Ý THỨC TỒN TẠI ĐỘC LẬP VỚI VẬT CHẤT VÀ CÓ TRƯỚC VẬT CHẤT, Ý THỨC KHÔNG PHẢI LÀ THUỘC TÍNH CỦA VẬT CHẤT.
TƯ TƯỞNG VÀ CẢM XÚC CỦA CON NGƯỜI CÓ THỂ ĐƯỢC BIỂU HIỆN BẰNG NHIỀU HÌNH THỨC, NGÔN NGỮ LÀ MỘT TRONG NHIỀU PHƯƠNG TIỆN MÀ TƯ TƯỞNG VÀ CẢM XÚC DÙNG ĐỂ BIỂU HIỆN, NHƯ HỘI HỌA, ÂM NHẠC, TOÁN HỌC, ĐIÊU KHẮC, KÝ HIỆU, v.v.
TINH HOA TƯ TƯỞNG trong Tiên Đề 11 là đã TRIỆT TIÊU DUY TÂM LUẬN NGAY TỪ BAN ĐẦU để tiến đến SỰ TOÀN TRIỆT phái DUY VẬT LUẬN, Tiên Đề này đã cho thấy sự SAI LẦM lớn nhất của Triết Học hiện đại là phân lập DUY VẬT và DUY TÂM.
Từ Tiên Đề của Khoa Học Gia người Đức Werner Gitt (1937 – nay) chính là nhan đề tác phẩm của Werner Gitt “In the Beginning was Information” (“Tự Khởi Nguyên đã là Thông Tin”), ta đã đi đến được một Tiên Đề Tư Tưởng Triết Học Khoa Học triệt để nhất.
Nghĩa là, với Tiên Đề THÔNG TIN, đi đến khái niệm Bản Thiết Kế, và tác giả Bản Thiết Kế, đã làm sụp đổ hoàn toàn Duy Tâm Luận (Idealism) trước khi đi tới TOÀN TRIỆT Duy Vật Luận (Materialism) và Duy Vật Luận KHÔNG CÒN ĐƯỜNG SỐNG SÓT vì Duy Tâm Luận đã bị chết ngay từ đầu không có đất sống thì Duy Vật Luận cũng không còn chỗ dựa để công kích mà xây dựng nền tảng cho mình.
Vậy thì Triết Học của Triết gia Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1830) có tính Tiên Nghiệm (Transcendental: Siêu Nghiệm) VƯỢT QUA Tư Tưởng của Triết gia Đức Immanuel Kant (1724 – 1804) cho rằng VẬT TỰ NÓ = THING IN ITSELFT và Bất Khả Tri Luận (Agnosticism) nghĩa là Immanuel Kant cho rằng con người KHÔNG THỂ TIÊN NGHIỆM, trong khi Hegel tuyên bố Tiên Nghiệm của ông rằng TINH THẦN TUYỆT ĐỐI (THE ABSOLUTE SPIRIT) mới là nội dung vừa có tính chất TIÊN KHỞI vừa có tính chất TỐI HẬU (CUỐI CÙNG) của vũ trụ và đó là một Tiên Đề MỞ với một Vũ Trụ Quan MỞ BIẾN HÓA VÔ TẬN CÙNG.
CÁC PHÁT BIỂU TRÍCH DẪN CHO TIÊN ĐỀ 11
Bàn về Tri Thức Luận còn gọi là Nhận Thức Luận (Epistemology) là một bộ phận tri thức trong Triết Học (Philosophy) Tây phương, Khổng Tử cũng có những câu nói khiến người ngày nay (những con người còn lương tâm và lương tri đạo đức) cũng phải cúi đầu suy nghĩ:
知之為知之, 不知為不知, 是知也 (論語 – 為政)
Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã (Luận Ngữ – Vi Chính)
Biết (thì nói) là biết, không biết (thì nói) là không biết, thì (chính) là biết vậy.
và
KHÔNG BÀN NHỮNG CHUYỆN KHÔNG THỂ BIẾT VÀ KHÔNG THỂ CHỨNG MINH ĐƯỢC VÌ KHÔNG CÓ LỢI ÍCH THIẾT THỰC GÌ mà đây là lấy ý từ nguyên văn của Khổng Tử trong sách Luận Ngữ, thiên Tử Lộ.
Khổng Tử không bàn đến chuyện quái dị, bạo lực, loạn lạc, và quỷ thần.
Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế giảng Phật Pháp, nhiều môn đệ hỏi ngài:
“Bạch Thầy, có Thượng Đế sáng tạo vũ trụ muôn loài chăng?”
Đức Phật nhắm mắt không trả lời, hỏi mãi ngài phải mở mắt ra mà nói:
“Thượng Đế có hay không thì không liên quan đến quá trình tu học …” và “Những gì ta giảng dạy chỉ là nắm lá trong bàn tay của ta, trong khi trong rừng thì muôn cành lá.”
Các nhà khoa học tiên phong đều là người sùng đạo:
Roger Bacon (thế kỷ 13): Đề cao quan sát và thí nghiệm, Tu sĩ dòng Francisco
Nicolaus Copernicus: Thuyết nhật tâm, Linh mục Công giáo
Johannes Kepler: Quỹ đạo hành tinh elip, Tin rằng “Chúa viết toán học vào vũ trụ”
Isaac Newton: Cơ học cổ điển, Tận hiến cả đời cho nghiên cứu Kinh Thánh
Gregor Mendel: Di truyền học, Tu sĩ dòng Augustino
(1) Isaac Newton (1643–1727) — cha đẻ của Cơ Học Cổ Điển
“This most beautiful system of the sun, planets, and comets could only proceed from the counsel and dominion of an intelligent and powerful Being.” — Isaac Newton, Principia Mathematica, 1687.
“Cái hệ thống tuyệt mỹ của Mặt Trời, các hành tinh và sao chổi này chỉ có thể được tạo nên bởi ý chí và quyền năng của một Đấng Thông Tuệ Toàn Năng.” — Isaac Newton, Nguyên Tắc Toán Học, ấn bản năm 1687.
Newton coi việc khám phá quy luật vật lý là khám phá tác phẩm của Thượng Đế.
(2) Johannes Kepler (1571–1630) — người tìm ra quỹ đạo elip của hành tinh
“I was merely thinking God’s thoughts after Him.” — Johannes Kepler, Letter to Michael Maestlin, 1595.
“Tôi chỉ đang suy nghĩ lại những ý nghĩ của Thượng Đế sau Ngài.” — Johannes Kepler, Lá Thư gửi Michael Maestlin, ấn bản năm 1595.
Kepler xem toán học và thiên văn là cách con người tiếp cận tư tưởng của Đấng Sáng Tạo.
(3) Robert Boyle (1627–1691) — cha đẻ của Hóa Học Hiện Đại
“When with bold telescopes I survey the old and newly discovered stars and planets, I find myself transported by wonder to the Author of all this beauty.” — Robert Boyle, Works, Volumn 8, 1772.
“Khi dùng kính viễn vọng để khảo sát những vì sao và hành tinh, tôi bị cuốn hút bởi sự kinh ngạc đến với Đấng đã sáng tạo nên tất cả vẻ đẹp này.” — Robert Boyle, Các Tác Phẩm, Tập. 8, ấn bản năm 1772.
Boyle xem “Nghiên cứu khoa học là hành vi tôn vinh Đấng Tạo Hóa” (“The study of the Booke of Nature, is one of the Ends of the Institution of the Sabbath.”)
(4) Louis Pasteur (1822–1895) — người sáng lập Vi Sinh Học
“The more I study nature, the more I stand amazed at the work of the Creator.” – Louis Pasteur, quoted in René Vallery-Radot, The Life of Pasteur, 1902.
“Càng nghiên cứu thiên nhiên, tôi càng kinh ngạc trước công trình của Đấng Sáng Tạo.” – Louis Pasteur, trích lục trong René Vallery-Radot, Cuộc Đời Pasteur, ấn bản năm 1902.
Pasteur là người Công giáo sùng đạo, xem khám phá khoa học là một dạng tôn kính Thiên Chúa.
(5) Albert Einstein (1879–1955) — cha đẻ Thuyết Tương Đối
“Science without religion is lame, religion without science is blind.” – Albert Einstein, Science, Philosophy and Religion, 1941.
“Khoa học không có tôn giáo thì què quặt; tôn giáo không có khoa học thì mù lòa.” – Albert Einstein, Khoa Học, Triết Học và Tôn Giáo, ấn bản năm 1941.
Dù không theo tôn giáo cụ thể, Einstein tin rằng tinh thần tôn giáo – niềm tin vào trật tự và ý nghĩa của vũ trụ – là nền tảng của khoa học.
(6) Max Planck (1858–1947) — người cha đẻ Cơ Học Lượng Tử
“Both religion and science require a belief in God. For believers, God is in the beginning, and for physicists, God is at the end of all our considerations.” – Max Planck, Religion and Natural Science, 1937.
“Cả tôn giáo lẫn khoa học đều đòi hỏi niềm tin vào Thượng Đế. Với người có đạo, Ngài ở khởi đầu; với nhà vật lý, Ngài ở cuối cùng của mọi suy tưởng.” – Max Planck, Religion and Natural Science, ấn bản năm 1937.
Max Planck coi Thượng Đế là nguyên lý cuối cùng thống nhất khoa học và tôn giáo.
“Die Naturwissenschaft braucht der Mensch zum Erkennen, die Religion aber braucht er zum Handeln.” – Max Planck (1858 – 1947)
“Man needs natural science for knowledge, but he needs religion for action.” – Max Planck (1858 – 1947)
“Con người cần khoa học tự nhiên để nhận thức, nhưng con người cần tôn giáo để hành động.” – Max Planck (1858 – 1947)
(7) Francis Bacon (1561–1626) — cha đẻ của phương pháp khoa học thực nghiệm
“A little philosophy inclineth man’s mind to atheism; but depth in philosophy bringeth men’s minds about to religion.” – Francis Bacon, Essays: “Of Atheism”, 1601.
“Triết học nông cạn dễ khiến con người nghiêng về vô thần; nhưng hiểu sâu triết học lại đưa tâm trí con người trở về với tôn giáo.” – Francis Bacon, Tập Luận Văn: “Bàn Về Chủ Nghĩa Vô Thần”, ấn bản 1601.
Bacon cho rằng càng hiểu sâu quy luật tự nhiên, con người càng nhận ra sự hiện diện của Thượng Đế.
(8)Galileo Galilei (1564–1642) — cha đẻ của Khoa Học Quan Sát
“The laws of nature are written by the hand of God in the language of mathematics.” – Galileo Galilei, Letter to the Grand Duchess Christina, 1615.
“Các quy luật của tự nhiên được bàn tay của Thượng Đế viết ra bằng ngôn ngữ toán học.” – Galileo Galilei, Thư Gửi Nữ Công Tước Cao Quý Christina, ấn bản 1615.
Galileo xem khoa học là đọc bản kinh của Thượng Đế viết trong thiên nhiên.
(9)James Clerk Maxwell (1831–1879) — người đặt nền móng Điện Từ Học
“I think men of science as well as other men need to learn from Christ, and I think Christians whose minds are scientific are bound to study science that their view of the glory of God may be as extensive as their being is capable.” – Letter from Maxwell to a friend, 1855.
“Tôi nghĩ các nhà khoa học cũng như bao người khác cần học từ Đức Kitô; và các Kitô hữu có tâm trí khoa học phải nghiên cứu khoa học để tầm nhìn về vinh quang Thiên Chúa của họ được rộng bằng chính năng lực con người.” – Thư từ Maxwell gửi một người bạn, ấn bản năm 1855.
(10)Nicholas Copernicus (1473–1543) — người khai sinh Thuyết Nhật Tâm
“To know the mighty works of God, to comprehend His wisdom and majesty and power; to appreciate, in degree, the wonderful workings of His laws — surely all this must be a pleasing and acceptable mode of worship to the Most High.” – Nicolaus Copernicus, De revolutionibus orbium coelestium, 1543.
“Được biết đến những công trình vĩ đại của Thượng Đế, hiểu sự khôn ngoan, uy nghi và quyền năng của Ngài, nhận ra sự vận hành kỳ diệu của luật pháp Ngài — đó hẳn là một hình thức thờ phượng đẹp lòng Đấng Tối Cao.”Nicolaus Copernicus, Về Sự Chuyển Động Của Các Tinh Cầu, ấn bản năm 1543.
Các nhà tư tưởng Thiên Chúa giáo tin rằng:
“Vũ trụ là sản phẩm của một Thiên Chúa hợp lý — nên có thể được hiểu bằng lý trí.”
Chính niềm tin này khiến họ tìm kiếm quy luật tự nhiên, vì họ tin Thiên Chúa không hành động hỗn loạn, mà theo trật tự nhất định.
Robert Boyle (cha đẻ của hóa học hiện đại) nghĩ rằng
“And when with excellent Microscopes I discern in otherwise invisible Objects – the Inimitable Subtlety of Nature’s curious workmanship; And when, in a word, by the help of Anatomicall Knives, and the light of Chymicall Furnaces, I study the Book of Nature, and consult the Glosses of Aristotle, Epicurus, Paracelsus, Harvey, Helmont, and other learn’d Expositors of that instructive Volumne; I find my self oftentimes reduc’d to exclaim with the Psalmist, ‘How manifold are thy works, O Lord!’.” – The Excellency of Theology, compared with Natural Philosophy,1674.
“Và khi, nhờ những Kính Hiển Vi tuyệt hảo, tôi nhận thấy trong các Vật Thể vốn vô hình đối với mắt thường – sự tinh vi vô song trong tay nghề kỳ diệu của Tự Nhiên; Và khi, nói ngắn gọn, nhờ dao giải phẫu, và ánh sáng từ các Lò Luyện Hóa Học, tôi chuyên tâm khảo cứu Quyển Sách của Tự Nhiên, đồng thời tra cứu những chú giải của Aristotle, Epicurus, Paracelsus, Harvey, Helmont cùng các học giả uyên bác khác – những người chú giải quyển sách dạy dỗ đó; thì tôi thường thấy mình không thể không thốt lên cùng với Thi Thiên rằng: ‘Lạy Chúa, công trình của Ngài thật muôn phần kỳ diệu!’.” – tác phẩm Sự Cao Quý của Thần Học, So Sánh với Triết Học Tự Nhiên, ấn bản năm 1674.
Isaac Newton nghĩ rằng
“He rules all things, not as the soul of the world, but as Lord over all; and on account of His dominion He is wont to be called Lord God παντοκράτωρ, or Universal Ruler; for God is a relative word, and has reference to servants.” — Isaac Newton, General Scholium, Principia Mathematica, 1713 / 1726 Editions.
“Thiên Chúa cai quản muôn vật, không phải như linh hồn của thế giới, mà như Chúa Tể của toàn thể vũ trụ; và bởi quyền tể trị ấy, Ngài được gọi là Đức Chúa Trời Toàn Năng (παντοκράτωρ, Pantokratōr — Đấng Cai Trị Muôn Loài). Vì ‘Thiên Chúa’ là một danh xưng mang tính tương quan, chỉ có ý nghĩa khi được nói đến trong mối liên hệ với các tôi tớ của Ngài.” – Isaac Newton,Chú Giải Tổng Quát,Các Nguyên Lý Toán Học Của Triết Học Tự Nhiên, các ấn bản năm 1713 – 1726.
12. Thông tin là một thực thể phi vật chất nhưng có khả năng điều hành vật chất.
Thông tin là một thực thể phi vật chất, có một nghịch lý như sau.
Làm thế nào mà một thực thể phi vật chất lại có thể tác động đến vật chất?
Điều này dường như là một nghịch lý. Có giả thuyết cho rằng phân tử và nguyên tử là vật chất có ý thức, tức là nó hiểu được các mệnh lệnh của thông tin và nó chấp hành, nó tuân thủ. Bác sĩ Trần Thị Tuấn Nga nghiêng về cái ý này cho rằng là virus nó có trí tuệ, nó hiểu được cho nên nó làm những cái công việc có tính chất phản ứng.
Nguyễn Cao Sơn nêu lên một cái giả thuyết thứ hai rằng giữa thông tin và vật chất tồn tại một cái lực lượng thứ ba vô hình. Lực lượng ấy tạm gọi dễ hiểu là lực lượng thi công. Tức là cái lực lượng ấy hiểu được cái mệnh lệnh của thông tin và cái lực lượng ấy trực tiếp sắp đặt phân tử nguyên tử tuân theo cái mệnh lệnh đó.
Giống như một bản thiết kế xây dựng, bản thiết kế đó là Thông tin, nhưng muốn biến nó thành cái nhà thì phải có người thợ xây cầm từng viên gạch để đặt vào đúng vị trí mà bản thiết kế nó đã yêu cầu. Thế thì cái người thợ xây dựng ấy là cái người gọi là thi công trình. Theo Nguyễn Cao Sơn, trong vũ trụ tồn tại một lực lượng mô hình thứ ba đóng vai trò là người thực hành các mệnh lệnh của Thông tin.
13.Để tạo ra một cỗ máy, Thông tin phải có trước.
14.Thông tin luôn luôn bắt nguồn từ một trí tuệ thông minh.
Hai dạng Thông tin: một là Thông tin do con người sáng tạo ra,.hai là Thông tin của DNA.
Thông tin DNA được gọi là Thông tin tự nhiên, và hiện nay người ta đang tranh luận rằng Thông tin tự nhiên ấy không biết từ đâu ra, chắc rằng nó cũng phải xuất phát từ những nguồn trí tuệ thông minh vĩ đại, bởi vì phải là trí tuệ thông minh vĩ đại mới có thể viết được ra một cái chương trình vĩ đại như thế.
15.Thông tin không bao giờ nảy sinh từ bản thân vật chất.
Và điều này đã được “khẳng định” trong một hội nghị quốc tế là Hội Nghị Quốc Tế VềNguồn Gốc Sự Sống lần thứ VIInăm 1983 (The 7th International Conference on the Origins of Life – ICOL 1983) diễn ra từ ngày 10 tháng 7/1983 đến ngày 15 tháng 7/1983 được tổ chức tại Cung Điện Bầu Cử(The Electoral Palace) tại thành phố Mainz Cộng Hòa Liên Bang Đức, hội nghị ấy đã KHÔNGCHO BIẾT từ các thí nghiệm rằng “Thông tin không thể xuất phát từ vật chất” hoặc “Thông tin xuất phát từ vật chất”, và “vấn đề Nguồn Gốc Sự Sống (The Origin of Life) vẫn còn là vấn đề mở và bỏ ngỏ rất rộng.”
Nguồn nội dung trích dẫn:
COMMENTARY
CONGRESS REPORT ON THE 7TH INTERNATIONAL CONFERENCE ON THE ORIGIN OF LIFE, MAINZ (Federal Republic Germany)
10 – 15 JULY 1983
Tại hội nghị này, các vấn đề nghiên cứu được đưa ra thảo luận theo nội dung trên như sau.
