Tự Truyện MỐI TÌNH ĐẦU (2)

Những chuyện trong Phần II này, trong một thời gian rất dài tôi chỉ chia sẻ với một số người rất thân thiết mà thôi. Nhưng có người bảo chuyện độc đáo như thế mà không kể cho mọi người nghe thì phí lắm. Tôi đắn đo mãi. Nhưng hôm nay tôi quyết định kể, vì năm 2021 là kỉ niệm tròn 60 năm mối tình này …

Nếu bạn chưa xem Phần I thì nên xem, rồi hãy xem tiếp Phần II. Xem Phần I tại địa chỉ sau đây: https://viethungpham.com/2021/12/26/tu-truyen-moi-tinh-dau-1/

Trong Phần I, các bạn đã biết bản nhạc Mối Tình Đầu dường như là dấu chấm hết cho cuộc tình của tôi và Quyên. Nhưng hóa ra chưa. Mối tình ấy đã được nối lại theo cách đặc biệt mà bạn không thể đoán được… Bây giờ xin xem Phần II sau đây …..

Bản nhạc Mối Tình Đầu tưởng như là dấu chấm hết cho cuộc tình của tôi và Quyên. Còn gì để tiếp tục nữa một khi Quyên không muốn nối lại tình yêu, mà chỉ nối lại tình bạn? Còn tôi, một người không thích tình cảm nửa vời, đã yêu thì yêu hết mình, không yêu nữa thì thôi. Ai đúng? Ai sai?

Có người bênh tôi, đồng ý với tôi rằng đã yêu thì phải yêu hết mình, không nên yêu nửa vời, tình bạn nửa vời. Không có gì phải nghi ngờ rằng trong thâm tâm tôi yêu Quyên hết mình. Có lẽ Quyên cũng vậy. Sau này có một người bạn của tôi, anh N. cũng muốn được làm bạn với Quyên. Nhưng Quyên đã nói với anh ấy, rằng Quyên chỉ yêu tôi thôi. Anh ấy đã kể lại cho tôi nghe điều này. Tôi rất sung sướng, rất muốn tin điều anh ấy nói là sự thật, nhưng tôi không có cách nào để kiểm chứng, nên tôi chỉ kể lại ở đây để củng cố thêm cho niềm tin của tôi rằng trong thâm tâm Quyên cũng yêu tôi như tôi yêu nàng, chẳng thể nào khác được. Có thể Quyên, với tâm lý của một phụ nữ nhân hậu, còn trân trọng Mối Tình Đầu hơn tôi.

Nhưng đa số đều chê tôi là dốt, là không hiểu phụ nữ, không hiểu đời. Những người này cho rằng một khi Quyên đã chủ động trở lại thăm tôi ở 33 Thái Phiên thì có nghĩa là Quyên vẫn còn tình cảm với tôi nhiều lắm. Việc tôi đòi hỏi Quyên phải tuyên bố rõ ràng đồng ý nối lại tình yêu là một đòi hỏi thiếu tế nhị, quá đáng, vô tình đã thử thách lòng tự trọng của Quyên. Lẽ ra tôi phải chủ động đến thăm Quyên mới đúng. Nhưng ngược lại, Quyên đã chủ động bỏ qua chuyện cũ để đến thăm tôi, thì bản thân việc đến thăm đó đã có ý nghĩa lớn lắm rồi, ý nghĩa hơn một lời tuyên bố. Đòi hỏi của tôi chứng tỏ cho đến lúc ấy tôi vẫn là một thằng trẻ con, bị tư duy toán học làm hỏng bộ não, không hiểu gì về tâm lý con người. Thậm chí tôi còn bị nhiều người kết tội rằng chính tôi đã làm hỏng cuộc đến thăm của Quyên. Tôi bị xem như một kẻ thô lỗ tệ bạc, bởi với tình yêu thương và văn hóa tối thiểu, lẽ ra tôi đã phải tiễn Quyên về đến tận nhà. Lẽ ra tôi phải lợi dụng chuyến đến thăm đó của Quyên để trở lại thăm Quyên thường xuyên, và không chỉ thăm Quyên, mà còn thăm Mẹ và các em của Quyên nữa. Tại sao tôi không làm như thế? Rõ ràng tôi là kẻ bạc tình bạc nghĩa, nếu không thì là ngu dại.