“[…] More than 250 scientists from all parts of the world contributed to the success. The main topics discussed in Mainz were arranged into 6 sessions:
– Cosmology and Cosmochemistry (Interstellar Clouds, Stellar Evolution, Planetary Surfaces and Atmospheres, Comets, Meteorites)
– Geology and Geochemistry (Early Paleontological Record, Ancient Sedimentary Habitats of Life, Evolution of the Environment)
– Simulation of Chemical Evolution in the Laboratory (Small Molecules, Macromolecules, Prebiotic Synthesis, Origin of Chirality)
– Theory on the Origin of Life: The Origin of Biological Information
– Biological Evolution: Energy Conversion
– Space Missions and Exobiology: Life under Extreme Conditions […]”
“[…] Hơn 250 nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới đã đóng góp vào thành công này. Các chủ đề chính được thảo luận tại Mainz được chia thành 6 phiên:
– Vũ trụ học và Hóa học vũ trụ (Mây giữa các vì sao, Tiến hóa sao, Bề mặt và Khí quyển hành tinh, Sao chổi, Thiên thạch)
– Địa chất và Địa hóa học (Hồ sơ Cổ sinh vật học Sơ khai, Môi trường sống Trầm tích Cổ đại của Sự sống, Sự tiến hóa của Môi trường)
– Mô phỏng Tiến hóa Hóa học trong Phòng thí nghiệm (Phân tử nhỏ, Đại phân tử, Tổng hợp Tiền sinh học, Nguồn gốc của Tính quang hợp)
– Lý thuyết về Nguồn gốc Sự sống: Nguồn gốc của Thông tin Sinh học
– Tiến hóa Sinh học: Chuyển đổi Năng lượng
– Các Sứ mệnh Không gian và Ngoại sinh học: Sự sống trong Điều kiện Khắc nghiệt […]”
16. Nhận thức duy lý có giới hạn,luôn luôn tồn tại những sự thật không thể giải thích bởi khoa học thuần túylogic duy lý hoặc vật chất.
Định Lý Bất Toàn (Toán Học) của Kurt Gödel (Kurt Gödel’s Incompleteness Theorems) khẳng định rằng có những sự thật con người sẽ vĩnh viễn không bao giờ giải thích được, nhưng sự thật vẫn đang tồn tại.
17. Vũ trụ bao gồm Vật chất, Vật chất đây theo cái ý là Vật chất có khối lượng, năng lượng, Thông tin, Ý thức. và X, X là nó những thực thể có thể tồn tại trong vũ trụ mà chúng ta chưa biết, hoặc không biết và vĩnh viễn không biết.
Công thức: Vũ trụ = Vật chất + Năng lượng + Thông tin + Ý thức + X
18.Vũ trụ sẽ tan rã nếu không có thông tin điều khiển, Vì thế thông tin là yếu tố làm cho vũtrụ có trật tự và có ý nghĩa.
Nếu ta nói rằngThông tin là THUỘC TÍNH của Vật chất thì chỗ này sẽ sai, bởi vì nếu Thông tin là THUỘC TÍNH của Vật chất thì có nghĩa là Thông tin sẽ phải có sau, Vật chất phải có trước.
Nhưng mà thực tế thì chúng ta thấy là để mà xây một cái nhà ta phải cóBản Thiết Kế, để chế tạo được một cái máy ta phải có Bản Thiết Kế và tất cảcác kỹ sư đều là những nhà chế tạo sáng tạo Thông tin.
“Wherever complex design exists, there must have been a designer; nature is complex; therefore nature must have had an intelligent designer.” – Thomas Aquinas (1225-1274)
“Bất cứ nơi nào có thiết kế phức tạp, thì chắc chắn phải có một nhà thiết kế; thiên nhiên vốn phức tạp; do đó, thiên nhiên hẳn phải có một nhà thiết kế thông minh.” – Thomas Aquinas (1225-1274)
“Creationism, intelligent design, and other claims of supernatural intervention in the origin of life or of species are not science because they are not testable by the methods of science.” – The United States National Academy of Sciences
“Thuyết sáng tạo, thiết kế thông minh, và những tuyên bố khác về sự can thiệp siêu nhiên vào nguồn gốc sự sống hoặc các loài không phải là khoa học vì chúng không thể kiểm chứng bằng các phương pháp khoa học.” – Viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia Hoa Kỳ
“Come, let us scatter these roses, let us pour out this wine, Let us split the roof of Heaven and draw a new design.” – Hafiz (1321 – 1390) (*)
“Hãy đến, chúng ta hãy rải những bông hồng này, chúng ta hãy rót rượu này, Chúng ta hãy xé toạc mái vòm Thiên đường và vẽ nên một thiết kế mới.” – Hafiz (1321 – 1390) (*)
(*) Hafiz (1321 – 1390), là Khwajeh Shams od-Din Muhammad Hafez (1321 – 1390), nhà thơ người Ba Tư.
20. Sự sống đã được thiết kế, Bản Thiết Kế là mã DNA. Mã DNA là phép màu kỳ diệu nhất của đấngsáng tạo. Thuyết Tiến Hóa hoàn toàn phi khoa học vì nó dựa trên một tiên đề sai lầm vềTriết Học rằng sự sống ra đời một cách ngẫu nhiên từ vật chất vô sinh.Ý kiến cho rằng sự sống rađời ngẫu nhiên là một tình trạng thiếu hiểu biết.
“Le hasard n’est que la mesure de notre ignorance.” – “Sự ngẫu nhiên chỉ là thước đo sự rốt nát của chúng ta.”– Jules Henri Poincaré (1854 – 1912)
21. Nhiệm vụ của sinh học hiện đại là giải mã DNA.
Mặc dù đã có những thành công bước đầu và sẽ có những thành công tiếp theo,việc giải mã sự sống sẽ vĩnh viễn không bao giờ tìm thấy bí mật cuối cùngcủa sự sống; luôn luôn tồn tại những bí mật của sự sống mà khoa học chưa giải thích đượchoặc thậm chí không thể giải thích được; mọi kết luận vội vàng đều có nguy cơ saimột ly đi một dặm.
22. Mọi biến đổi của sinh vật chỉ diễn ra trong một phạm vi giới hạn, tức là biến đổi trong loài.
Điều này cần phải khẳng định để thấy rõ là thuyết tiến hóa sai.
23. Điều kiện cần và đủ để hai sinh vật cùng loại là chúng có thể giao phối và sinh sản. giao phối và sinh sản.
24. Đột biến gen ngẫu nhiên không dẫn tới tiến hóa mà chỉ dẫn tới thoái hóa.
“Random genetic mutations do not lead to evolution, but only to degeneration.” – Genetic Entropy, John C. Sanford (1950 – now 2025)
“Đột biến gen ngẫu nhiên không dẫn đến tiến hóa, mà chỉ dẫn đến thoái hóa.” – Genetic Entropy, John C. Sanford (1950 – nay là 2025)
“Dù đột biến có nhiều đến đâu, chúng cũng không bao giờ tạo ra bất kỳ tiến hóa nào.” Pierre Paul Grassé (1895 – 1985)
(Trình bày: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến sĩ Toán Học, kênh Nhận Thức Mới, thứ Sáu 05 tháng 12/2025.)
25. Thuyết tiến hóa không phải là một sự thật, mà là sự tưởng tượng không thể kiểm chứng được.
“Evolution is not a fact. Evolution doesn’t even qualify as a theory or as a hypothesis. It is a metaphysical research program, and it is not really testable science.” – Karl Poper (1902 – 1994), Darwinism as a Metaphysical Research Programme – The Philosophy of Karl Popper (Volume 1), edited by Paul Arthur Schilpp, Open Court Publishing Co.(issued 1974)
“Sự tiến hóa không phải là một sự thật. Sự tiến hóa thậm chí không đủ tiêu chuẩn là một lý thuyết hay một giả thuyết. Nó là một chương trình nghiên cứu siêu hình học, và nó không thực sự là khoa học có thể kiểm chứng được.” – Karl Poper (1902 – 1994), Học Thuyết Darwin Như Một Chương Trình Nghiên Cứu Siêu Hình – sách Triết Học Karl Popper (Tập 1), được biên tập bởi Paul Arthur Schilpp, Open Court Publishing Co. (xuất bản năm 1974)
Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là Karl Popper đã rút lại hoặc sửa đổi quan điểm này chỉ bốn năm sau đó. Trong một bài báo năm 1978 cho tạp chí New Scientist, ông tuyên bố rằng ông đã thay đổi quan điểm của mình và thừa nhận rằng chọn lọc tự nhiên là có thể kiểm chứng được.
“I have changed my mind about the testability and logical status of the theory of natural selection; and I am glad to have an opportunity to make a recantation. (…) The theory of natural selection may be so formulated that it is far from tautological. In this case it is not only testable, but it turns out to be not strictly universally true. There seem to be exceptions, as with so many biological theories; and the occurrence of exceptions is not surprising, in view of the probabilistic character of the theory (which, by the way, was stressed by Darwin himself).”
“Tôi đã thay đổi quan điểm của mình về khả năng kiểm chứng và tình trạng logic của thuyết chọn lọc tự nhiên; và tôi rất vui khi có cơ hội để đưa ra lời cải chính. (…) Lý thuyết chọn lọc tự nhiên có thể được phát biểu theo cách không hề mang tính trùng lặp logic. Trong trường hợp này, nó không chỉ có thể kiểm chứng được, mà còn được chứng minh là không đúng tuyệt đối trong mọi trường hợp. Có vẻ như có những trường hợp ngoại lệ, giống như với rất nhiều lý thuyết sinh học khác; và sự diễn ra của các trường hợp ngoại lệ là điều không đáng ngạc nhiên, khi xem xét tính xác suất (ngẫu nhiên) của các biến thể (mà, theo cách chọn lọc tự nhiên tác động lên, được nhấn mạnh bởi chính Darwin).”
Nguồn:
Tên bài báo:“Natural Selection and the Emergence of Mind”(“Chọn Lọc Tự Nhiên và Sự Xuất Hiện của Tâm Trí”)
Tác giả: Karl Popper (1902 – 1994)
Tạp chí:Dialectica (một tạp chí quốc tế về Triết Học thuần túy và ứng dụng)
Nhà xuất bản: Wiley-Blackwell (thông qua tổ chức xuất bản bởi Association Dialectica)
Năm xuất bản: 1978
Tập (Volume): 32
Số (Issue): 3-4
Trang: Đoạn văn cụ thể được tham chiếu nằm ở khoảng trang 344 đến 346.
26. Nguyên lý tổ hợp Gene không tương ứng một một với đặc tính với tính trạng, quan hệ giữa Gene và tính trạng là quan hệ phức tạp theo kiểu tổ hợp, một Gene có thể tác động đến nhiều đặc tính; ngược lại, một tính trạng được quyết định bởi một tổ hợp Gene và hiện nay vấn đề này gần như là một bí mật hoàn toàn đối với sinh học hiện đại.
Bài toán xác định mối quan hệ tổ hợp Gene với các đặc tính, với các tính trạng là một thách thức vô cùng lớn đối với sinh học hiện đại nhưng đó là nhiệm vụ bắt buộc của khoa học về sự sống; chừng nào chưa biết rõ các tổ hợp đó, chừng ấy mọi suy đoán, tưởng tượng về sự tiến hóa đều vô nghĩa, thí dụ, ý kiến nói rằng tinh tinh và con người giống nhau về Gene đến 98% từ đó suy ra là người xuất thân từ tinh tinh, đó là một ý kiến sai lầm bởi vì một khi đã áp dụng cái nguyên lý tổ hợp Gene thì thấy rõ ngay là sai lầm, tức là bộ Gene có thể giống nhau về số lượng các Gene hoặc là thậm chí về trình tự, nhưng nếu tổ hợp Gene mà khác nhau thì nó dẫn đến kết quả tính trạng vẫn khác nhau.
27. Không thể dùng khoa học vật chất để giải thích các hiện tượng phi vật chất siêu hình.
28. Phải xây dựng một Hệ Tiên Đề cho mới để có thể giải thích được các hiện tượng siêu hình và Hệ Tên Đề này gồm có năm Tiên Đề như sau.
Tiền Đề 28.1. Tồn tại một trung tâm thông tin trong vũ trụ như một hệ điều hành của vũ trụ và sự sống.
Nicolas Tesla nói rằng bộ não của chúng ta chỉ là một cỗ máy tiếp nhận thôi, trong vũ trụ có một trung tâm cốt lõi mà từ đó chúng ta nhận được tri thức, sức mạnh, niềm cảm hứng, nhưng ta chưa thâm nhập được vào cái bí mật cốt lõi ấy. Ý kiến này có lý bởi vì nếu chúng ta tin vào điều NicolasTesla nói, chúng ta có thể giải thích được rất nhiều hiện tượng mà bằng khoa học vật chất chúng ta không giải thích được.
Tiên Đề 28.2. Bộ não của con người là cỗ máy tiếp nhận thông tin và tri thức.
Tiên Đề 28.3. Tiên Đề 28.4. và Tiên Đề 28.5. một dịp khác sẽ nhắc lại.
Muốn xây dựng, muốn giải thích những hiện tượng mà khoa học hiện nay không giải thích được, chúng ta cần phải xây dựng một Hệ Tiên Đề mới về nhận thức luận.
29. Thế giới có nhiều tầng, tầng hữu hình, tầng siêu hình; nhưng tất cả các tầng ấy đều thống nhất trong một vũ trụ nhất thể; cái vũ trụ nhất thể ấy người phương Đông gọi nó là Đạo.
道 Đạo: 1. nghĩa đen: con đường, 2. nghĩa phái sinh (derivative meaning): chân lý, đạo lý, giáo lý tôn giáo, giáo nghĩa tôn giáo, giáo pháp / phương pháp, phép tắc (法則 pháp tắc), quy tắc, quy luật.
30.Mô hình để thể hiện khái niệm / phạm trù Đạo gọi là Thái Cực Đồ bao gồm Âm (Yin) và Dương (Yang) hay gọi là Lưỡng Nghi.
Mô Hình Vũ Trụ: Elliptic – Hyperbolic Model (E-H Model)
Elliptic Model Equation(Phương Trình Mô Hình Ellipse): [(x^2 / a^2) + (y^2 / b^2) = 1] (Mô Hình Lồi)
Hyperbolic Model Equation (Phương Trình Mô Hình Hyperbol):
Phương Trình Mô Hình EllipsePhương Trình Mô Hình Hyperbol
Nguồn: sưu tầm (Internet – Google)
Mô Hình Vũ Trụ: Elliptic – Hyperbolic Model (E-H Model)
Nguồn: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến Sĩ Toán Học
Vũ Trụ Vật Chất: Elliptic Model (Mô Hình Lồi) – Vũ Trụ Phi Vật Chất: Hyperbolic Model (Mô Hình Lõm)
Vũ Trụ Vật Chất: Vũ Trụ “Thực” – Vũ Trụ Phi Vật Chất: Vũ Trụ “Ảo”
Thế giới mà chúng ta đang sống đây chúng ta gọi là thực, thế giới sau sự sống chúng ta coi là ảo; nhưng bao giờ mà ta chuyển sang thế giới ảo ấy thì ta sẽ nói thế giới này là thật. Đạo Phật nói là thế giới thật này của chúng ta là thế giới ảo, vậy khái niệm thật và ảo thực ra chỉ mang tính tương đối thôi, đứng trên hệ quy chiếu khác nhau thì sẽ nhận thức khác nhau, đó cũng là một loại mô hình của Đạo nhưng là bổ sung một chút thông tin mang tính chất toán học để chứng minh rằng thực và ảo thực chất là một, do đó chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi chúng ta thấy có những hiện tượng mà chúng ta gọi là phi vật lý, phi vật chất hình thành đó là trường hợp chữa bệnh mà không dùng thuốc, chữa bệnh bằng phép lạ.
Trong vũ trụ này tồn tại vô số các không gian ngang dọcđan xen nhau và khoa học hiện nay không thể phát hiện ra, chúng ta chỉ nhìn thấy, chỉ khám phá được cái không gianba chiều này thôi, còn những không gian khác cao hơn và nó phức tạp hơn thì con ngườivẫn chưa khám phá ra được,và ở những không gian đấy thì phân tử, nguyên tử hay bất kỳ một vật chất nào nó cũng đềucó ý thức của nó, và những người có năng lực tinh thần cao có thể giao tiếp với những ý thức của các loại phân tử,nguyên tử hay các vật chất khác nhau.
Hai giả thuyết, giả thuyết thứ nhất rằng phân tử, nguyên tử vật chấtlà có ý thức, giả thuyết thứ hai là tồn tại một lực lượng vô hình sắp xếp vật chấttheo các lệnh thông tin, hiện nay các nhà khoa học đã khám phá ra rằng vật chất là có ý thức, kể cả những vật chất rất nhỏ đều có ý thức của nó, nhưng mà tất nhiên là nó ở một không gian khác giống như không gian Hyperbol.
Về giả thuyết thứ hai, trong vũ trụ này có tồn tại các lực lượng vô hình haytạm gọi là các sinh mệnh, họ cao hơn con người, sinh mệnh ở tầng cao hơn, và khi màngười ta cần phải làm gì đó hoặc là một việc gì đó, họ sẽ sắp xếp để con người làm những việc mà họ cho rằng conngười cần làm,thành ra cả hai cái giả thuyết này đều đúng cả.
Có một nhóm các nhà khoa học rất là uy tín và tuyên ngôn một nền Khoa học Hậu Duy vậtcó trình độ hiểu biết rất là cao, người ta đã tụ họp với nhau trong một hộinghị quốc tế và người ta đưa ra một cái mà người ta gọi là tuyên ngôn của một nềnkhoa học hậu vật chất,là tuyên ngôn của một nền khoa học mà vượt trênqua thế giới vật chất, thế giới hậu vật lý.
Thứ khoa học dựa trên công cụ chân thật và tinh tế nhất của mọi công trìnhnghiên cứu khoa học mà chúng ta sở hữu chính là bản thân Ý Thức, Ý Thức không chỉ tồn tại độc lập với cơ thể mà còn là thứ cơ bản nhất của mọithứ, đó là lý do sau khi con người rời khỏi thế giớivào thế giới ấy thì lúc ấy còn thật hơn thế giới hiện nay.
Thông tin nó chẳng còn phụ thuộc vào cáivật chất đâu cả, việc theo đuổi thực tại cốt lõi của vũ trụ là bất khả thi nếukhông dùng đến Ý Thức,tại vì hiện nay các nhà khoa học đang lờ đi vai trò của ý thức.
Người ta không nghiên cứu sâu về Ý Thức, không nghiên cứu về bản chất của Ý Thứckhông hề là một thứ sản phẩm phụ và không quan trọng của các quá trình vậtchất, Ý Thức không chỉ rất thật, nó còn thật hơn toàn bộ sự tồn tại vật chất còn lại và rất có thể là thứ cơ bản nhất của mọi thứ.
Bản chất là thật ra là ý thức chính là nguồn gốc của sinh mệnh, sinh mệnh con người gắn với Ý Thức chứ không phải gắn với thân xác, bởi vì khi mà chúng ta thoát khỏi thế giới này thì cái Ý Thức đó chính là sinh mệnh củachúng ta, và đấy mới là sự thật,đấy mới là cái thật, đấy mới là cái thực tế của sinh mệnh con người.
“The brain is not the creator of consciousness, but the reducing valve or filter that limits the vast, universal consciousness to the small amount that we can process for the purposes of living on this planet.” – Proof of Heaven: A Neurosurgeon’s Journey into the Afterlife, Eben Alexander, Simon & Schuster LLC (2012).
“Bản thân Não bộ không tạo ra Ý Thức, Não bộ chỉ giống như một cái van giảm áp hay máy lọc và bộ hạn chế có tácdụng điều chỉnh Ý Thức phi vật chất mà chúng ta có được trong những thế giớiphi vật chất rộng lớn thành một loại Ý Thức có dung lượng hạn chế trong hiện thực cuộc sống nhỏ bé này.” – sách Chứng Cứ Thiên Đường: Hành Trình Của Một Bác Sĩ Phẫu Thuật Thần Kinh Về Thế Giới Bên Kia, tác giả: Eben Alexander, nhà xuất bản Simon & Schuster LLC ở Hoa Kỳ (năm 2012), dịch giả: Nguyễn Thị Thu Liên, Nhà Xuất Bản Thế Giới (Phát hành bởi First News Trí Việt) năm 2013.
Con người tiếp nhận rất nhiều thông tin hay là năng lực của bộ năng lực Ý Thức đó rất là lớn,tuy nhiên trong thế giới này thì con người bị cái dung lượng của bộ Não hay là cái năng lực của bộ Não bị hạn chế lại để cho thông tin chỉ phùhợp với cả cái thế giới này thôi, thế giới vật lý này, và điều này cũng rất là dễ hiểu, và hiện nay các nhà khoa học nhìn thấy gì là con người mới sử dụng chỉ tầm 5 đến 10% năng lực của bộ Não thôi, vànhững người mà được mở năng lực Não bộ ra nhiều hơn ấy thì năng lực của họ rất là lớn,về mặt tư duy, mặt ý thức, điều đó rấtlà rất là hợp lý.
“The brain filters consciousness and only interprets a very small proportion of the information that Universal Consciousness creates, so our brain is limited, it’s filtered, it’s bottling up information so that the human being only perceives that amount.” – The Truth in the Light: An Investigation of Over 300 Near-Death Experiences, Peter Brooke Cadogan Fenwick (1935 –2024) & Elizabeth Fenwick, Headline Books (1995).
“Não lọc nhận thức và thông dịch một phầnrất nhỏ các thông tin mà Ý Thức nội tại của vũ trụ tạo ra, tức là bộ não chúngta bị hạn chế, bị lọc, tức là bóp thông tin nhỏ lại để con người nó chỉ nhận thức đến thế thôi.” – sách Sự thật trong Ánh sáng: Nghiên cứu về Hơn 300 Trải Nghiệm Cận Tử, đồng tác giả: chồng là ông Peter Brooke Cadogan Fenwick (1935 –2024) và vợ bà Elizabeth Fenwick, nhà xuất bản Headline Books ở Anh Quốc (năm 1995).
Lão Tử phái Đạo Gia (phái Triết Học Trung Hoa cổ đại thời Xuân Thu Chiến Quốc) gọi quy luật của vũ trụ là Đạo, Đạo Phật gọi là Pháp – “Vạn pháp quy chung” (“Mọi quy luật đều thống nhất”), Pháp hay khái niệm Đạo là khái niệm quan trọng nhất của con người, nếu màcon người mà không tuân theo Pháp, không tuân theo Đạo mà thì chắc chắn làhọ sẽ không tin vào không gian khác, không tin vào những câuchuyện mang tính nhân quả để ước thúc đạo đức của mình,và qua đó khiđạo đức xuống dốc thì xã hội sẽ không biết đi đâu hoặc về đâu và conngười lúc đấy sẽ rất là nguy hiểm, cái khái niệm Đạo hay là khái niệm tự nhiên hay là khái niệm Pháp là khái niệmrất là quan trọng mà chúng ta cần phải nói đến,và những người mà muốn nghiên cứu tìm hiểu về những vấn đềBản Thể Luận hay là khoa học Logic mà khoa học hiện nay không giải thích đượcthì chúng ta sẽ phải hiểu cái việc này,tức là phải tìm hiểu và phải tuân theo Pháp của vũ trụ hay là Đạo của vũ trụ thì mớicó thể giải thích được những vấn đề mà khoa học hiện đại bó tay.
道生一,一生二,二生三,三生萬物 –老子
ĐẠO SINH NHẤT, NHẤT SINH NHỊ, NHỊ SINH TAM, TAM SINH VẠN VẬT – Lão Tử.
ĐẠO SINH MỘT, MỘT SINH HAI, HAI SINH BA, BA SINH VẠN VẬT – Lão Tử.
人法地,地法天,天法道,道法自然。《老子道德經•第二十五章》
“Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên.” [Lão Tử Đạo Đức Kinh – Đệ Nhị Thập Ngũ Thiên]
“Người theo phép của Đất, Đất theo phép của Trời, Trời theo phép của Đạo, Đạo theo phép của Tự Nhiên.” [Đạo Đức Kinh – Chương 25]
5 Vấn đề trong Talk-show có Chủ Đề SUY TƯỞNG TRIẾT HỌC
1. Trực Giác (Intuition)
2. Mệnh Đề Tiên Đề (Axiomatic Clause, Clause Axiomatique)
3. Trật Tự (Order) & Ngẫu Nhiên (Randomness) – Hỗn Loạn (Chaos)
4. Thiết Kế (Design) – Tổ Chức & Tác Giả Thiết Kế
5. Hệ Điều Hành & Chủ Thể Điều Khiển / Nhà Điều Hành (Operating System & Control Subject / Operator)
1. Nói đến Trực Giác, ngoài Blaise Pascal (1623 – 1662) và Albert Einstein (1879 – 1955), người nói nhiều đến vai trò của Trực Giác nhất trong việc nhận thức của tư duy chính là Triết Gia người Pháp Henri Bergson (1859 – 1941) người đã đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1927, quan điểm về Trực Giác của Henri Bergson và Phật Giáo Thiền Thông Trung Hoa là thống nhất không có gì khác biệt, trong đó Trực Giác đóng vai trò là “thâm nhập thực tế và cảm nhận” chứ không chỉ là đứng ngoài quan sát và dùng lý trí (reason, raison) phân tích hoặc chỉ dùng tư duy luận lý (tư duy logic) và tư duy lý luận (reasoning, raisonnement).
Đối với Phật Giáo Thiền Tông Trung Hoa, Lý Luận chỉ là Hý Luận (nói chơi cho vui) bởi vì Lý luận là con đẻ của Tư tưởng & Ngôn ngữ / Ngôn từ – Trực Giác phải đi thẳng tới Thực Tại mà Kinh Nghiệm (nắm bắt trực tiếp, trực nhận) lấy Thực Tại bằng cái Tâm và cái Trí siêu việt MÀ KHÔNG THÔNG QUA HÀNG RÀO NGÔN TỪ TỨC LÝ LUẬN.
Ví dụ thứ nhất: người con được người cha bảo bọc kỹ lưỡng quá nên nó không biết thế giới bên ngoài, ngày nọ, nó hỏi cha rằng: “NÓNG là thế nào?”, người cha trả lời giải thích và phân tích bằng nhiều từ ngữ khác nhau nhưng nó không biết NÓNG là thế nào, nhưng nếu gặp Thiền Sư thì ông chỉ bảo nó chạm vào thanh sắt nung trong lò chìa ra ngoài, khi đó nó GIẬT BẮN NGƯỜI khi chạm que sắt, Thiền Sư chỉ mỉm cười nói: “NÓNG là thế đó !”
Ví dụ thứ nhì: một Thiền Sư viết một bức Thư Pháp, chú tiểu bên cạnh cứ lắc đầu, Thiền Sư viết rồi lại vứt đi và viết lại, thình lình chú tiểu đi tiểu tiện, Thiền Sư KHOAN KHOÁI không còn bị KIỂM SOÁT và được GIẢI PHÓNG NĂNG LỰC nên cầm bút lên phóng bút ào ào, chú tiểu bước vào bất chợt và thốt lên: “Thật là một TUYỆT TÁC !”
Trạng thái Xuất Thần hốt nhiên giác ngộ do Tâm (trạng thái ý thức) khi Thiền nhập định sâu chính là TRỰC GIÁC hoạt động (Tâm tĩnh Trí minh: Tâm yên lặng thì Trí mới sáng), Thiền Tông Phật Giáo Trung Hoa có phát biểu lừng danh 心如秋湖 “Tâm như Thu Hồ”, Tâm phẳng lặng như mặt hồ thì mới PHẢN ẢNH đúng hình ảnh CHÂN THỰC của sự vật, trạng thái này sẽ phát sinh Sóng Não dạng sóng Theta khi vào trạng thái nhập định.
Đạo Đức Lương Thiện là căn nguyên (nguồn gốc) của sự tu dưỡng Tâm Thân và Tinh Thần – Trí Tuệ.
Tư Tưởng (Thought) và các Quá Trình Tư Duy (Thinking) không phải là Trực Giác (Intuition).
2. Mệnh đề Tiên Đề (Axiomatic Clause, Clause Axiomatique) chính là Chân Lý (The Truth, La Vérité) mà Trực Giác (Intuition) đã Kinh Nghiệm (Emperical) và Tiên Nghiệm (Transcendental).
3. Trật tự Toán học là Tuyến tính, là Hàm Số Đa Biến (Multi-Variable Function) với Tham Số (Parameter) có nhiều Biến Số (Variables) Hàm Số có căn mũ chính là Tính Phi tuyến đưa về Tuyến Tính.
Trật tự Ngôn ngữ là Phi tuyến, là Ngữ nghĩa, là Thông tin, là Thế giới / Thực tại.
Tự nhiên có quy luật trật tự của nó, cái gọi là ngẫu nhiên thật ra là cách thức mà tự nhiên trình diễn mà trí tuệ của con người chưa nhận thức được, Tính Phi Tuyến vẫn là có Trật Tự / Quy Luật chứ không phải là ngẫu nhiên, trong tự nhiên Tính Phi Tuyến thể hiện trong chuyển động Cong Tròn (Lực Ly Tâm) và chuyển động Cong Xoắn tức Moment XOẮN (Moment of TORQUE) hoặc Lực Hình XOẮN Ốc (Loa TOÀN Hình), phát minh vượt bậc của con người là tạo ra các Turbin có cánh quạt Hình XOẮN Ốc để NÉN khí vào buồng Turbin gọi là Động Cơ Phản Lực (Jet) hoặc các Máy Khoan Thủy Lực tức mũi khoan bằng nước XOẮN. Toàn bộ vũ trụ này dù là thế giới vô cơ hữu cơ đều là chuyển động XOẮN, các chuỗi phân tử DNA là các chuỗi XOẮN kép.
Ai cũng biết Thái Cực Đồ hình chữ S và hình chữ S NGƯỢC với hai phần trắng đen hai bên một nửa, đó là ÂM và DƯƠNG, người ta chỉ biết có hai trạng thái đối lập, nhưng không ai biết ÂM và DƯƠNG phối hợp với nhau như thế nào, chúng phối hợp với nhau theo hình XOẮN Ốc mà hình chữ S và hình chữ S NGƯỢC chỉ là phiến diện (một mặt bên ngoài) mà con mắt người thường bị đánh lừa nếu không NHÌN SÂU một chút.
Tính Phi Tuyến (Non-linearity) vẫn tuân theo những trật tự và quy luật chặt chẽ, có tính xác định (deterministic), chứ không phải là ngẫu nhiên (random).
Đây là một điểm phân biệt rất quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực Lý Thuyết Hỗn Loạn (Chaos Theory).
Tính Phi Tuyến không chỉ là một khái niệm Toán Học hay Ngôn Ngữ Học trừu tượng, mà nó còn là một tính chất nền tảng và phổ biến diễn ra trong thế giới thực tại (Vật Lý) và trong thông tin / xử lý thông tin.
Dưới đây là cách tính phi tuyến xuất hiện trong hai lĩnh vực đó:
(1) Tính Phi Tuyến trong Thế giới / Thực tại (Vật lý, Tự nhiên)
Rất nhiều hiện tượng tự nhiên vận hành theo cách phi tuyến tính. Thực tế, mô hình tuyến tính thường chỉ là sự đơn giản hóa mà con người tạo ra để dễ tính toán.
Thời tiết và Khí hậu (Lý thuyết Hỗn loạn – Chaos Theory):
Sự thay đổi nhiệt độ, áp suất không khí không diễn ra theo một tỷ lệ cố định. Một thay đổi nhỏ ban đầu (hiệu ứng cánh bướm) có thể dẫn đến những kết quả khổng lồ, không thể đoán trước được. Đây là ví dụ kinh điển về hệ thống phi tuyến.
Sinh học và Sinh thái học:
Sự phát triển dân số không phải lúc nào cũng là đường thẳng. Ban đầu nó tăng theo cấp số nhân (phi tuyến), sau đó chững lại do giới hạn tài nguyên. Tương tác con mồi và kẻ săn mồi cũng là một chu trình phi tuyến phức tạp.
Vật lý học:
Nhiều định luật vật lý cơ bản là phi tuyến. Ví dụ, trong cơ học chất lỏng, dòng chảy rối (turbulent flow) là một hiện tượng phi tuyến tính cực kỳ phức tạp.
(2) Tính Phi Tuyến trong Thông tin và Xử lý Thông tin
Khi thông tin được truyền tải, xử lý và hiểu, tính phi tuyến đóng vai trò trung tâm:
Truyền thông tin (Viễn thông):
Tín hiệu vật lý (sóng radio) khi đi qua môi trường có thể bị méo (distortion) phi tuyến tính. Các bộ khuếch đại (amplifiers) cũng có giới hạn phi tuyến, chúng không chỉ đơn giản làm lớn tín hiệu lên mà còn thay đổi tỷ lệ ở các cường độ khác nhau.
Công nghệ Máy tính và Trí tuệ Nhân tạo (AI):
Đây là lĩnh vực ứng dụng phi tuyến rõ ràng nhất. Trong các Mạng nơ-ron nhân tạo (Artificial Neural Networks), các hàm kích hoạt (activation functions) phi tuyến tính (như ReLU, Sigmoid) là bắt buộc. Nếu không có các hàm phi tuyến này, mạng nơ-ron dù có bao nhiêu lớp đi nữa cũng chỉ tương đương với một mô hình tuyến tính đơn giản, không thể học được các mối quan hệ phức tạp trong dữ liệu (ví dụ: nhận dạng khuôn mặt, hiểu ngôn ngữ tự nhiên).
Tóm lại, Tính Phi Tuyến không phải là một ngoại lệ hay ngẫu nhiên, mà là quy tắc trong thế giới thực và cách chúng ta xử lý thông tin phức tạp, nó cho phép sự phức tạp, sự biến hóa và sự bất ngờ diễn ra.
(3) Ngữ Nghĩa Học và tính Phi Tuyến
Khi các nhà ngôn ngữ học và khoa học nhận thức mô tả ngữ nghĩa là phi tuyến, họ muốn nhấn mạnh rằng cách chúng ta hiểu và xử lý ý nghĩa không phải là một quá trình từng bước, nối tiếp nhau theo trình tự từ vựng.
Các mô hình máy học xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) hiện đại—như các mô hình transformer đứng sau các AI chatbot—hoạt động dựa trên nguyên tắc phi tuyến tính ngữ nghĩa này.
Sự Phi Tuyến trong Ngữ nghĩa
Phụ thuộc vào Ngữ cảnh (Contextual Dependency):
Trong toán học, một hàm tuyến tính thay đổi theo tỷ lệ cố định. Trong ngôn ngữ, ý nghĩa của từ “bank” (ngân hàng / bờ sông) nhảy vọt hoàn toàn tùy thuộc vào ngữ cảnh. Sự thay đổi ý nghĩa đột ngột, không theo tỷ lệ này là một dạng phi tuyến tính về mặt chức năng.
Mô hình Mạng lưới (Network Models):
Bộ não con người lưu trữ ý nghĩa theo dạng mạng lưới liên kết (semantic networks). Khi bạn nghe từ “chim”, bạn kích hoạt đồng thời các khái niệm liên quan như “bay”, “cánh”, “lông vũ”, “trứng”… Sự kích hoạt lan tỏa tức thời này là một quá trình phi tuyến tính, không phải là một chuỗi đọc tuần tự từ A đến B rồi đến C.
Cấu trúc Phụ thuộc (Dependency Structure):
Trong câu “Con mèo đen ngồi trên tấm thảm len màu đỏ”, ý nghĩa của “đen” chỉ bổ nghĩa cho “mèo”, không phải “thảm”. Mối quan hệ phụ thuộc ngữ nghĩa này bắc cầu qua các từ khác (“ngồi”, “trên”, “tấm”), tạo thành một cấu trúc cây (tree structure) hoặc đồ thị (graph), không phải một đường thẳng (linear chain).
Tóm lại:
Cấu trúc Vật lý của ngôn ngữ nói / viết là Tuyến Tính (theo thứ tự thời gian / không gian).
Cấu trúc Ý Nghĩa (Ngữ Nghĩa) là Phi Tuyến Tính (phức tạp, mạng lưới, nhảy vọt theo ngữ cảnh).
Vì vậy, việc liên kết tính “Phi Tuyến” sang Ngữ Nghĩa Học là hoàn toàn chính xác trong bối cảnh Khoa Học Nhận Thức và Ngôn Ngữ Học hiện đại.
4. Thiết Kế (Design) – Tổ Chức & Tác Giả Thiết Kế
Thiết Kế và Tổ Chức là biểu hiện cao nhất của Trật Tự dù là Trật Tự Tuyến Tính (Linear Order) hay Trật Tự Phi Tuyến (Non-linear Order), Trật Tự Phi Tuyến chính là các MÔ HÌNH CẤU TRÚC từ trong tự nhiên đến xã hội và tư duy con người. Thiết Kế và Tổ Chức không thể là sự NGẪU NHIÊN (Randomness) mà phải có “bàn tay” tức Chủ Thể tạo nên gọi là Tác Giả Thiết Kế.