Tôi không nhớ lời Mẹ Quyên đã nói hay sao? “Mẹ sẽ giữ nó cho con”, Mẹ đã nói thế mà. Giá như khi tôi viết những dòng này Mẹ vẫn còn sống, để tôi chạy đến tạ tội với Mẹ. Nhưng muộn quá rồi!

Phải chăng Mẹ đã nói gì đó với Quyên để Quyên đến thăm tôi? Rất có thể Mẹ đã bảo ban Quyên điều gì đó. Nhưng tôi đã không nghĩ đến Mẹ, đến các em, không nghĩ đến hình ảnh Quyên một lần nữa buổi tối phải ra về cô đơn… Tôi nói tôi yêu Quyên, nhưng hành động của tôi trái với lời nói, tôi là thằng ích kỷ…

Ôi, tuổi trẻ thật tội lỗi, tuổi già thật đáng thương!

Tuổi trẻ tội lỗi vì nó không ý thức được rằng nó tội lỗi. Tuổi giá thật đáng thương vì nó biết lỗi nhưng không có cách nào để chuộc lỗi, hoặc khi đã sẵn sàng chuộc lỗi thì đã quá muộn! Đó chính là tình trạng của tôi.

Tình trạng ấy kéo dài từ năm 1969 đến nay. Không phải ngay tức khắc tôi hiểu ra điều này, mà đó là cả một quá trình thay đổi nhận thức dần dần từng tí một, mãi cho đến khi đầu đã bạc mới vỡ ra lẽ thật!

Nhưng tại sao lại bắt đầu từ 1969?

Vì đó là năm xảy ra một biến cố lớn. Sau biến cố ấy, tôi và Quyên có nhiều dịp gặp lại nhau thông qua những kênh giao tiếp kỳ lạ. Tôi đắn đo mãi không biết nên đặt tên cho những cuộc tái ngộ ấy là gì. Cuối cùng tôi thấy không có một từ ngữ nào, một thuật ngữ nào thật sự làm tôi thỏa mãn. Vậy xin độc giả đặt tên giúp tôi, sau khi nghe kể. Còn tôi, tôi chỉ gọi đó là “những cuộc tái ngộ kỳ lạ”.

Nhưng dù kỳ lạ thế nào đi chăng nữa, câu chuyện của tôi không phải là câu chuyện về những điều kỳ lạ, mà chủ yếu vẫn là chuyện tình yêu – tình yêu giữa tôi và Quyên. Chỉ có điều từ sau biến cố 1969, tình yêu được biểu lộ theo một cách thức kỳ lạ, siêu hình, và có thể rất khó tin đối với những người không có trải nghiệm tương tự, hoặc những người chỉ nhận thức thế giới qua năm giác quan, bỏ quên giác quan thứ sáu hoặc con mắt thứ ba.

Bản thân tôi không có khả năng gì đặc biệt cả. Nếu câu chuyện của tôi chứa đựng những sự kiện kỳ lạ thì đơn giản vì tôi may mắn được trải nghiệm trực tiếp, và Quyên chắc chắn đóng một vai trò chủ yếu trong những sự kiện đó. 

 

Biến cố 1969

 

Bắt đầu từ năm 1966 và liên tiếp trong các năm sau, kéo dài mãi cho tới 1973, Mỹ thả bom Miền Bắc Việt Nam. Tôi đã tốt nghiệp đại học, được phân công về Bộ vật tư (nay là Bộ Công thương), lúc đầu làm việc tại Vụ chính sách và chế độ quản lý vật tư, rồi về Trường Kỹ thuật Vật tư. Cơ quan tôi đầu tiên sơ tán lên Hà Bắc, thời gian đầu ở Hiệp Hòa, sau này chuyển sang Cầu Lồ, cách Bắc Giang khoảng 15km. Đó là giai đoạn khó khăn nhất của tất cả mọi người dân miền Bắc và của cá nhân tôi. Không ai còn có thì giờ để mơ mộng ủy mị nữa. Cuộc sống lúc ấy là làm sao có cái ăn vào bụng và giữ cho cái mạng được an toàn.