5. Hệ Điều Hành & Chủ Thể Điều Khiển / Nhà Điều Hành (Operating System & Control Subject / Operator)
Một bản Thiết Kết hay một CƠ CẤU TỐ CHỨC được tạo ra tất phải có Hệ Điều Hành tức CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG do Nhà Điều Hành chỉ huy và chỉ đạo, nếu không thì mọi sự vật sẽ trở nên hỗn loạn.
ThíchThích
10 Tiên Đề Triết Học Khoa Học
(Trình bày: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến sĩ Toán Học, kênh Nhận Thức Mới, thứ Sáu 28 tháng 11/2025.)
1. Mọi thuyết đều dựa trên một hệ tiên đề, không có một quy trình kỹ thuật nào cho phép xây dựng hệ tiên đề, ngoài công cụ duy nhất là TRỰC GIÁC – “món quà thiêng liêng” và “thứ có giá trị duy nhất”.
“Nếu mà hệ tiên đề phi mâu thuẫn thì chắc chắn là nó không đầy đủ. Thà rằng chấp nhận một hệ tiên đề không đầy đủ mà phi mâu thuẫn còn hơn là chấp nhận một hệ tiên đề đầy đủ nhưng lại mâu thuẫn, đó là cái Toán học sợ nhất.” – Giáo sư Tiến sĩ Phạm Việt Hưng.
2. “Mọi hệ logic đều cần đến một chỗ dựa nằm bên ngoài hệ. ” (Hệ quả Định Lý Bất Toàn Kurt Gödel)
“Cái đúng của toán học phải tìm ở bên ngoài toán học.” Tạ Quang Bửu, nhà Toán học, nói chuyện với Tiến sĩ Toán học Phan Đình Diệu (Nga).
“Giữa cái đúng và cái sai, còn có những cái không thể quyết định được.” Tạ Quang Bửu, nhà Toán học, nói chuyện với nữ Tiến sĩ Toán học Hoàng Xuân Sính (Paris, Pháp)
3. Mọi cỗ máy đều cần đến một hệ điều hành và một nhà điều hành.
4. Vũ trụ tức là cỗ máy vĩ đại nhất ắt phải có một hệ điều hành và nhà điều hành vũ trụ.
Nhà điều hành vũ trụ, là cách nói ám chỉ Thượng Đế, tác giả của công trình vĩ đại là toàn bộ vũ trụ, giới khoa học hay nhắc đến Isaac Newton nói về “Cú Hích của Thượng Đế” (“Divine Kick”, “Divine Intervention”) khi ngài tạo ra vũ trụ và làm cho vũ trụ vận động bằng một “Cú Hích” (“Kick”). Thực tế là, bản thân Isaac Newton không hề dùng từ “Kick” (“Cú Hích”) trong bất kỳ phát biểu chính thức hay thư từ nào của mình để miêu tả sự can thiệp của Thượng Đế. Từ ngữ “Cú Hích của Thượng Đế” (“Divine Kick”) là một cách gọi phổ biến, chủ yếu bắt nguồn từ sự chỉ trích của Gottfried Wilhelm Leibniz đối với quan điểm của Newton.
Newton và người phát ngôn của ông là Samuel Clarke dùng phép ẩn dụ về chiếc đồng hồ (The Watch).
Họ cho rằng, do sự tương tác phức tạp của lực hấp dẫn, cỗ máy vũ trụ sẽ dần dần mất trật tự và cần Thượng đế can thiệp để sửa chữa, tương tự như người thợ đồng hồ phải định kỳ lên dây cót hoặc điều chỉnh lại cỗ máy của mình.
(1) Phát Biểu của Samuel Clarke (bên ủng hộ Newton)
Trong thư gửi Leibniz, Clarke đã diễn đạt ý tưởng này, cho rằng Thượng đế không chỉ là tác giả mà còn là người bảo trì hệ thống:
“The motions of the planets are subject to be disturbed by the mutual gravitation of all the parts of matter; which disturbances, if not constantly corrected by the divine power, would in process of time very much disorder the frame of the world.”
“Chuyển động của các hành tinh phải chịu sự xáo trộn bởi lực hấp dẫn lẫn nhau giữa mọi vật chất; những sự xáo trộn này, nếu không được quyền năng thần thánh liên tục sửa chữa, theo thời gian sẽ làm xáo trộn nghiêm trọng cấu trúc của thế giới.”
(2) Sự Chỉ Trích của Leibniz (người tạo ra ý tưởng “sửa chữa”)
Leibniz đã nhại lại và chỉ trích gay gắt quan điểm này, cho rằng nó làm hạ thấp Thượng đế. Trong lá thư thứ hai gửi Clarke (năm 1716), Leibniz viết bằng tiếng Pháp và được dịch sang tiếng Anh, trong đó có đoạn nổi tiếng:
“Sir Isaac Newton and his followers have also a very odd Opinion concerning the Work of God. They maintain that God Almighty is obliged to clean his Machine [the Universe] now and then with an extraordinary Concours, and even to mend it… He had not, it seems, sufficient Foresight to make it a perpetual motion.”
“Ngài Isaac Newton và những người đi theo ông cũng có một quan điểm rất kỳ quặc về Công trình của Thượng đế. Họ cho rằng Thượng Đế toàn năng buộc phải định kỳ lau chùi Cỗ máy [Vũ trụ] của Ngài bằng một sự can thiệp đặc biệt, và thậm chí phải sửa chữa nó… Dường như Ngài không có đủ sự nhìn xa trông rộng để tạo ra nó thành một chuyển động vĩnh cửu.”
Nguồn của hai câu đối thoại (hay trích dẫn) trên là từ bộ sách “Correspondence between Leibniz and Clarke” (“Thư từ trao đổi giữa Leibniz và Clarke”), diễn ra từ năm 1715 đến 1716. Những trích dẫn này là một phần của cuộc tranh luận bằng thư từ nổi tiếng trong lịch sử Triết học và khoa học, được xuất bản rộng rãi dưới dạng sách ngay sau khi cuộc tranh luận kết thúc.
5. Các định luật vật lý là những lệnh của hệ điều hành vũ trụ.
6. Sự sống là cỗ máy kỳ diệu nhất, ắt phải có một hệ điều hành và một nhà lập trình sự sống. Hệ điều hành sự sống chính là mã DNA, nhà lập trình sự sống là tác giả đã viết ra cái mã DNA.
7. Ngẫu nhiên không tạo ra trật tự mà chỉ tạo ra hỗn loạn.
“Le hasard n’est que la mesure de notre ignorance.” – “Sự ngẫu nhiên chỉ là thước đo sự rốt nát của chúng ta.” – Jules Henri Poincaré (1854 – 1912)
“Quantum mechanics is certainly imposing. But an inner voice tells me that it is not yet the real thing. The theory says a lot, but does not really bring us any closer to the secret of the Old One. I, at any rate, am convinced that He does not throw dice.” – Albert Einstein (1879-1955) Letter to Max Born (1882 – 1970) 12 December 1926.
“Cơ Học Lượng Tử quả thật rất ấn tượng. Nhưng một giọng nói bên trong mách bảo tôi rằng nó vẫn chưa phải là chân lý. Lý thuyết này nói lên rất nhiều điều nhưng thực sự không đưa chúng ta đến gần hơn với bí mật của Ông cụ. Dù sao đi nữa, tôi tin chắc rằng ngài không hề gieo xúc sắc.” – Albert Einstein (1879-1955) thư gửi Max Born (1882 – 1970) nhà Toán học kiêm Vật Lý học ngày 12 tháng 12 năm 1926.
“Quantum mechanics makes absolutely no sense.” – Roger Penrose (1931 – now 2025)
“Cơ học lượng tử hoàn toàn vô nghĩa.” – Roger Penrose (1931 – nay 2025)
8. Trật tự là kết quả của một hành động có ý thức tổ chức. Mọi cái mà chúng ta thấy là có trật tự đều là kết quả của một hành động có ý thức tổ chức. Sự tồn tại của trật tự đòi hỏi sự tồn tại của trí tuệ tổ chức. Trí tuệ tức là trí tuệ biết tổ chức.
9. Trật tự là biểu hiện của một thiết kế hoặc một chương trình do một nhà thiết kế hoặc một nhà lập trình sáng tạo ra.
“Ở bất kỳ đâu tồn tại một thiết kế phức tạp, ở đó ắt phải có một nhà thiết kế; tự nhiên là phức tạp, do đó tự nhiên ắt phải có một nhà thiết kế thông minh.” – Thánh Thomas Aquinas (1225 – 1274)
Nguyên văn phát biểu trên là như sau bằng ngôn ngữ Latin.
“Quinta Via sumitur ex gubernatione rerum.”
“Vidimus enim quod aliqua quae cognitione carent, scilicet corpora naturalia, operantur propter finem; quod apparet ex hoc, quod semper aut frequentius eodem modo operantur, ut consequantur id quod est optimum. Unde patet quod non a casu, sed ex intentione perveniunt ad finem.”
“Omne autem quod caret cognitione, non tendit in finem, nisi directum ab aliquo cognoscente et intelligente; sicut sagitta a sagittante. Ergo est aliquid intelligens, a quo omnes res naturales ordinantur ad finem; et hoc dicimus Deum.”
Teleological Argument /Quinta Via – Saint Thomas Aquinas (1225 – 1274)
“Con đường Thứ Năm được rút ra từ sự quản trị của vạn vật.”
“Chúng ta thấy rằng một số sự vật thiếu nhận thức, cụ thể là các vật thể tự nhiên, hành động vì một mục đích; điều này rõ ràng bởi vì chúng luôn luôn, hoặc thường xuyên, hoạt động theo cùng một cách để đạt được điều tốt nhất. Từ đó rõ ràng rằng chúng đạt đến mục đích không phải do ngẫu nhiên, mà là do ý định.”
“Nhưng bất cứ điều gì thiếu nhận thức, nó không hướng tới một mục đích, trừ khi được định hướng bởi một cái gì đó có nhận thức và trí tuệ; giống như mũi tên được định hướng bởi người bắn cung. Do đó, phải có một cái gì đó có trí tuệ (intelligent), mà qua đó mọi vật tự nhiên được sắp xếp theo mục đích; và chúng ta gọi đó là Thiên Chúa (Deum).”
Lập Luận Mục Đích Luận / Con Đường Thứ Năm – Thánh Thomas Aquinas (1225 – 1274)
Chú thích: Thánh Augustine / Augustino (354 trước Công Nguyên – 430 Công Nguyên) thành Hippo và Thánh Thomas Aquinas (1225 – 1274) là hai người khác nhau, sống ở hai thời kỳ khác nhau và có những ảnh hưởng Triết Học khác biệt. Thánh Augustine (thế kỷ 4-5) bị ảnh hưởng lớn từ Triết Học Plato, trong khi Thánh Thomas Aquinas (thế kỷ 13) xây dựng hệ thống Triết Học và Thần Học dựa trên Triết Học của Aristotle.
10. Thông tin là một trình tự xác định của các mã.
“Thông tin là những gì được truyền đạt hoặc thể hiện bằng một sự sắp xếp hoặc trình tự cụ thể của sự vật. Thí dụ: trình tự DNA, trình tự acid amino, v.v.” – ZIM Dictionary.
1. Mọi thuyết đều dựa trên một hệ tiên đề, không có một quy trình kỹ thuật nào cho phép xây dựng hệ tiên đề, ngoài công cụ duy nhất là TRỰC GIÁC – “món quà thiêng liêng” và “thứ có giá trị duy nhất”.
“Nếu mà hệ tiên đề phi mâu thuẫn thì chắc chắn là nó không đầy đủ. Thà rằng chấp nhận một hệ tiên đề không đầy đủ mà phi mâu thuẫn còn hơn là chấp nhận một hệ tiên đề đầy đủ nhưng lại mâu thuẫn, đó là cái Toán học sợ nhất.” – Giáo sư Tiến sĩ Phạm Việt Hưng.
TRỰC GIÁC (INTUITION) & TRÍ TƯỞNG TƯỢNG (IMAGINATION) – Các Trích Dẫn Thuộc Tiên Đề 1
“Imagination is more important than knowledge. For knowledge is limited, whereas imagination embraces the entire world, stimulating progress, giving birth to evolution.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức. Vì kiến thức có hạn, trong khi trí tưởng tượng bao trùm toàn bộ thế giới, kích thích sự tiến bộ, sinh ra sự tiến hóa.” – Albert Einstein (1879-1955)
“I am enough of the artist to draw freely upon my imagination. Imagination is more important than knowledge. Knowledge is limited. Imagination encircles the world.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Tôi đủ chất nghệ sĩ để tự do vẽ theo trí tưởng tượng của mình. Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức. Kiến thức còn hạn chế. Trí tưởng tượng bao quanh thế giới.” – Albert Einstein (1879-1955)
“The only real valuable thing is intuition.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Điều thực sự có giá trị duy nhất là trực giác.” – Albert Einstein (1879-1955)
“I believe in intuition and inspiration… At times I feel certain I am right while not knowing the reason.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Tôi tin vào trực giác và nguồn cảm hứng… Đôi khi tôi cảm thấy chắc chắn mình đúng trong khi không biết lý do.” – Albert Einstein (1879-1955)
“A new idea comes suddenly and in a rather intuitive way, but intuition is nothing but the outcome of earlier intellectual experience.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Một ý tưởng mới xuất hiện một cách đột ngột và theo một cách khá trực quan, nhưng trực giác không là gì ngoài kết quả của trải nghiệm trí tuệ trước đó.” – Albert Einstein (1879-1955)
“The intuitive mind is a sacred gift and the rational mind is a faithful servant. We have created a society that honors the servant and has forgotten the gift.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Trí óc trực giác là một món quà thiêng liêng và trí óc lý trí là một người hầu trung thành. Chúng ta đã tạo ra một xã hội tôn vinh người hầu mà quên mất món quà.” – Albert Einstein (1879-1955)
“All great achievements of science must start from intuitive knowledge, namely, in axioms, from which deductions are then made…Intuition is the necessary condition for the discovery of such axioms.” – Albert Einstein (1879-1955)
“Mọi thành tựu vĩ đại của khoa học đều phải bắt đầu từ kiến thức trực giác, tức là, từ những tiên đề, từ đó đưa ra các suy luận…Trực giác là điều kiện cần để khám phá ra những tiên đề đó.” – Albert Einstein (1879-1955)
“C’est à l’intérieur même de la vie que nous conduit l’intuition.” – Henri Bergson (1859-1941)
“Chính trong cuộc sống mà trực giác dẫn dắt chúng ta.” – Henri Bergson (1859-1941)
“Il suit de là qu’un absolu ne saurait être donné que dans une intuition, tandis que tout le reste relève de l’analyse.” – Henri Bergson (1859-1941)
“Từ đó, điều tuyệt đối chỉ có thể được đưa ra bằng trực giác, trong khi mọi thứ khác đều phụ thuộc vào sự phân tích.” – Henri Bergson (1859-1941)
“A mathematical concept is like a language – it cannot be acquired by intuition alone.” – David Hilbert (1862-1943)
“Một khái niệm toán học giống như một ngôn ngữ – nó không thể có được chỉ bằng trực giác.” – David Hilbert (1862-1943)
“Athéisme marque de force d’esprit, mais jusqu’à un certain degré seulement.” – Pensées, Blaise Pascal (1623 – 1662)
“Chủ nghĩa vô thần thể hiện sức mạnh của tinh thần, nhưng chỉ ở một mức độ nhất định mà thôi.” – Blaise Pascal (1623 – 1662)
“Memory, joy, are intuitions; and even mathematical propositions become intuitions, for education produces natural intuitions, and natural intuitions are erased by education.” – Blaise Pascal (1623 – 1662)
«La mémoire, la joie sont des sentiments ; et même les propositions géométriques deviennent sentiments, car la raison rend les sentiments naturels et les sentiments naturels s’effacent par la raison.» – Pensées, Blaise Pascal (1623 – 1662)
«Ký ức, niềm vui là trực giác; và ngay cả các mệnh đề toán học cũng trở thành trực giác, vì giáo dục tạo ra trực giác tự nhiên, và trực giác tự nhiên sẽ bị xóa bỏ bởi giáo dục. » – Blaise Pascal (1623 – 1662)
“Những nguyên lý đầu tiên này chỉ có thể nắm bắt được bằng TRỰC GIÁC, và rằng sự thật này khẳng định sự cần thiết phải nhờ cậy đến Chúa trong việc khám phá chân lý.” – Pensées, Blaise Pascal (1623 – 1662)
(Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Blaise_Pascal )
Nguyên văn câu phát biểu trên trong Pháp ngữ và bản dịch Anh ngữ như sau.
277. The heart has its reasons, which reason does not know. We feel it in a thousand things. I say that the heart naturally loves the Universal Being, and also itself naturally, according as it gives itself to them; and it hardens itself against one or the other at its will. You have rejected the one, and kept the other. Is it by reason that you love yourself?
“Trái tim có những lý lẽ của nó, mà lý trí không hề hay biết. Chúng ta cảm nhận được điều đó trong hàng ngàn sự việc. Tôi nói rằng trái tim tự nhiên yêu Bản Thể Phổ Quát (Universal Being – ám chỉ Thiên Chúa), và đồng thời cũng tự nhiên yêu chính nó, tùy theo cách nó tự hiến dâng cho một trong hai; và nó làm cứng lòng với cái này hay cái kia theo ý muốn của nó. Bạn đã từ chối Đấng Toàn Năng, và giữ lấy chính mình. Bạn yêu chính mình bằng lý trí sao?”
278. It is the heart which experiences God, and not the reason. This, then, is faith: God felt by the heart, not by the reason.
“Vậy nên, chính là trái tim cảm nhận được Chúa, chứ không phải lý trí. Đây chính là bản chất của đức tin: Chúa được cảm nhận bằng trái tim, chứ không phải bằng lý trí.”
Nguyên văn Pháp ngữ trong Pensées của Blaise Pascal:
“[…] Le cœur a ses raisons, que la raison ne connaît point. On le sent en mille choses. C’est le cœur qui sent Dieu, et non la raison. Voilà ce que c’est que la foi parfaite, Dieu sensible au cœur. […]”
“Trái tim có những lý lẽ của nó, mà lý trí không thể biết được. Người ta cảm nhận điều đó trong muôn vàn điều. Chính trái tim cảm nhận Thiên Chúa, chứ không phải lý trí. Đó chính là đức tin hoàn hảo, Thiên Chúa được cảm nhận bằng trái tim.”
(Trích:
Blaise Pascal
Pensées de M. Pascal sur la religion et sur quelques autres sujets, qui ont esté trouvées après sa mort parmy ses papiers (1670)
Guillaume Desprez, 1670, seconde édition (p. 1-334).
Nguồn: https://fr.wikisource.org/wiki/Livre:Pascal_-_Pensées,_2e_édition_G._Desprez,_1670.djvu )
282. We know truth, not only by the reason, but also by the heart, and it is in this last way that we know first principles; and reason, which has no part in it, tries in vain to impugn them. The sceptics, who have only this for their object, labour to no purpose. We know that we do not dream, and, however impossible it is for us to prove it by reason, this inability demonstrates only the weakness of our reason, but not, as they affirm, the uncertainty of all our knowledge. For the knowledge of first principles, as space, time, motion, number, is as sure as any of those which we get from reasoning. And reason must trust these intuitions of the heart, and must base them on every argument.
(We have intuitive knowledge of the tri-dimensional nature of space and of the infinity of number, and reason then shows that there are no two square numbers one of which is double of the other. Principles are intuited, propositions are inferred, all with certainty, though in different ways.) And it is as useless and absurd for reason to demand from the heart proofs of her first principles, before admitting them, as it would be for the heart to demand from reason an intuition of all demonstrated propositions before accepting them.
“Chúng ta biết chân lý, không chỉ bằng lý trí, mà còn bằng trái tim, và chính bằng cách thức sau này mà chúng ta nhận biết các nguyên lý đầu tiên; và lý trí, vốn không có vai trò gì trong đó, cố gắng công kích chúng cũng chỉ là vô ích. Những người hoài nghi, những người chỉ có mục đích này, đều làm việc vô ích. Chúng ta biết rằng mình không mơ, và dù chúng ta không thể chứng minh điều đó bằng lý trí, sự bất lực này chỉ chứng tỏ sự yếu kém của lý trí chúng ta, chứ không phải, như họ khẳng định, sự bất định của mọi tri thức của chúng ta. Bởi vì sự nhận thức về các nguyên lý đầu tiên, như không gian, thời gian, chuyển động, con số, cũng chắc chắn như bất kỳ tri thức nào chúng ta có được từ lý luận. Và lý trí phải tin tưởng vào những trực giác này của trái tim, và phải đặt nền tảng cho mọi lập luận trên chúng.
(Chúng ta có tri thức trực giác về bản chất ba chiều của không gian và về tính vô hạn của số lượng, và lý trí sau đó cho thấy rằng không có hai số chính phương nào mà số này gấp đôi số kia. Các nguyên lý được trực giác hóa, các mệnh đề được suy luận, tất cả đều chắc chắn, mặc dù theo những cách khác nhau.) Và việc lý trí đòi hỏi trái tim phải chứng minh các nguyên lý đầu tiên của mình trước khi chấp nhận chúng cũng vô ích và phi lý, giống như việc trái tim đòi hỏi lý trí phải trực giác hóa tất cả các mệnh đề đã được chứng minh trước khi chấp nhận chúng vậy.”
Nguyên văn Pháp ngữ trong Pensées của Blaise Pascal:
“[…] Car la connaissance des premiers principes, comme, par exemple, qu’il y a espace, temps, mouvement, nombre, matière, est aussi ferme qu’aucune de celles que nos raisonnements nous donnent. Et c’est sur ces connaissances d’intelligence et de sentiment qu’il faut que la raison s’appuie, et qu’elle fonde tout son discours.
Je sens qu’il y a trois dimensions dans l’espace, et que les nombres sont infinis ; et la raison démontre ensuite, qu’il n’y a point deux nombres carrés, dont l’un soit double de l’autre. Les principes se sentent; les propositions se concluent; le tout avec certitude, quoi que par différentes voies. Et il est aussi ridicule que la raison demande au sentiment, et à l’intelligence des preuves de ces premiers principes pour y consentir, qu’il serait ridicule que l’intelligence demandât à la raison un sentiment de toutes les propositions qu’elle démontre.
Cette impuissance ne peut donc servir qu’à humilier la raison qui voudrait juger de tout; mais non pas à combattre notre certitude, comme s’il n’y avait que la raison capable de nous instruire. Plût à Dieu que nous n’en eussions au contraire jamais besoin, et que nous connussions toutes choses par instinct et par sentiment. Mais la nature nous a refusé ce bien, et elle ne nous a donné que très peu de connaissances de cette sorte: toutes les autres ne peuvent être acquises que par le raisonnement. […]”
“Bởi vì tri thức về các nguyên lý đầu tiên, ví dụ như có không gian, thời gian, chuyển động, số học, vật chất, cũng chắc chắn như bất kỳ tri thức nào mà lý trí của chúng ta cung cấp. Và chính dựa trên những tri thức về trí tuệ (intelligence) và trực giác / cảm giác (sentiment) này mà lý trí phải tựa vào, và từ đó xây dựng nền tảng cho toàn bộ lập luận của mình.
Tôi cảm nhận được rằng có ba chiều trong không gian và rằng các con số là vô hạn; và sau đó, lý trí chứng minh rằng không có hai số bình phương nào mà số này gấp đôi số kia. Các nguyên lý được cảm nhận (bằng trực giác); các mệnh đề được suy luận; tất cả đều có sự chắc chắn, mặc dù đi theo những con đường khác nhau. Và cũng lố bịch rằng lý trí đòi hỏi cảm giác, và trí tuệ phải đưa ra bằng chứng về những nguyên lý căn bản đầu tiên này để chấp thuận chúng, cũng như sẽ rất vô lý rằng trí tuệ đòi hỏi lý trí phải mang lại một trực giác / cảm giác về tất cả các mệnh đề mà nó chứng minh.
Sự bất lực này (ám chỉ sự bất lực của lý trí khi không thể tự chứng minh các nguyên lý cơ bản) do đó chỉ có thể dùng để hạ mình lý trí vốn muốn phán xét mọi thứ; nhưng không phải để chống lại sự chắc chắn của chúng ta, như thể chỉ có lý trí mới có khả năng giáo huấn cho chúng ta. Cầu nguyện Chúa ước gì chúng ta không bao giờ cần đến nó (lý trí), và ước gì chúng ta biết mọi thứ bằng trực giác và cảm giác. Nhưng tự nhiên đã từ chối điều tốt đẹp này với chúng ta, và chỉ ban cho chúng ta rất ít kiến thức loại đó: tất cả những kiến thức khác còn lại chỉ có thể thụ đắc thông qua sự suy luận (lý trí).”
(Trích:
Blaise Pascal
Pensées de M. Pascal sur la religion et sur quelques autres sujets, qui ont esté trouvées après sa mort parmy ses papiers (1670)
Guillaume Desprez, 1670, seconde édition (p. 1-334).
Nguồn: https://fr.wikisource.org/wiki/Livre:Pascal_-_Pensées,_2e_édition_G._Desprez,_1670.djvu )
(Trích: từ bản dịch Anh ngữ
PASCAL’S PENSÉES
INTRODUCTION BY
T. S. ELIOT
A Dutton Paperback
New York
E. P. DUTTON & CO., INC.
This paperback edition of “Pascal’s Pensées” Published 1958 by E. P. Dutton & Co., Inc.
All rights reserved. Printed in the U. S. A.
SBN 0-525-47018-2
Nguồn: https://www.gutenberg.org/files/18269/18269-h/18269-h.htm )
Bản dịch ngược sang Pháp ngữ:
“La connaissance des premiers principes, comme qu’il y a espace, temps, mouvement, nombres, est aussi ferme qu’aucune de celles que nos raisonnements nous donnent. Et c’est sur ces connaissances du cœur et de l’instinct qu’il faut que la raison s’appuie et qu’elle y fonde tout son discours.
Le cœur sent qu’il y a trois dimensions dans l’espace et que les nombres sont infinis, et la raison démontre ensuite que tout cela est impossible. Ces principes sont sentis, et non prouvés. Et c’est en vain que le raisonnement, qui n’y a point de part, essaie de les combattre.”
“Sự nhận thức về những nguyên lý đầu tiên, chẳng hạn như sự tồn tại của không gian, thời gian, chuyển động, và các con số, cũng vững chắc như bất kỳ nhận thức nào mà lý luận của chúng ta mang lại. Và chính trên những nhận thức của trái tim và bản năng này mà lý trí phải dựa vào và dùng để đặt nền tảng cho toàn bộ lập luận của mình.
Trái tim cảm nhận được rằng không gian có ba chiều và các con số là vô tận, và lý trí sau đó chứng minh rằng tất cả những điều đó là bất khả thi. Những nguyên lý này được cảm nhận, chứ không phải được chứng minh. Và sẽ là vô ích nếu lý luận, vốn không có phần trong đó, cố gắng bác bỏ chúng.”
ThíchThích
TƯ TƯỞNG “CÚ HÍCH CỦA THƯỢNG ĐẾ” & 3 ĐỊNH LUẬT CỦA ISAAC NEWTON
Khái niệm “Cú Hích của Thượng Đế” (“Divine Kick”, “Divine Intervention”) khi ngài tạo ra vũ trụ và làm cho vũ trụ vận động bằng một “Cú Hích” (“Kick”) hoặc “Sự Can Thiệp của Thượng Đế” (“Divine Intervention”), thuở ban đầu là khái niệm trong tư duy Triết Học truyền thống ở Hy Lạp cổ đại trước thời kỳ Aristotle (384 – 322 trước Công Nguyên) và kéo dài sau đó; khái niệm này được đề cập tiếp tục ở La Mã cổ đại bởi Thánh Thomas Aquinas (1225 – 1274) và các nhà Thần Học (The Theologist) của Tòa Thánh Vatican của Công Giáo Roma.
Trong Triết Học Hy Lạp cổ đại trước thời kỳ Aristotle (384 – 322 trước Công Nguyên), khái niệm này trong tiếng Hy Lạp cổ đại gọi là “ἀρχή” – theo tiếng Latin phiên âm là “archē” nghĩa là “Khởi Nguyên” được hiểu khác nhau tùy các Triết Gia vào thời đó.
“ἀρχή” (“archē”): “nước” theo Thales, “khí” theo Anaximenes, “lửa” theo Heraclitus, “apeiron” (“vô định”, “vô hạn”), và theo Aristotle (384 – 322 trước Công Nguyên) là “αἰτία” – theo tiếng Latin phiên âm là “aitía” nghĩa là “Nguyên Nhân” mà tiếng Anh và tiếng Pháp là “Cause” – hoặc nghĩa là “Giải Thích” / “Lý Do” mà trong tiếng Anh là “Explanation” / “Reason” và trong tiếng Pháp là “Explication” / “Raison”.
Aristotle (384 – 322 trước Công Nguyên) phân loại khái niệm “ἀρχή” (“archē”) mà ông gọi là “αἰτία” (“Nguyên Nhân” hoặc “Giải Thích”) thành bốn loại nguyên nhân (“τέτταρες αἰτίαι”) như sau.
Trong đó, “αἰτία” – theo tiếng Latin phiên âm là “aitía” là khái niệm trung tâm giúp người Hy Lạp giải thích sự vật và khái niệm này hoàn toàn không có ý nghĩa Thần Học (Theology) như sau này thời Triết Học Kinh Viện (The Scholastic Philosophy) ở Tòa Thánh Vatican của Công Giáo Roma kéo dài suốt thời kỳ từ thế kỷ 5 Công Nguyên đến thế kỷ 15 mà Sử Học gọi là thời kỳ Trung Cổ Âu châu (The Medieval Europe).
Và trong bốn nguyên nhân trên, thì khái niệm “αἰτία” – theo tiếng Latin phiên âm là “aitía” nghĩa là “Nguyên Nhân” được Aristotle gắn liền với hai nguyên nhân thứ ba và thứ tư tức Nguyên Nhân Hiệu dụng (Efficient Cause) và Nguyên Nhân Mục đích (Final Cause), nhưng nó được cụ thể hóa thành khái niệm “Động Cơ Bất Động” mà trong tiếng Hy Lạp là “το πρῶτον κινοῦν ἀκίνητον” – theo tiếng Latin phiên âm là “to prōton kinoun akinēton” nghĩa là “cái làm chuyển động đầu tiên nhưng chính nó không chuyển động” và đôi khi là “ἡ πρώτη αἰτία” – theo phiên âm tiếng Latin là “hē prōtē aitia” nghĩa là “Nguyên Nhân Đầu Tiên” (một cách diễn đạt chung) và đó là những từ ngữ mà Aristotle dùng trong các tác phẩm của ông thường được gọi là lãnh vực “ἡ πρώτη φιλοσοφία” – theo tiếng Latin phiên âm là “hē prōtē philosophia” nghĩa là “Triết Học Thứ Nhất” / “Triết Học Đầu Tiên” và lãnh vực “ἡ θεολογία” – theo tiếng Latin phiên âm là “hē theologia” nghĩa là Thần Học (tiếng Anh: Theology, tiếng Pháp: Théologie), sau này Andronicus of Rhodes (thế kỷ 1 trước Công Nguyên) đặt ra danh từ “τὰ μετὰ τὰ φυσικά” – theo tiếng Latin phiên âm là “ta meta ta physika” nghĩa là “Siêu Hình Học” khi biên tập tác phẩm của Aristotle.
Khái niệm “ἀρχή” – theo tiếng Latin phiên âm là “archē” nghĩa là “Khởi Nguyên” mà Aristotle (384 – 322 trước Công Nguyên) gọi là “αἰτία” – theo tiếng Latin phiên âm là “aitía” nghĩa là “Nguyên Nhân” mà Aristotle cụ thể hóa thành khái niệm Động Cơ Bất Động mà trong tiếng Hy Lạp là “το πρῶτον κινοῦν ἀκίνητον” – theo tiếng Latin phiên âm là “to prōton kinoun akinēton” nghĩa là “cái làm chuyển động đầu tiên nhưng chính nó không chuyển động” mà tiếng Anh là “The Prime Unmoved Mover” và tiếng Pháp là “Le Premier Moteur Immobile”; và đôi khi là “ἡ πρώτη αἰτία” – theo phiên âm tiếng Latin là “hē prōtē aitia” nghĩa là “Nguyên Nhân Đầu Tiên” mà tiếng Anh là “First Cause” và tiếng Pháp là “La Cause Première” đôi khi được dịch sang Việt ngữ là cái “Nguyên Ủy” hay “Thủ Nguyên” hoặc gọi chung là “Nguyên Lý Đầu Tiên” từ cách gọi vắn tắt trong tiếng Pháp là “Le Premier” trong các giáo trình (cours) giảng dạy Triết Học bằng tiếng Việt trước đây ở miền bắc Việt Nam trước năm 1954 và ở miền nam Việt Nam trước năm 1975.
Trong Triết Học Kinh Viện thời Âu châu Trung Cổ, đặc biệt là qua công trình của Thomas Aquinas (1225 – 1274), người ta đã tổng hợp Triết học Aristotle với Thần Học Ki-tô Giáo, khái niệm “Động Cơ Bất Động” đã được dịch thành tiếng Latin là “Motor Immovēns” và được hiểu như là “Causa Prima” (“Nguyên Nhân Đầu Tiên”) – thường được đồng nhất với Thượng Đế nghĩa là khái niệm “Cú Hích của Thượng Đế” sau đó được phát triển bởi các Triết Gia Trung Cổ và Thần Học như Thomas Aquinas.
Khái niệm “Cú Hích của Thượng Đế” liên quan đến vấn đề hóc búa trong Vật Lý Cơ Học Cổ Điển của Isaac Newton (1642–1727) thời đó là “Lực sinh ra Chuyển Động” hay “Chuyển Động sinh ra Lực” làm giới Vật Lý lao vào cố gắng chế tạo Động Cơ Vĩnh Cửu như Thượng Đế tạo ra vũ trụ chuyển động không bao giờ ngừng và cho đến nay thất bại hoàn toàn, điều này phản ánh sự tham vọng điên rồ và ngạo mạn của giới khoa học Tây phương vốn đã có từ thời đó, nghĩa là truyền thống tư tưởng Triết Học Hy Lạp cổ đại và Aristotle đã khơi mào vấn đề này cho Isaac Newton và giới Vật Lý Cơ Học Cổ Điển lẫn giới Vật Lý Học Hiện Đại! Đây là Khát Vọng hay Sự Ngạo Mạn Điên Cuồng của giới khoa học Tây phương muốn tìm hiểu và chinh phục vũ trụ thiên địa vạn vật ?
Tìm hiểu nguyên tác Latin của Isaac Newton năm 1687 và bản dịch Anh ngữ của Andrew Motte năm 1729 diễn giải 3 Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn của Isaac Newton kèm theo công thức và giải thích tư tưởng Triết Học Vật Lý của Isaac Newton, từ đó để so sánh Thế Giới Quan của Isaac Newton và Albert Einstein, Max Planck, Niels Bohr, Werner Karl Heisenberg tức toàn bộ giới Vật Lý Học Hiện Đại, Sự Tham Vọng Điên Rồ và Ngạo Mạn của giới khoa học Tây phương từ Triết Học Vật Lý đến Sinh Học hay nói chung là toàn bộ nền tảng tư tưởng Triết Học Khoa Học Tây phương là vốn có từ xưa đến nay tức là từ Hy Lap cổ đại đến La Mã cổ đai và ngày nay, tư tưởng Triết Học Tây phương là CHINH PHỤC THẾ GIỚI TỰ NHIÊN, trong khi nền tảng tư tưởng Triết Học Đông phương trong đó có cả Ki-tô Giáo của Đức Jesus Christus đến Ấn Độ và Trung Hoa là HÒA HỢP THẾ GIỚI TỰ NHIÊN, 2 NỀN TẢNG tư tưởng Triết Học truyền thống khác nhau rõ rệt ảnh hưởng đến quá trình tư duy và hành động thực tiễn trong đời sống và trong tư duy khoa học.
3 ĐỊNH LUẬT NEWTON VỀ CHUYỂN ĐỘNG (Newton’s Three Laws of Motion)
Tài liệu này tổng hợp nguyên văn Latin từ tác phẩm Philosophiæ Naturalis Principia Mathematica (1687) và bản dịch tiếng Anh của Andrew Motte (1729), cùng với bản dịch tiếng Việt tương ứng.
Lưu chú: tên nguyên văn trên bìa sách: Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (1687) – chữ Philosophiæ tại phía cuối cùng có ký âm æ trong Anh ngữ tương đương 2 nguyên âm được thể hiện bằng 2 chữ cái ghép thành là a + e về phương diện phát âm, và cả hình dạng của ký âm æ chính là hình dạng chữ a ghép với chữ e mà thành như thế này ae chính xác như trên bìa sách ghi tên sách là PHILOSOPHIAE NATURALIS PRINCIPIA MATHEMATICA.
1. Định luật I: Định luật Quán tính (Law I: Law of Inertia)
Tài liệu này tổng hợp nguyên văn Latin từ tác phẩm Philosophiæ Naturalis Principia Mathematica (1687) và bản dịch tiếng Anh của Andrew Motte (1729), cùng với bản dịch tiếng Việt tương ứng.
Latin
Corpus omne perseverare in statu suo quiescendi vel movendi uniformiter in directum, nisi quatenus a viribus impressis cogitur statum illum mutare.