Hà Nội vắng dần, rồi vắng teo. Thỉnh thoảng gặp bạn trên phố, đi xe đạp ngược chiều nhau, chỉ giơ tay chào nhau rồi chỉ vào cái đầu, ý nói “chúc mừng cái đầu vẫn còn”.

Lúc đầu tôi làm cán bộ nghiên cứu ở văn phòng, rồi chuyển sang giảng dạy, chẳng hề dính dáng gì đến chiến đấu, vậy mà cũng được thử thách nhiều lần về lòng can đảm. Có gì đâu, trên đường đạp xe từ Hà Bắc về Hà Nội, hoặc từ Hà Nội lên Hà Bắc, thỉnh thoảng tôi được chứng kiến cảnh máy bay gầm rú thả bom. Đạn phòng không dưới đất bắn lên tua tủa, có lúc máy bay lượn rất thấp như sạt qua đầu mình rồi thả bom ở ngay gần, có lần sức ép không khí làm tay lái xe đạp tôi loạng choạng. Thế mà tôi không thấy sợ, còn thích ngắm cảnh chiến đấu.

Không phải một lần, mà vài lần như thế. Nhưng đến cuộc rải thảm của máy bay B52 thả bom xuống phố Khâm Thiên Hà Nội đêm Noel 1972 thì kẻ gan lì nhất cũng phải sợ hãi. Hôm ấy toàn thể gia đình bố mẹ và anh em chúng tôi đang ngụ tại một căn nhà ở đầu phố Nam Đồng (bây giờ hình như là Nguyễn Lương Bằng), tức là nằm ở cuối vệt thả bom Khâm Thiên của B52. Đó là dịp tôi được thực sự chứng kiến cảnh tượng khủng khiếp của chiến tranh. Những lúc bom rơi gần nhà, hay đâu đó quanh nhà, lửa sáng rực mầu đỏ, những ánh chớp lóe lên chói chang, tiếng nổ muốn xé màng nhĩ, nhà cửa rung động ngả nghiêng chòng chành như con thuyền trên biển lúc giông bão. Đó là lúc mọi người ý thức được cái chết rình rập ở ngoài cửa, khái niệm thời gian trở thành vô nghĩa, vì mọi người chỉ biết đến hiện tại – LÚC NÀY – tính mạng được tính từng giây, từng giây…

Trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng ấy, tôi đã thành lập gia đình và đã sinh con. Vợ con cũng đi theo lên vùng sơ tán. Cuộc sống lúc ấy quá vất vả, căng thẳng, đòi hỏi mọi người phải tỉnh thức. Ai cũng thầm nghĩ đến những tình huống xấu nhất, vì bom Mỹ có thể rơi xuống bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu.

Giai đoạn ấy nói chung tôi ở nơi sơ tán, thỉnh thoảng mới về Hà Nội, không phải về chơi, mà về để lo tiếp tế lương thực – mua lương thực theo tem phiếu để mang lên vùng sơ tán. Chưa bao giờ tôi làm công việc nội trợ giỏi như hồi ấy. Tôi thuộc lòng các loại tem phiếu, tem nào mua gì, được mua bao nhiêu cân, bao nhiêu lạng, bao nhiêu lít … Tôi tranh thủ hoàn thành nhiệm vụ, rồi chất lương thực lên “con ngựa thồ” – chiếc xe đạp Phương Hoàng được mua phân phối theo chế độ cán bộ nhà nước – rồi phi “con ngựa thồ” lên sơ tán. Với tuổi thanh niên, khoảng cách 75 km là chuyện nhỏ. Tôi thường đạp một mạch không hề dừng chân lại nghỉ. 

Câu chuyện dài dòng về chiến tranh và sơ tán ấy có liên hệ gì với câu chuyện Mối Tình Đầu của tôi và Quyên?

Có đấy! Nó gián tiếp cho thấy trong giai đoạn ấy hầu như thông tin liên lạc của tôi với bạn bè và xã hội hoàn toàn bị gián đoạn, cắt đứt. Tôi không hề biết gì về tình hình của Quyên, và có lẽ ngược lại cũng thế. Mỗi người đã đi theo ngả số phận riêng của mình. Phải nói rõ hơn một chút để các bạn trẻ hình dung được tình trạng thông tin liên lạc lạc hậu hồi ấy. Điện thoại để bàn là một tiện nghi rất sang trọng, chỉ có những gia đình cán bộ cao cấp mới có. Thư từ bưu điện thì chậm như rùa. Nhất là trong thời chiến thì chẳng mấy ai còn hứng thú viết thư, và bưu điện cũng có lý do để chậm thư. Mãi cho đến những năm 1990 mà tôi vẫn còn phải đợi 2 tháng mới nhận được thư bưu điện của con gái gửi từ Bulgaria về nước. Thư gửi đi cũng vậy. Cuộc bùng nổ thông tin liên lạc ở Việt Nam chỉ thực sự xảy ra trong 20 năm đầu tiên của thế kỷ 21, đặc biệt trong 10 năm gần đây. Các bạn trẻ ngày nay có quá nhiều phương tiện liên lạc, đến nỗi các bạn không thể nào tưởng tượng nổi tình trạng thiếu vắng thông tin của thế hệ chúng tôi giai đoạn 1966 – 1973. Nếu câu chuyện tôi đang kể làm các bạn trẻ tò mò muốn tìm hiểu lịch sử đất nước trong giai đoạn ấy thì coi như tôi đã đạt được mong muốn – tôi muốn phác họa lại khung cảnh thời chiến hồi ấy để nói rằng trong giai đoạn ấy, chuyện Mối Tình Đầu của tôi bị chìm vào dĩ vãng, không ai để tâm đến nó, và chính bản thân tôi cũng phải quên nó đi để tập trung mọi nỗ lực vào việc duy trì đời sống hàng ngày. Quá mệt và quá bận để làm tốt việc duy trì đó. Đó là chưa kể đến công việc cơ quan. Luôn luôn họp hành, đấu tranh nội bộ, kiểm điểm, phê phán những khuynh hướng này, khuynh hướng nọ. Một cuộc sống căng thẳng như thế không có chỗ cho mơ mộng lãng mạn. Chuyện tôi và Quyên trở thành “chuyện ngày xưa”, mặc dù đó là chuyện xảy trước đó chỉ vài năm.

Ôi, đúng là chỉ cách nhau vài năm, nhưng những ngày tôi và Quyên ngồi với nhau trên tầng thượng Nhà 87 Nguyễn Du hay trong “buồng đá” ở 52 Quán Sứ đã trở thành “truyện cổ tích” trên thiên đường, hoặc “truyện thần tiên” ở thế giới khác!

Không-thời-gian thay đổi làm cho tâm hồn con người thay đổi, đó là lẽ tự nhiên!

…………………….

Nhưng đùng một cái, tôi nghe tin dữ: Quyên gặp tai nạn khi bơi lội, và đã ra đi vĩnh viễn! Hôm nay kể lại điều này mà tôi vẫn cảm thấy một dòng điện vừa chạy qua sống lưng. Một tin sét đánh!

Quyên đã ra đi về cõi vĩnh hằng ngày mồng 3 Tháng 9 năm 1969, tức ngày 20 Tháng 7 năm Kỷ Dậu!

Thời gian đã quá lâu nên hôm nay tôi không thể nhớ nổi ai đã báo tin cho tôi, nhưng chỉ nhớ là lúc nghe tin dữ thì đã quá muộn so với lúc sự kiện thương tâm xảy ra. Kể từ ngày Quyên mất đến lúc tôi biết tin, thời gian cách nhau ít nhất hơn nửa năm trời, nếu không phải là một năm.

Rất nhiều lần tôi tự nhắc bảo mình phải đến gia đình Quyên rồi nhờ đưa đi thăm mộ, nhưng trong tình hình chiến tranh và sơ tán như đã kể ở trên, đó là giai đoạn cuộc sống rất căng thẳng, không ổn định, nên bao nhiêu dự định đều không thực hiện được. Cho đến một ngày … những sự kiện lạ lùng xảy ra, vượt quá mọi khả năng hiểu biết của tôi và của mọi người.