Anh ngữ (Andrew Motte, 1729)
Every body perseveres in its state of rest or of uniform motion in a straight line unless it is compelled to change that state by forces impressed upon it.
Việt ngữ
Mọi vật luôn duy trì trạng thái đứng yên (v = 0) hoặc chuyển động thẳng đều (v = constant), trừ khi có lực tổng hợp tác động bên ngoài buộc nó phải thay đổi trạng thái đó. (v: velocity / vận tốc, constant: hằng số)
Thuyết minh:
Ý nghĩa: Lực (ký hiệu: F, viết tắt của Force: Lực) là nguyên nhân gây ra sự thay đổi vận tốc (tức là gia tốc: acceleration), chứ không phải nguyên nhân của chuyển động.
Công thức: ∑F = 0 => v = 0
Giải thích Ý nghĩa Công thức: nếu tổng các lực (ký hiệu: ∑F và đọc là Sigma F) tác dụng lên vật bằng 0, thì vận tốc của vật (ký hiệu là v, viết tắt của Velocity: Vận Tốc) là hằng số (constant) – thì vật đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều).
2. Định luật II: Định luật về Sự thay đổi Chuyển động (Law II: Law of Motion/Momentum)
Latin
Mutationem motus proportionalem esse vi motrici impressæ, & fieri secundum lineam rectam qua vis illa imprimitur.
Si vis aliqua motum quemvis generet, dupla duplum, tripla triplum generabit, sive simul & semel, sive gradatim & successive impressa fuerit.
Et hic motus (quoniam in eandem semper plagam cum vi generatrice determinatur) si corpus antea movebatur, motui ejus vel conspiranti additur, vel contrario subducitur, vel obliquo oblique adjicitur, & cum eo secundum utriusque determinationem componitur.
Anh ngữ (Andrew Motte, 1729)
The alteration of motion is ever proportional to the motive force impressed; and is made in the direction of the straight line in which that force is impressed.
If any force generates a motion, a double force will generate double the motion, a triple force triple the motion, whether that force be impressed altogether at once or gradually and successively.
And this motion (as it is always directed the same way with the generating force) if the body moved before, is either added to its motion (if it was direct) or subtracted from it (if contrary) or joined obliquely to it (if oblique), and compounded with it according to the determination of both.
Việt ngữ
Sự thay đổi của chuyển động (motus) luôn tỷ lệ với lực gây động tác dụng lên vật, và xảy ra theo đường thẳng theo đó lực được tác dụng.
Nếu một lực tạo ra một chuyển động, lực gấp đôi tạo ra chuyển động gấp đôi, lực gấp ba tạo ra chuyển động gấp ba, bất kể lực tác dụng một lần ngay tức thì hay tác dụng dần dần.
Và chuyển động mới này (vì nó luôn được định hướng cùng chiều với lực sinh ra nó), nếu vật đã chuyển động trước đó, thì sẽ được cộng vào chuyển động cũ (nếu cùng phương), hoặc được trừ đi khỏi nó (nếu ngược phương), hoặc được cộng vào một cách xiên (nếu lực tác dụng xiên), và được hợp lại với chuyển động cũ theo định hướng của cả hai.
Thuyết minh:
Ý nghĩa: Lực tổng hợp hay tổng các lực (ký hiệu: ∑ F và đọc là Sigma F) tác dụng lên vật thì bằng với Khối Lượng (ký hiệu: m, viết tắt của Mass: Khối Lượng) nhân với Gia Tốc (ký hiệu: a, viết tắt của acceleration: gia tốc) mà lực đó gây ra.
Công thức: ∑F = m.a
CÔNG THỨC NGUYÊN THỦY CỦA ISAAC NEWTON (1642–1727)
F = dp/dt
dt là ký hiệu dùng trong Vi Tích Phân (Calculus) và nó đại diện cho một khoảng thời gian vô cùng nhỏ (Δt) tiến tới Zero (0), nó là một đại lượng vô cùng quan trọng trong Vật Lý và Toán Học, được gọi là vi phân của thời gian (differential of time).
dp là ký hiệu trong Vi Tích Phân (Calculus), đại diện cho vi phân của động lượng (differential of momentum).
Tại sao Momentum (Động Lượng) lại ký hiệu bằng p, không phải m?
Vì m đã dành cho mass (khối lượng).
Trong lịch sử Vật Lý Âu châu, đặc biệt từ thời Isaac Newton và Leonhard Euler (1707–1783), Động Lượng được gọi theo tiếng Latin:
Nhiều tài liệu thế kỷ 17–18 dùng ký hiệu p từ gốc Latin nói trên.
Do đó, p trở thành ký hiệu truyền thống cho Động Lượng (Momentum).
Diễn giải ngắn gọn:
Theo tiếng Latin, Isaac Newton dùng danh từ Motus (Chuyển Động) và Quantitas Motus (Động Lượng); sau này, Leonhard Euler (1707–1783) muốn tiêu chuẩn hóa thuật ngữ chính xác theo Toán Học nên dùng danh từ Momentum (Động Lượng) cũng là tiếng Latin và được dùng phổ biến đến ngày nay.
Giải thích Ý nghĩa Công thức: Lực (ký hiệu: F, viết tắt của Force: Lực) thì bằng với tốc độ thay đổi của Động Lượng (p) theo thời gian (t); ban đầu Isaac Newton tập trung vào Động Lượng (ký hiệu: p, viết tắt của các từ Latin nhóm “pet–” nghĩa là “lao tới, đẩy tới” trong nhiều văn bản Latin về kỹ thuật dùng các từ ngữ như “impetus, momentum, petere, v.v.” để chỉ “xung lực” hoặc “đà”) mà Động Lượng thì bằng với Khối Lượng nhân với Vận Tốc (công thức : p = m.v).
CÔNG THỨC CỦA LEONHARD EULER (1707–1783)
Các nhà vật lý sau này, đặc biệt là Leonhard Euler (1707–1783), đã biến đổi và đơn giản hóa công thức này để áp dụng cho các vật có Khối Lượng Không Đổi (ký hiệu: m = const, viết tắt của Constant: Hằng Số, Số Không Đổi).
F = dp/dt = dp/dt = d(m.v)/dt = m.(dv/dt) – ta có công thức rút gọn: F = m.a với Gia Tốc là a = dv/dt
Gia Tốc (a) tỉ lệ thuận với Lực (F) và tỉ lệ nghịch với Khối Lượng (m).
Sigma lớn (ký hiệu: ∑) là ký hiệu toán học tiêu chuẩn dùng để biểu thị Phép Tính Tổng (Summation) của một dãy các số hạng hoặc các đại lượng.
1. Ý nghĩa trong Công thức Vật Lý
Trong bối cảnh các định luật Newton, ∑F (đọc là Sigma F) có nghĩa là Tổng Hợp Lực hay Tổng Vector Của Tất Cả Các Lực tác dụng lên vật thể.
2. Ý nghĩa trong Định luật Newton
A. Định luật I (Trạng thái Cân bằng):
∑F = 0
B. Định luật II (Trạng thái có Gia tốc):
Tóm lại, Sigma (∑) đảm bảo rằng khi áp dụng các Định luật Newton, cần phải tính đến Tất Cả Các Tương Tác Lực mà vật thể đang phải chịu, chứ không phải Chỉ Một Lực Đơn Lẻ.
3. Định luật III: Định luật Hành động và Phản ứng (Law of Action and Reaction)
Định luật này miêu tả bản chất của lực là sự tương tác và luôn xuất hiện theo cặp.
Latin
Actioni contrariam semper & æqualem esse reactionem: sive corporum duorum actiones in se mutuo semper esse æquales & in partes contrarias dirigi.
Anh ngữ (Andrew Motte, 1729)
To every action there is always opposed an equal reaction; or the mutual actions of two bodies upon each other are always equal and directed to contrary parts.
Việt ngữ
Với mỗi tác động luôn có một phản tác động bằng độ lớn và ngược hướng; sự tác động lẫn nhau giữa hai vật luôn bằng nhau và hướng về các phía đối nhau.
Thuyết minh:
Ý nghĩa: Lực luôn là kết quả của sự tương tác giữa hai vật.
Công thức: F (A – B) = – F (B – A)
Giải thích Ý nghĩa Công thức: Lực (F) mà vật A tác dụng lên vật B có cùng độ lớn nhưng ngược chiều với Lực mà vật B tác dụng lên vật A.
ThíchThích
Tiên Đề Triết Học Khoa Học (Tiếp theo)
(Trình bày: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến sĩ Toán Học, kênh Nhận Thức Mới, thứ Sáu 05 tháng 12/2025.)
11. Thông tin là một thực thể phi vật chất tồn tại độc lập với vật chất và Thông tin không phải là THUỘC TÍNH của vật chất, vật chất chỉ là một trong nhiều hình thức / phương tiện mà Thông tin VAY MƯỢN và SỬ DỤNG để biểu hiện ra ngoài cho con người nhận biết.
Não bộ không tạo ra ý thức, Não bộ chỉ giống như một cái van giảm áp hay máy lọc. và bộ hạn chế có tác dụng điều chỉnh ý thức phi vật chất mà chúng ta có được trong những thế giới phi vật chất rộng lớn thành một loại ý thức có dung lượng hạn chế trong hiện thực cuộc sống nhỏ bé.
THÔNG TIN CÓ TRƯỚC VẬT CHẤT, Ý THỨC CÓ TRƯỚC, VẬT CHẤT CÓ SAU, Ý THỨC QUYẾT ĐỊNH VẬT CHẤT, Ý THỨC KHÔNG PHẢI LÀ THUỘC TÍNH CỦA VẬT CHẤT, TRƯỚC KHI VẬT CHẤT ĐƯỢC HÌNH THÀNH, CẦN PHẢI CÓ BẢN THIẾT KẾ MÔ HÌNH CẤU TẠO CỦA VẬT CHẤT, BỞI MỌI VẬT KHÔNG HÌNH THÀNH NGẪU NHIÊN, NGẪU NHIÊN LÀ VÔ TRẬT TỰ VÀ HỖN LOẠN, TRẬT TỰ CHÍNH LÀ QUY LUẬT TẤT YẾU CỦA MỌI HIỆN TƯỢNG SỰ VẬT TRONG VŨ TRỤ.
Thông tin biểu lộ qua vật chất là khái niệm thứ nhất, Thông tin tồn tại độc lập với vật chất là khái niệm thứ hai, hai khái niệm ấy khác nhau.
Phải nhấn mạnh cái điều đó là bởi vì nhiều người thấy rằng thông tin biểu lộ qua vật chất, cho nên có ý nghĩ cho rằng thông tin là một cái gì nó gắn chặt với vật chất. Nhưng vì không thể nói thông tin là vật chất được cho nên những người ấy hình thành một khái niệm trong đầu là thông tin là một thuộc tính của vật chất.
Định luật tồn tại khách quan, dù con người có khám phá ra hay không khám phá thì nó vẫn cứ tồn tại; từ khi có vũ trụ thì thông tin đã tồn tại rồi.
Thông tin tồn tại một cách độc lập, vốn có rồi, con người có biết Thông tin tồn tại hay không lại là chuyện khác, Thông tin biểu lộ qua vật chất cho con người biết, nếu Thông tin không muốn cho con người biết, nó chẳng cần phải lộ ra với con người làm gì cả.
Hiện nay đang tồn tại những Thông tin mà con người không biết, rất nhiều bí mật mà con người chưa biết hoặc là thậm chí không bao giờ biết nhưng Thông tin vẫn tồn tại.
Ai tin rằng con người có thể biết được tất cả mọi sự, người đó ngây thơ quá.
Định Lý Bất Toàn (Toán Học) của Kurt Gödel (Kurt Gödel’s Incompleteness Theorems) khẳng định rằng có những sự thật con người sẽ vĩnh viễn không bao giờ giải thích được, nhưng sự thật vẫn đang tồn tại.
Do đó Thông tin độc lập với vật chất mặc dù Thông tin có thể biểu lộ thông qua các vật chất cho con người biết.
VẬT CHẤT LÀ PHƯƠNG TIỆN MÀ THÔNG TIN BIỂU LỘ QUA ĐÓ, hoặc, THÔNG TIN CÓ THỂ BIỂU LỘ BẰNG CÁC HÌNH THỨC PHƯƠNG TIỆN KHÁC.
Ý THỨC TỒN TẠI ĐỘC LẬP VỚI VẬT CHẤT VÀ CÓ TRƯỚC VẬT CHẤT, Ý THỨC KHÔNG PHẢI LÀ THUỘC TÍNH CỦA VẬT CHẤT.
TƯ TƯỞNG VÀ CẢM XÚC CỦA CON NGƯỜI CÓ THỂ ĐƯỢC BIỂU HIỆN BẰNG NHIỀU HÌNH THỨC, NGÔN NGỮ LÀ MỘT TRONG NHIỀU PHƯƠNG TIỆN MÀ TƯ TƯỞNG VÀ CẢM XÚC DÙNG ĐỂ BIỂU HIỆN, NHƯ HỘI HỌA, ÂM NHẠC, TOÁN HỌC, ĐIÊU KHẮC, KÝ HIỆU, v.v.
TINH HOA TƯ TƯỞNG trong Tiên Đề 11 là đã TRIỆT TIÊU DUY TÂM LUẬN NGAY TỪ BAN ĐẦU để tiến đến SỰ TOÀN TRIỆT phái DUY VẬT LUẬN, Tiên Đề này đã cho thấy sự SAI LẦM lớn nhất của Triết Học hiện đại là phân lập DUY VẬT và DUY TÂM.
Từ Tiên Đề của Khoa Học Gia người Đức Werner Gitt (1937 – nay) chính là nhan đề tác phẩm của Werner Gitt “In the Beginning was Information” (“Tự Khởi Nguyên đã là Thông Tin”), ta đã đi đến được một Tiên Đề Tư Tưởng Triết Học Khoa Học triệt để nhất.
Nghĩa là, với Tiên Đề THÔNG TIN, đi đến khái niệm Bản Thiết Kế, và tác giả Bản Thiết Kế, đã làm sụp đổ hoàn toàn Duy Tâm Luận (Idealism) trước khi đi tới TOÀN TRIỆT Duy Vật Luận (Materialism) và Duy Vật Luận KHÔNG CÒN ĐƯỜNG SỐNG SÓT vì Duy Tâm Luận đã bị chết ngay từ đầu không có đất sống thì Duy Vật Luận cũng không còn chỗ dựa để công kích mà xây dựng nền tảng cho mình.
Vậy thì Triết Học của Triết gia Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1830) có tính Tiên Nghiệm (Transcendental: Siêu Nghiệm) VƯỢT QUA Tư Tưởng của Triết gia Đức Immanuel Kant (1724 – 1804) cho rằng VẬT TỰ NÓ = THING IN ITSELFT và Bất Khả Tri Luận (Agnosticism) nghĩa là Immanuel Kant cho rằng con người KHÔNG THỂ TIÊN NGHIỆM, trong khi Hegel tuyên bố Tiên Nghiệm của ông rằng TINH THẦN TUYỆT ĐỐI (THE ABSOLUTE SPIRIT) mới là nội dung vừa có tính chất TIÊN KHỞI vừa có tính chất TỐI HẬU (CUỐI CÙNG) của vũ trụ và đó là một Tiên Đề MỞ với một Vũ Trụ Quan MỞ BIẾN HÓA VÔ TẬN CÙNG.
CÁC PHÁT BIỂU TRÍCH DẪN CHO TIÊN ĐỀ 11
Bàn về Tri Thức Luận còn gọi là Nhận Thức Luận (Epistemology) là một bộ phận tri thức trong Triết Học (Philosophy) Tây phương, Khổng Tử cũng có những câu nói khiến người ngày nay (những con người còn lương tâm và lương tri đạo đức) cũng phải cúi đầu suy nghĩ:
知之為知之, 不知為不知, 是知也 (論語 – 為政)
Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã (Luận Ngữ – Vi Chính)
Biết (thì nói) là biết, không biết (thì nói) là không biết, thì (chính) là biết vậy.
và
KHÔNG BÀN NHỮNG CHUYỆN KHÔNG THỂ BIẾT VÀ KHÔNG THỂ CHỨNG MINH ĐƯỢC VÌ KHÔNG CÓ LỢI ÍCH THIẾT THỰC GÌ mà đây là lấy ý từ nguyên văn của Khổng Tử trong sách Luận Ngữ, thiên Tử Lộ.
子不語怪、力、亂、神。(論語,子路)
Tử bất ngữ quái, lực, loạn, thần. (Luận Ngữ, [thiên] Tử Lộ)
Khổng Tử không bàn đến chuyện quái dị, bạo lực, loạn lạc, và quỷ thần.
Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế giảng Phật Pháp, nhiều môn đệ hỏi ngài:
“Bạch Thầy, có Thượng Đế sáng tạo vũ trụ muôn loài chăng?”
Đức Phật nhắm mắt không trả lời, hỏi mãi ngài phải mở mắt ra mà nói:
“Thượng Đế có hay không thì không liên quan đến quá trình tu học …” và “Những gì ta giảng dạy chỉ là nắm lá trong bàn tay của ta, trong khi trong rừng thì muôn cành lá.”
Các nhà khoa học tiên phong đều là người sùng đạo:
Roger Bacon (thế kỷ 13): Đề cao quan sát và thí nghiệm, Tu sĩ dòng Francisco
Nicolaus Copernicus: Thuyết nhật tâm, Linh mục Công giáo
Johannes Kepler: Quỹ đạo hành tinh elip, Tin rằng “Chúa viết toán học vào vũ trụ”
Isaac Newton: Cơ học cổ điển, Tận hiến cả đời cho nghiên cứu Kinh Thánh
Gregor Mendel: Di truyền học, Tu sĩ dòng Augustino
(1) Isaac Newton (1643–1727) — cha đẻ của Cơ Học Cổ Điển
“This most beautiful system of the sun, planets, and comets could only proceed from the counsel and dominion of an intelligent and powerful Being.” — Isaac Newton, Principia Mathematica, 1687.
“Cái hệ thống tuyệt mỹ của Mặt Trời, các hành tinh và sao chổi này chỉ có thể được tạo nên bởi ý chí và quyền năng của một Đấng Thông Tuệ Toàn Năng.” — Isaac Newton, Nguyên Tắc Toán Học, ấn bản năm 1687.
Newton coi việc khám phá quy luật vật lý là khám phá tác phẩm của Thượng Đế.
(2) Johannes Kepler (1571–1630) — người tìm ra quỹ đạo elip của hành tinh
“I was merely thinking God’s thoughts after Him.” — Johannes Kepler, Letter to Michael Maestlin, 1595.
“Tôi chỉ đang suy nghĩ lại những ý nghĩ của Thượng Đế sau Ngài.” — Johannes Kepler, Lá Thư gửi Michael Maestlin, ấn bản năm 1595.
Kepler xem toán học và thiên văn là cách con người tiếp cận tư tưởng của Đấng Sáng Tạo.
(3) Robert Boyle (1627–1691) — cha đẻ của Hóa Học Hiện Đại
“When with bold telescopes I survey the old and newly discovered stars and planets, I find myself transported by wonder to the Author of all this beauty.” — Robert Boyle, Works, Volumn 8, 1772.
“Khi dùng kính viễn vọng để khảo sát những vì sao và hành tinh, tôi bị cuốn hút bởi sự kinh ngạc đến với Đấng đã sáng tạo nên tất cả vẻ đẹp này.” — Robert Boyle, Các Tác Phẩm, Tập. 8, ấn bản năm 1772.
Boyle xem “Nghiên cứu khoa học là hành vi tôn vinh Đấng Tạo Hóa” (“The study of the Booke of Nature, is one of the Ends of the Institution of the Sabbath.”)
(4) Louis Pasteur (1822–1895) — người sáng lập Vi Sinh Học
“The more I study nature, the more I stand amazed at the work of the Creator.” – Louis Pasteur, quoted in René Vallery-Radot, The Life of Pasteur, 1902.
“Càng nghiên cứu thiên nhiên, tôi càng kinh ngạc trước công trình của Đấng Sáng Tạo.” – Louis Pasteur, trích lục trong René Vallery-Radot, Cuộc Đời Pasteur, ấn bản năm 1902.
Pasteur là người Công giáo sùng đạo, xem khám phá khoa học là một dạng tôn kính Thiên Chúa.
(5) Albert Einstein (1879–1955) — cha đẻ Thuyết Tương Đối
“Science without religion is lame, religion without science is blind.” – Albert Einstein, Science, Philosophy and Religion, 1941.
“Khoa học không có tôn giáo thì què quặt; tôn giáo không có khoa học thì mù lòa.” – Albert Einstein, Khoa Học, Triết Học và Tôn Giáo, ấn bản năm 1941.
Dù không theo tôn giáo cụ thể, Einstein tin rằng tinh thần tôn giáo – niềm tin vào trật tự và ý nghĩa của vũ trụ – là nền tảng của khoa học.
(6) Max Planck (1858–1947) — người cha đẻ Cơ Học Lượng Tử
“Both religion and science require a belief in God. For believers, God is in the beginning, and for physicists, God is at the end of all our considerations.” – Max Planck, Religion and Natural Science, 1937.
“Cả tôn giáo lẫn khoa học đều đòi hỏi niềm tin vào Thượng Đế. Với người có đạo, Ngài ở khởi đầu; với nhà vật lý, Ngài ở cuối cùng của mọi suy tưởng.” – Max Planck, Religion and Natural Science, ấn bản năm 1937.
Max Planck coi Thượng Đế là nguyên lý cuối cùng thống nhất khoa học và tôn giáo.
“Die Naturwissenschaft braucht der Mensch zum Erkennen, die Religion aber braucht er zum Handeln.” – Max Planck (1858 – 1947)
“Man needs natural science for knowledge, but he needs religion for action.” – Max Planck (1858 – 1947)
“Con người cần khoa học tự nhiên để nhận thức, nhưng con người cần tôn giáo để hành động.” – Max Planck (1858 – 1947)
(7) Francis Bacon (1561–1626) — cha đẻ của phương pháp khoa học thực nghiệm
“A little philosophy inclineth man’s mind to atheism; but depth in philosophy bringeth men’s minds about to religion.” – Francis Bacon, Essays: “Of Atheism”, 1601.
“Triết học nông cạn dễ khiến con người nghiêng về vô thần; nhưng hiểu sâu triết học lại đưa tâm trí con người trở về với tôn giáo.” – Francis Bacon, Tập Luận Văn: “Bàn Về Chủ Nghĩa Vô Thần”, ấn bản 1601.
Bacon cho rằng càng hiểu sâu quy luật tự nhiên, con người càng nhận ra sự hiện diện của Thượng Đế.
(8) Galileo Galilei (1564–1642) — cha đẻ của Khoa Học Quan Sát
“The laws of nature are written by the hand of God in the language of mathematics.” – Galileo Galilei, Letter to the Grand Duchess Christina, 1615.
“Các quy luật của tự nhiên được bàn tay của Thượng Đế viết ra bằng ngôn ngữ toán học.” – Galileo Galilei, Thư Gửi Nữ Công Tước Cao Quý Christina, ấn bản 1615.
Galileo xem khoa học là đọc bản kinh của Thượng Đế viết trong thiên nhiên.
(9) James Clerk Maxwell (1831–1879) — người đặt nền móng Điện Từ Học
“I think men of science as well as other men need to learn from Christ, and I think Christians whose minds are scientific are bound to study science that their view of the glory of God may be as extensive as their being is capable.” – Letter from Maxwell to a friend, 1855.
“Tôi nghĩ các nhà khoa học cũng như bao người khác cần học từ Đức Kitô; và các Kitô hữu có tâm trí khoa học phải nghiên cứu khoa học để tầm nhìn về vinh quang Thiên Chúa của họ được rộng bằng chính năng lực con người.” – Thư từ Maxwell gửi một người bạn, ấn bản năm 1855.
(10) Nicholas Copernicus (1473–1543) — người khai sinh Thuyết Nhật Tâm
“To know the mighty works of God, to comprehend His wisdom and majesty and power; to appreciate, in degree, the wonderful workings of His laws — surely all this must be a pleasing and acceptable mode of worship to the Most High.” – Nicolaus Copernicus, De revolutionibus orbium coelestium, 1543.
“Được biết đến những công trình vĩ đại của Thượng Đế, hiểu sự khôn ngoan, uy nghi và quyền năng của Ngài, nhận ra sự vận hành kỳ diệu của luật pháp Ngài — đó hẳn là một hình thức thờ phượng đẹp lòng Đấng Tối Cao.” Nicolaus Copernicus, Về Sự Chuyển Động Của Các Tinh Cầu, ấn bản năm 1543.
Các nhà tư tưởng Thiên Chúa giáo tin rằng:
“Vũ trụ là sản phẩm của một Thiên Chúa hợp lý — nên có thể được hiểu bằng lý trí.”
Chính niềm tin này khiến họ tìm kiếm quy luật tự nhiên, vì họ tin Thiên Chúa không hành động hỗn loạn, mà theo trật tự nhất định.
Robert Boyle (cha đẻ của hóa học hiện đại) nghĩ rằng
“And when with excellent Microscopes I discern in otherwise invisible Objects – the Inimitable Subtlety of Nature’s curious workmanship; And when, in a word, by the help of Anatomicall Knives, and the light of Chymicall Furnaces, I study the Book of Nature, and consult the Glosses of Aristotle, Epicurus, Paracelsus, Harvey, Helmont, and other learn’d Expositors of that instructive Volumne; I find my self oftentimes reduc’d to exclaim with the Psalmist, ‘How manifold are thy works, O Lord!’.” – The Excellency of Theology, compared with Natural Philosophy,1674.
“Và khi, nhờ những Kính Hiển Vi tuyệt hảo, tôi nhận thấy trong các Vật Thể vốn vô hình đối với mắt thường – sự tinh vi vô song trong tay nghề kỳ diệu của Tự Nhiên; Và khi, nói ngắn gọn, nhờ dao giải phẫu, và ánh sáng từ các Lò Luyện Hóa Học, tôi chuyên tâm khảo cứu Quyển Sách của Tự Nhiên, đồng thời tra cứu những chú giải của Aristotle, Epicurus, Paracelsus, Harvey, Helmont cùng các học giả uyên bác khác – những người chú giải quyển sách dạy dỗ đó; thì tôi thường thấy mình không thể không thốt lên cùng với Thi Thiên rằng: ‘Lạy Chúa, công trình của Ngài thật muôn phần kỳ diệu!’.” – tác phẩm Sự Cao Quý của Thần Học, So Sánh với Triết Học Tự Nhiên, ấn bản năm 1674.
Isaac Newton nghĩ rằng
“He rules all things, not as the soul of the world, but as Lord over all; and on account of His dominion He is wont to be called Lord God παντοκράτωρ, or Universal Ruler; for God is a relative word, and has reference to servants.” — Isaac Newton, General Scholium, Principia Mathematica, 1713 / 1726 Editions.
“Thiên Chúa cai quản muôn vật, không phải như linh hồn của thế giới, mà như Chúa Tể của toàn thể vũ trụ; và bởi quyền tể trị ấy, Ngài được gọi là Đức Chúa Trời Toàn Năng (παντοκράτωρ, Pantokratōr — Đấng Cai Trị Muôn Loài). Vì ‘Thiên Chúa’ là một danh xưng mang tính tương quan, chỉ có ý nghĩa khi được nói đến trong mối liên hệ với các tôi tớ của Ngài.” – Isaac Newton, Chú Giải Tổng Quát, Các Nguyên Lý Toán Học Của Triết Học Tự Nhiên, các ấn bản năm 1713 – 1726.
12. Thông tin là một thực thể phi vật chất nhưng có khả năng điều hành vật chất.
Thông tin là một thực thể phi vật chất, có một nghịch lý như sau.
Làm thế nào mà một thực thể phi vật chất lại có thể tác động đến vật chất?
Điều này dường như là một nghịch lý. Có giả thuyết cho rằng phân tử và nguyên tử là vật chất có ý thức, tức là nó hiểu được các mệnh lệnh của thông tin và nó chấp hành, nó tuân thủ. Bác sĩ Trần Thị Tuấn Nga nghiêng về cái ý này cho rằng là virus nó có trí tuệ, nó hiểu được cho nên nó làm những cái công việc có tính chất phản ứng.
Nguyễn Cao Sơn nêu lên một cái giả thuyết thứ hai rằng giữa thông tin và vật chất tồn tại một cái lực lượng thứ ba vô hình. Lực lượng ấy tạm gọi dễ hiểu là lực lượng thi công. Tức là cái lực lượng ấy hiểu được cái mệnh lệnh của thông tin và cái lực lượng ấy trực tiếp sắp đặt phân tử nguyên tử tuân theo cái mệnh lệnh đó.
Giống như một bản thiết kế xây dựng, bản thiết kế đó là Thông tin, nhưng muốn biến nó thành cái nhà thì phải có người thợ xây cầm từng viên gạch để đặt vào đúng vị trí mà bản thiết kế nó đã yêu cầu. Thế thì cái người thợ xây dựng ấy là cái người gọi là thi công trình. Theo Nguyễn Cao Sơn, trong vũ trụ tồn tại một lực lượng mô hình thứ ba đóng vai trò là người thực hành các mệnh lệnh của Thông tin.
13. Để tạo ra một cỗ máy, Thông tin phải có trước.
14. Thông tin luôn luôn bắt nguồn từ một trí tuệ thông minh.
Hai dạng Thông tin: một là Thông tin do con người sáng tạo ra,.hai là Thông tin của DNA.
Thông tin DNA được gọi là Thông tin tự nhiên, và hiện nay người ta đang tranh luận rằng Thông tin tự nhiên ấy không biết từ đâu ra, chắc rằng nó cũng phải xuất phát từ những nguồn trí tuệ thông minh vĩ đại, bởi vì phải là trí tuệ thông minh vĩ đại mới có thể viết được ra một cái chương trình vĩ đại như thế.
15. Thông tin không bao giờ nảy sinh từ bản thân vật chất.
Và điều này đã được “khẳng định” trong một hội nghị quốc tế là Hội Nghị Quốc Tế Về Nguồn Gốc Sự Sống lần thứ VII năm 1983 (The 7th International Conference on the Origins of Life – ICOL 1983) diễn ra từ ngày 10 tháng 7/1983 đến ngày 15 tháng 7/1983 được tổ chức tại Cung Điện Bầu Cử (The Electoral Palace) tại thành phố Mainz Cộng Hòa Liên Bang Đức, hội nghị ấy đã KHÔNG CHO BIẾT từ các thí nghiệm rằng “Thông tin không thể xuất phát từ vật chất” hoặc “Thông tin xuất phát từ vật chất”, và “vấn đề Nguồn Gốc Sự Sống (The Origin of Life) vẫn còn là vấn đề mở và bỏ ngỏ rất rộng.”
Nguồn nội dung trích dẫn:
COMMENTARY
CONGRESS REPORT ON THE 7TH INTERNATIONAL CONFERENCE ON THE ORIGIN OF LIFE, MAINZ (Federal Republic Germany)
10 – 15 JULY 1983
Tại hội nghị này, các vấn đề nghiên cứu được đưa ra thảo luận theo nội dung trên như sau.
“[…] More than 250 scientists from all parts of the world contributed to the success. The main topics discussed in Mainz were arranged into 6 sessions:
– Cosmology and Cosmochemistry (Interstellar Clouds, Stellar Evolution, Planetary Surfaces and Atmospheres, Comets, Meteorites)
– Geology and Geochemistry (Early Paleontological Record, Ancient Sedimentary Habitats of Life, Evolution of the Environment)
– Simulation of Chemical Evolution in the Laboratory (Small Molecules, Macromolecules, Prebiotic Synthesis, Origin of Chirality)
– Theory on the Origin of Life: The Origin of Biological Information
– Biological Evolution: Energy Conversion
– Space Missions and Exobiology: Life under Extreme Conditions […]”
“[…] Hơn 250 nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới đã đóng góp vào thành công này. Các chủ đề chính được thảo luận tại Mainz được chia thành 6 phiên:
– Vũ trụ học và Hóa học vũ trụ (Mây giữa các vì sao, Tiến hóa sao, Bề mặt và Khí quyển hành tinh, Sao chổi, Thiên thạch)
– Địa chất và Địa hóa học (Hồ sơ Cổ sinh vật học Sơ khai, Môi trường sống Trầm tích Cổ đại của Sự sống, Sự tiến hóa của Môi trường)
– Mô phỏng Tiến hóa Hóa học trong Phòng thí nghiệm (Phân tử nhỏ, Đại phân tử, Tổng hợp Tiền sinh học, Nguồn gốc của Tính quang hợp)
– Lý thuyết về Nguồn gốc Sự sống: Nguồn gốc của Thông tin Sinh học
– Tiến hóa Sinh học: Chuyển đổi Năng lượng
– Các Sứ mệnh Không gian và Ngoại sinh học: Sự sống trong Điều kiện Khắc nghiệt […]”
16. Nhận thức duy lý có giới hạn, luôn luôn tồn tại những sự thật không thể giải thích bởi khoa học thuần túy logic duy lý hoặc vật chất.
Định Lý Bất Toàn (Toán Học) của Kurt Gödel (Kurt Gödel’s Incompleteness Theorems) khẳng định rằng có những sự thật con người sẽ vĩnh viễn không bao giờ giải thích được, nhưng sự thật vẫn đang tồn tại.
17. Vũ trụ bao gồm Vật chất, Vật chất đây theo cái ý là Vật chất có khối lượng, năng lượng, Thông tin, Ý thức. và X, X là nó những thực thể có thể tồn tại trong vũ trụ mà chúng ta chưa biết, hoặc không biết và vĩnh viễn không biết.
Công thức: Vũ trụ = Vật chất + Năng lượng + Thông tin + Ý thức + X
18. Vũ trụ sẽ tan rã nếu không có thông tin điều khiển, Vì thế thông tin là yếu tố làm cho vũ trụ có trật tự và có ý nghĩa.
Nếu ta nói rằng Thông tin là THUỘC TÍNH của Vật chất thì chỗ này sẽ sai, bởi vì nếu Thông tin là THUỘC TÍNH của Vật chất thì có nghĩa là Thông tin sẽ phải có sau, Vật chất phải có trước.
Nhưng mà thực tế thì chúng ta thấy là để mà xây một cái nhà ta phải có Bản Thiết Kế, để chế tạo được một cái máy ta phải có Bản Thiết Kế và tất cả các kỹ sư đều là những nhà chế tạo sáng tạo Thông tin.
19. Các Loài là cố định.
“Thiên nhiên không biến đổi các loài theo cách đó, vì vậy phải có một số lực lượng khác tác động.” – Gregor Mendel (1822 – 1884) – Nguồn trích dẫn: https://bahaiteachings.org/intelligence-behind-intelligent-design/ (Theo Giáo sư Phạm Việt Hưng)
“Wherever complex design exists, there must have been a designer; nature is complex; therefore nature must have had an intelligent designer.” – Thomas Aquinas (1225-1274)
“Bất cứ nơi nào có thiết kế phức tạp, thì chắc chắn phải có một nhà thiết kế; thiên nhiên vốn phức tạp; do đó, thiên nhiên hẳn phải có một nhà thiết kế thông minh.” – Thomas Aquinas (1225-1274)
“Creationism, intelligent design, and other claims of supernatural intervention in the origin of life or of species are not science because they are not testable by the methods of science.” – The United States National Academy of Sciences
“Thuyết sáng tạo, thiết kế thông minh, và những tuyên bố khác về sự can thiệp siêu nhiên vào nguồn gốc sự sống hoặc các loài không phải là khoa học vì chúng không thể kiểm chứng bằng các phương pháp khoa học.” – Viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia Hoa Kỳ
“Come, let us scatter these roses, let us pour out this wine, Let us split the roof of Heaven and draw a new design.” – Hafiz (1321 – 1390) (*)
“Hãy đến, chúng ta hãy rải những bông hồng này, chúng ta hãy rót rượu này, Chúng ta hãy xé toạc mái vòm Thiên đường và vẽ nên một thiết kế mới.” – Hafiz (1321 – 1390) (*)
(*) Hafiz (1321 – 1390), là Khwajeh Shams od-Din Muhammad Hafez (1321 – 1390), nhà thơ người Ba Tư.
Source: https://bahaiteachings.org/intelligence-behind-intelligent-design/
20. Sự sống đã được thiết kế, Bản Thiết Kế là mã DNA. Mã DNA là phép màu kỳ diệu nhất của đấng sáng tạo. Thuyết Tiến Hóa hoàn toàn phi khoa học vì nó dựa trên một tiên đề sai lầm về Triết Học rằng sự sống ra đời một cách ngẫu nhiên từ vật chất vô sinh. Ý kiến cho rằng sự sống ra đời ngẫu nhiên là một tình trạng thiếu hiểu biết.
“Le hasard n’est que la mesure de notre ignorance.” – “Sự ngẫu nhiên chỉ là thước đo sự rốt nát của chúng ta.” – Jules Henri Poincaré (1854 – 1912)
21. Nhiệm vụ của sinh học hiện đại là giải mã DNA.
Mặc dù đã có những thành công bước đầu và sẽ có những thành công tiếp theo, việc giải mã sự sống sẽ vĩnh viễn không bao giờ tìm thấy bí mật cuối cùng của sự sống; luôn luôn tồn tại những bí mật của sự sống mà khoa học chưa giải thích được hoặc thậm chí không thể giải thích được; mọi kết luận vội vàng đều có nguy cơ sai một ly đi một dặm.