 

Đi tìm mộ

 

Hồi ấy, khoảng 1970-1971, ở Hà Nội rộ lên một “trò chơi” được gọi là “phụ đồng chén” – một cách gọi hồn về để nói chuyện thông qua chuyển động của một cái chén trên một bảng chữ cái. Người tham gia “trò chơi” này chạm một ngón tay vào một cái chén úp trên một bảng chữ cái, lầm rầm cầu nguyện mời một linh hồn nào đó về nói chuyện. Một lúc sau, cái chén bắt đầu tự chuyển động, và chuyển động ngày càng nhanh. Nó chạy qua các chữ cái giống như ta viết, các chữ cái nối với nhau thành các từ, các từ nối với nhau thành câu. Đó là những câu nói của linh hồn về nói chuyện với chúng ta.

Gia đình bố mẹ và anh em tôi được biết “trò chơi” này từ một bác ruột tên là Kê Xuân. Bác là anh họ con dì con già của bố tôi – thân mẫu của bác Kê Xuân là chị ruột của bà nội tôi, họ Cung (cùng dòng họ Cung Đình Vận). Thân phụ của bác Kê Xuân là người Hoa, vì thế bác Kê Xuân là người lai Hoa – Việt. Bác rất giỏi về khoa chiêm tinh và hiểu biết sâu rộng về các hiện tượng tâm linh.

Mặc dù tôi rất quý mến và kính trọng bác, nhưng lúc mới nghe nói về “trò chơi phụ đồng chén”, mà thực chất là một cách gọi hồn, tôi hoàn toàn không tin, thậm chí tôi còn nói những lời diễu cợt vô lễ. Cái đầu được nhồi nhét quá nhiều về khoa học vật chất và logic như toán học và vật lý đã làm cho thế giới quan của tôi tự khép lại trong một khuôn khổ chật hẹp, cứng nhắc, không có khe hở cho những thông tin phi logic và phi vật lý lọt vào.

Nhưng khi chứng kiến, nhất là khi tôi tham gia trực tiếp vào “trò chơi” này thì tôi hoảng sợ. Quả thật là cái chén có một “siêu lực” nào đó đã tác động vào nó và làm cho nó chuyển động. Chữ “siêu lực” ở đây ám chỉ một lực bí ẩn, không phải do người chơi “trò chơi” tác động vào nó, mà do một lực lượng vô hình nào đó tác động vào cái chén. Có thể gọi “siêu lực” ấy là “thần lực” hay “ma lực” cũng được. Từ điển hiện nay chưa có từ ngữ nào để mô tả hiện tượng vật-chất – tâm-linh này, mặc dù đó là một hiện tượng có thật. Khái niệm “hiện tượng vật-chất – tâm-linh” ở đây ám chỉ một hiện tượng chuyển động có thật, có thể xác định được tốc độ chuyển động của cái chén bằng quan sát vật lý, nhưng không biết nguồn gốc thực sự của lực gây ra chuyển động đó. Có những lúc cái chén chuyển động rất nhanh – nhanh đến mức không thể tưởng tượng nổi. Tôi thực sự kinh ngạc. Thế giới quan khoa học vật chất và duy lý trong tôi bị lung lay đến tận gốc, nếu không muốn nói là bị sụp đổ.

Những ai đã biết “trò chơi” này và tin đó là sự thật thì sẽ dễ dàng tin vào câu chuyện của tôi. Những ai chưa hề biết “trò chơi” này mà nẩy sinh lòng nghi ngờ, thì tôi chỉ đưa ra một lời khuyên: Một, nếu bạn chưa từng có trải nghiệm về “trò chơi” này thì đúng là bạn rất khó tin hoặc không thể tin, vậy bạn hãy thử trải nghiệm nó xem sao; Hai, đôi khi ở đời ta phải học bằng cách ta tin vào những người đáng tin cậy. Chẳng hạn như tôi, ngoài trải nghiệm cá nhân, tôi đã học hỏi được rất nhiều sự thật không có trong sách vở từ bố tôi.