22. Mọi biến đổi của sinh vật chỉ diễn ra trong một phạm vi giới hạn, tức là biến đổi trong loài.
Điều này cần phải khẳng định để thấy rõ là thuyết tiến hóa sai.
23. Điều kiện cần và đủ để hai sinh vật cùng loại là chúng có thể giao phối và sinh sản. giao phối và sinh sản.
24. Đột biến gen ngẫu nhiên không dẫn tới tiến hóa mà chỉ dẫn tới thoái hóa.
“Random genetic mutations do not lead to evolution, but only to degeneration.” – Genetic Entropy, John C. Sanford (1950 – now 2025)
“Đột biến gen ngẫu nhiên không dẫn đến tiến hóa, mà chỉ dẫn đến thoái hóa.” – Genetic Entropy, John C. Sanford (1950 – nay là 2025)
“Dù đột biến có nhiều đến đâu, chúng cũng không bao giờ tạo ra bất kỳ tiến hóa nào.” Pierre Paul Grassé (1895 – 1985)
ThíchThích
Tiên Đề Triết Học Khoa Học (Tiếp theo)
(Trình bày: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến sĩ Toán Học, kênh Nhận Thức Mới, thứ Sáu 05 tháng 12/2025.)
25. Thuyết tiến hóa không phải là một sự thật, mà là sự tưởng tượng không thể kiểm chứng được.
“Evolution is not a fact. Evolution doesn’t even qualify as a theory or as a hypothesis. It is a metaphysical research program, and it is not really testable science.” – Karl Poper (1902 – 1994), Darwinism as a Metaphysical Research Programme – The Philosophy of Karl Popper (Volume 1), edited by Paul Arthur Schilpp, Open Court Publishing Co.(issued 1974)
“Sự tiến hóa không phải là một sự thật. Sự tiến hóa thậm chí không đủ tiêu chuẩn là một lý thuyết hay một giả thuyết. Nó là một chương trình nghiên cứu siêu hình học, và nó không thực sự là khoa học có thể kiểm chứng được.” – Karl Poper (1902 – 1994), Học Thuyết Darwin Như Một Chương Trình Nghiên Cứu Siêu Hình – sách Triết Học Karl Popper (Tập 1), được biên tập bởi Paul Arthur Schilpp, Open Court Publishing Co. (xuất bản năm 1974)
Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là Karl Popper đã rút lại hoặc sửa đổi quan điểm này chỉ bốn năm sau đó. Trong một bài báo năm 1978 cho tạp chí New Scientist, ông tuyên bố rằng ông đã thay đổi quan điểm của mình và thừa nhận rằng chọn lọc tự nhiên là có thể kiểm chứng được.
“I have changed my mind about the testability and logical status of the theory of natural selection; and I am glad to have an opportunity to make a recantation. (…) The theory of natural selection may be so formulated that it is far from tautological. In this case it is not only testable, but it turns out to be not strictly universally true. There seem to be exceptions, as with so many biological theories; and the occurrence of exceptions is not surprising, in view of the probabilistic character of the theory (which, by the way, was stressed by Darwin himself).”
“Tôi đã thay đổi quan điểm của mình về khả năng kiểm chứng và tình trạng logic của thuyết chọn lọc tự nhiên; và tôi rất vui khi có cơ hội để đưa ra lời cải chính. (…) Lý thuyết chọn lọc tự nhiên có thể được phát biểu theo cách không hề mang tính trùng lặp logic. Trong trường hợp này, nó không chỉ có thể kiểm chứng được, mà còn được chứng minh là không đúng tuyệt đối trong mọi trường hợp. Có vẻ như có những trường hợp ngoại lệ, giống như với rất nhiều lý thuyết sinh học khác; và sự diễn ra của các trường hợp ngoại lệ là điều không đáng ngạc nhiên, khi xem xét tính xác suất (ngẫu nhiên) của các biến thể (mà, theo cách chọn lọc tự nhiên tác động lên, được nhấn mạnh bởi chính Darwin).”
Nguồn:
Tên bài báo: “Natural Selection and the Emergence of Mind” (“Chọn Lọc Tự Nhiên và Sự Xuất Hiện của Tâm Trí”)
Tác giả: Karl Popper (1902 – 1994)
Tạp chí: Dialectica (một tạp chí quốc tế về Triết Học thuần túy và ứng dụng)
Nhà xuất bản: Wiley-Blackwell (thông qua tổ chức xuất bản bởi Association Dialectica)
Năm xuất bản: 1978
Tập (Volume): 32
Số (Issue): 3-4
Trang: Đoạn văn cụ thể được tham chiếu nằm ở khoảng trang 344 đến 346.
26. Nguyên lý tổ hợp Gene không tương ứng một một với đặc tính với tính trạng, quan hệ giữa Gene và tính trạng là quan hệ phức tạp theo kiểu tổ hợp, một Gene có thể tác động đến nhiều đặc tính; ngược lại, một tính trạng được quyết định bởi một tổ hợp Gene và hiện nay vấn đề này gần như là một bí mật hoàn toàn đối với sinh học hiện đại.
Bài toán xác định mối quan hệ tổ hợp Gene với các đặc tính, với các tính trạng là một thách thức vô cùng lớn đối với sinh học hiện đại nhưng đó là nhiệm vụ bắt buộc của khoa học về sự sống; chừng nào chưa biết rõ các tổ hợp đó, chừng ấy mọi suy đoán, tưởng tượng về sự tiến hóa đều vô nghĩa, thí dụ, ý kiến nói rằng tinh tinh và con người giống nhau về Gene đến 98% từ đó suy ra là người xuất thân từ tinh tinh, đó là một ý kiến sai lầm bởi vì một khi đã áp dụng cái nguyên lý tổ hợp Gene thì thấy rõ ngay là sai lầm, tức là bộ Gene có thể giống nhau về số lượng các Gene hoặc là thậm chí về trình tự, nhưng nếu tổ hợp Gene mà khác nhau thì nó dẫn đến kết quả tính trạng vẫn khác nhau.
27. Không thể dùng khoa học vật chất để giải thích các hiện tượng phi vật chất siêu hình.
28. Phải xây dựng một Hệ Tiên Đề cho mới để có thể giải thích được các hiện tượng siêu hình và Hệ Tên Đề này gồm có năm Tiên Đề như sau.
Tiền Đề 28.1. Tồn tại một trung tâm thông tin trong vũ trụ như một hệ điều hành của vũ trụ và sự sống.
Nicolas Tesla nói rằng bộ não của chúng ta chỉ là một cỗ máy tiếp nhận thôi, trong vũ trụ có một trung tâm cốt lõi mà từ đó chúng ta nhận được tri thức, sức mạnh, niềm cảm hứng, nhưng ta chưa thâm nhập được vào cái bí mật cốt lõi ấy. Ý kiến này có lý bởi vì nếu chúng ta tin vào điều NicolasTesla nói, chúng ta có thể giải thích được rất nhiều hiện tượng mà bằng khoa học vật chất chúng ta không giải thích được.
Tiên Đề 28.2. Bộ não của con người là cỗ máy tiếp nhận thông tin và tri thức.
Tiên Đề 28.3. Tiên Đề 28.4. và Tiên Đề 28.5. một dịp khác sẽ nhắc lại.
Muốn xây dựng, muốn giải thích những hiện tượng mà khoa học hiện nay không giải thích được, chúng ta cần phải xây dựng một Hệ Tiên Đề mới về nhận thức luận.
29. Thế giới có nhiều tầng, tầng hữu hình, tầng siêu hình; nhưng tất cả các tầng ấy đều thống nhất trong một vũ trụ nhất thể; cái vũ trụ nhất thể ấy người phương Đông gọi nó là Đạo.
道 Đạo: 1. nghĩa đen: con đường, 2. nghĩa phái sinh (derivative meaning): chân lý, đạo lý, giáo lý tôn giáo, giáo nghĩa tôn giáo, giáo pháp / phương pháp, phép tắc (法則 pháp tắc), quy tắc, quy luật.
30. Mô hình để thể hiện khái niệm / phạm trù Đạo gọi là Thái Cực Đồ bao gồm Âm (Yin) và Dương (Yang) hay gọi là Lưỡng Nghi.
Mô Hình Vũ Trụ: Elliptic – Hyperbolic Model (E-H Model)
Elliptic Model Equation (Phương Trình Mô Hình Ellipse): [(x^2 / a^2) + (y^2 / b^2) = 1] (Mô Hình Lồi)
Hyperbolic Model Equation (Phương Trình Mô Hình Hyperbol):
[(x^2 / a^2) – (y^2 / b^2) = (x^2 / b^2) – (y^2 / a^2) = (y^2 / a^2) – (x^2 / b^2) = 1] (Mô Hình Lõm)
Phương Trình Mô Hình Ellipse Phương Trình Mô Hình Hyperbol
Nguồn: sưu tầm (Internet – Google)
Mô Hình Vũ Trụ: Elliptic – Hyperbolic Model (E-H Model)
Nguồn: Giáo sư Phạm Việt Hưng, Tiến Sĩ Toán Học
Vũ Trụ Vật Chất: Elliptic Model (Mô Hình Lồi) – Vũ Trụ Phi Vật Chất: Hyperbolic Model (Mô Hình Lõm)
Vũ Trụ Vật Chất: Vũ Trụ “Thực” – Vũ Trụ Phi Vật Chất: Vũ Trụ “Ảo”
Thế giới mà chúng ta đang sống đây chúng ta gọi là thực, thế giới sau sự sống chúng ta coi là ảo; nhưng bao giờ mà ta chuyển sang thế giới ảo ấy thì ta sẽ nói thế giới này là thật. Đạo Phật nói là thế giới thật này của chúng ta là thế giới ảo, vậy khái niệm thật và ảo thực ra chỉ mang tính tương đối thôi, đứng trên hệ quy chiếu khác nhau thì sẽ nhận thức khác nhau, đó cũng là một loại mô hình của Đạo nhưng là bổ sung một chút thông tin mang tính chất toán học để chứng minh rằng thực và ảo thực chất là một, do đó chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi chúng ta thấy có những hiện tượng mà chúng ta gọi là phi vật lý, phi vật chất hình thành đó là trường hợp chữa bệnh mà không dùng thuốc, chữa bệnh bằng phép lạ.
Trong vũ trụ này tồn tại vô số các không gian ngang dọc đan xen nhau và khoa học hiện nay không thể phát hiện ra, chúng ta chỉ nhìn thấy, chỉ khám phá được cái không gian ba chiều này thôi, còn những không gian khác cao hơn và nó phức tạp hơn thì con người vẫn chưa khám phá ra được, và ở những không gian đấy thì phân tử, nguyên tử hay bất kỳ một vật chất nào nó cũng đều có ý thức của nó, và những người có năng lực tinh thần cao có thể giao tiếp với những ý thức của các loại phân tử, nguyên tử hay các vật chất khác nhau.
Hai giả thuyết, giả thuyết thứ nhất rằng phân tử, nguyên tử vật chất là có ý thức, giả thuyết thứ hai là tồn tại một lực lượng vô hình sắp xếp vật chất theo các lệnh thông tin, hiện nay các nhà khoa học đã khám phá ra rằng vật chất là có ý thức, kể cả những vật chất rất nhỏ đều có ý thức của nó, nhưng mà tất nhiên là nó ở một không gian khác giống như không gian Hyperbol.
Về giả thuyết thứ hai, trong vũ trụ này có tồn tại các lực lượng vô hình hay tạm gọi là các sinh mệnh, họ cao hơn con người, sinh mệnh ở tầng cao hơn, và khi mà người ta cần phải làm gì đó hoặc là một việc gì đó, họ sẽ sắp xếp để con người làm những việc mà họ cho rằng con người cần làm, thành ra cả hai cái giả thuyết này đều đúng cả.
Có một nhóm các nhà khoa học rất là uy tín và tuyên ngôn một nền Khoa học Hậu Duy vật có trình độ hiểu biết rất là cao, người ta đã tụ họp với nhau trong một hội nghị quốc tế và người ta đưa ra một cái mà người ta gọi là tuyên ngôn của một nền khoa học hậu vật chất, là tuyên ngôn của một nền khoa học mà vượt trên qua thế giới vật chất, thế giới hậu vật lý.
Thứ khoa học dựa trên công cụ chân thật và tinh tế nhất của mọi công trình nghiên cứu khoa học mà chúng ta sở hữu chính là bản thân Ý Thức, Ý Thức không chỉ tồn tại độc lập với cơ thể mà còn là thứ cơ bản nhất của mọi thứ, đó là lý do sau khi con người rời khỏi thế giới vào thế giới ấy thì lúc ấy còn thật hơn thế giới hiện nay.
Thông tin nó chẳng còn phụ thuộc vào cái vật chất đâu cả, việc theo đuổi thực tại cốt lõi của vũ trụ là bất khả thi nếu không dùng đến Ý Thức, tại vì hiện nay các nhà khoa học đang lờ đi vai trò của ý thức.
Người ta không nghiên cứu sâu về Ý Thức, không nghiên cứu về bản chất của Ý Thức không hề là một thứ sản phẩm phụ và không quan trọng của các quá trình vật chất, Ý Thức không chỉ rất thật, nó còn thật hơn toàn bộ sự tồn tại vật chất còn lại và rất có thể là thứ cơ bản nhất của mọi thứ.
Bản chất là thật ra là ý thức chính là nguồn gốc của sinh mệnh, sinh mệnh con người gắn với Ý Thức chứ không phải gắn với thân xác, bởi vì khi mà chúng ta thoát khỏi thế giới này thì cái Ý Thức đó chính là sinh mệnh của chúng ta, và đấy mới là sự thật,đấy mới là cái thật, đấy mới là cái thực tế của sinh mệnh con người.
“The brain is not the creator of consciousness, but the reducing valve or filter that limits the vast, universal consciousness to the small amount that we can process for the purposes of living on this planet.” – Proof of Heaven: A Neurosurgeon’s Journey into the Afterlife, Eben Alexander, Simon & Schuster LLC (2012).
“Bản thân Não bộ không tạo ra Ý Thức, Não bộ chỉ giống như một cái van giảm áp hay máy lọc và bộ hạn chế có tác dụng điều chỉnh Ý Thức phi vật chất mà chúng ta có được trong những thế giới phi vật chất rộng lớn thành một loại Ý Thức có dung lượng hạn chế trong hiện thực cuộc sống nhỏ bé này.” – sách Chứng Cứ Thiên Đường: Hành Trình Của Một Bác Sĩ Phẫu Thuật Thần Kinh Về Thế Giới Bên Kia, tác giả: Eben Alexander, nhà xuất bản Simon & Schuster LLC ở Hoa Kỳ (năm 2012), dịch giả: Nguyễn Thị Thu Liên, Nhà Xuất Bản Thế Giới (Phát hành bởi First News Trí Việt) năm 2013.
Con người tiếp nhận rất nhiều thông tin hay là năng lực của bộ năng lực Ý Thức đó rất là lớn, tuy nhiên trong thế giới này thì con người bị cái dung lượng của bộ Não hay là cái năng lực của bộ Não bị hạn chế lại để cho thông tin chỉ phù hợp với cả cái thế giới này thôi, thế giới vật lý này, và điều này cũng rất là dễ hiểu, và hiện nay các nhà khoa học nhìn thấy gì là con người mới sử dụng chỉ tầm 5 đến 10% năng lực của bộ Não thôi, và những người mà được mở năng lực Não bộ ra nhiều hơn ấy thì năng lực của họ rất là lớn, về mặt tư duy, mặt ý thức, điều đó rất là rất là hợp lý.
“The brain filters consciousness and only interprets a very small proportion of the information that Universal Consciousness creates, so our brain is limited, it’s filtered, it’s bottling up information so that the human being only perceives that amount.” – The Truth in the Light: An Investigation of Over 300 Near-Death Experiences, Peter Brooke Cadogan Fenwick (1935 –2024) & Elizabeth Fenwick, Headline Books (1995).
“Não lọc nhận thức và thông dịch một phần rất nhỏ các thông tin mà Ý Thức nội tại của vũ trụ tạo ra, tức là bộ não chúng ta bị hạn chế, bị lọc, tức là bóp thông tin nhỏ lại để con người nó chỉ nhận thức đến thế thôi.” – sách Sự thật trong Ánh sáng: Nghiên cứu về Hơn 300 Trải Nghiệm Cận Tử, đồng tác giả: chồng là ông Peter Brooke Cadogan Fenwick (1935 –2024) và vợ bà Elizabeth Fenwick, nhà xuất bản Headline Books ở Anh Quốc (năm 1995).
Lão Tử phái Đạo Gia (phái Triết Học Trung Hoa cổ đại thời Xuân Thu Chiến Quốc) gọi quy luật của vũ trụ là Đạo, Đạo Phật gọi là Pháp – “Vạn pháp quy chung” (“Mọi quy luật đều thống nhất”), Pháp hay khái niệm Đạo là khái niệm quan trọng nhất của con người, nếu mà con người mà không tuân theo Pháp, không tuân theo Đạo mà thì chắc chắn là họ sẽ không tin vào không gian khác, không tin vào những câu chuyện mang tính nhân quả để ước thúc đạo đức của mình, và qua đó khi đạo đức xuống dốc thì xã hội sẽ không biết đi đâu hoặc về đâu và con người lúc đấy sẽ rất là nguy hiểm, cái khái niệm Đạo hay là khái niệm tự nhiên hay là khái niệm Pháp là khái niệm rất là quan trọng mà chúng ta cần phải nói đến, và những người mà muốn nghiên cứu tìm hiểu về những vấn đề Bản Thể Luận hay là khoa học Logic mà khoa học hiện nay không giải thích được thì chúng ta sẽ phải hiểu cái việc này, tức là phải tìm hiểu và phải tuân theo Pháp của vũ trụ hay là Đạo của vũ trụ thì mới có thể giải thích được những vấn đề mà khoa học hiện đại bó tay.
道生一,一生二,二生三,三生萬物 –老子
ĐẠO SINH NHẤT, NHẤT SINH NHỊ, NHỊ SINH TAM, TAM SINH VẠN VẬT – Lão Tử.
ĐẠO SINH MỘT, MỘT SINH HAI, HAI SINH BA, BA SINH VẠN VẬT – Lão Tử.
人法地,地法天,天法道,道法自然。《老子道德經•第二十五章》
“Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên.” [Lão Tử Đạo Đức Kinh – Đệ Nhị Thập Ngũ Thiên]
“Người theo phép của Đất, Đất theo phép của Trời, Trời theo phép của Đạo, Đạo theo phép của Tự Nhiên.” [Đạo Đức Kinh – Chương 25]
ThíchThích