Bố tôi là Cụ Phạm Đình Biều, một trong 40 kỹ sư đầu tiên của Đông Dương thuộc Pháp[1]. Trong kỳ thi lấy bằng kỹ sư đầu tiên của Đông Dương, bố tôi đạt điểm chuyên môn cao nhất. Tuy nhiên, Cụ Trần Đăng Khoa (sau này từng làm Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Việt Nam) đạt điểm công tác cao hơn bố tôi, do đó tổng số điểm của Cụ Trần Đăng Khoa cao nhất. Nói cách khác, Cụ Trần Đăng Khoa đỗ đầu, bố tôi đỗ thứ nhì.

Trong những năm 1930, Cụ Trần Đăng Khoa và bố tôi là 2 trong nhóm 4 kỹ sư Việt Nam làm việc dưới quyền một Tổng Công trình sư người Pháp (gốc Do Thái) trong công trình xây dựng những đường hầm (tunnels) xuyên núi ở khu vực Nam Trung Bộ Việt Nam. Những công trình này là một phần nằm trong một dự án lớn của Việt Nam thời đó – Dự án Đường Xe Lửa Bắc Nam Việt Nam. Ngày nay các bạn đi xe lửa từ Bắc vào Nam, khi đi qua những tunnels xuyên núi ở khu vực Nam Trung Bộ, xin các bạn hãy tưởng nhớ đến những người đã khai phá con đường này. Vào những năm 1930, đây là một công trình rất lớn, một công trình vĩ đại.

Bố tôi kể rằng hồi ấy sau những ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi, buổi tối đến chẳng có gì để làm, không có gì để giải trí, nhóm kỹ sư Việt Nam thường tụ tập với nhau trên Đèo Rù Rì (hình như ở đoạn Nha Trang) để chơi “trò chơi phụ đồng bút”.

Một cái bút nho được treo thẳng đứng, lông bút nho đã được nhúng sẵn mực nho. Bút được treo ở độ cao sao cho lông bút chạm vào một tờ giấy trắng trên bàn. Người chơi cũng chạm nhẹ một ngón tay vào bút rồi lầm rầm cầu nguyện gọi linh hồn về nói chuyện. Một lúc sau bút nho sẽ tự chuyển động và viết ra giấy những chữ nho. Chữ viết ấy do linh hồn về nói chuyện viết ra, chứ không phải ai viết. Một lần bố tôi chứng kiến bút viết ra một câu chữ Hán: “Bá cổ vị ngã danh”.

“Ngã danh” có nghĩa là “tên tôi là”. Vậy là linh hồn ấy tự giới thiệu “Tên tôi là Bá Cổ Vị”. Nhóm kỹ sư ấy không hề biết “Bá Cổ Vị” là ai, nhưng đoán linh hồn này chắc là một người Hoa nào đó ở gần đây đã mất. Mấy hôm sau mấy cụ kỹ sư này gặp ai cũng hỏi “có biết ai là Bá Cổ Vị không?”. Không ai biết, nhưng cuối cùng có một người nhận ra đó không phải là một người Hoa, mà là một người Pháp có tên là Bacovie! Ông này đã chết ở vùng này không lâu trước đó. Ô, thì ra các linh hồn có thể vượt qua ranh giới của ngôn ngữ! Một linh hồn người Pháp có thể nói chuyện qua tiếng Hán!

Đối với nhiều người, chuyện này có vẻ hoang đường khó tin quá. Không! Không có gì hoang đường cả, nếu bạn đã biết những khả năng kỳ lạ của nhà ngoại cảm Hoàng Thị Thiêm!

Thật vậy, gần đây ở Việt Nam xuất hiện nhà ngoại cảm Hoàng Thị Thiêm làm thế giới phải kinh ngạc. Trong rất nhiều khả năng kỳ lạ mà chị có thể biểu diễn trước các ống kính camera của người ngoại quốc, chẳng hạn như bịt mắt mà đi xe máy… chị có khả năng viết thư bằng tiếng Thụy Điển, một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với chị. Ai muốn tìm hiểu sự thật này, hãy liên lạc với Trung tâm Tiềm năng Con người. Ở đó có đầy đủ các tài liệu về Hoàng Thị Thiêm và nhiều nhà ngoại cảm khác. Đầu năm ngoái tôi được mời dự hội nghị tổng kết của Trung tâm, tôi đã được nghe chị Hoàng Thị Thiêm đọc báo cáo, tôi thấy hiện tượng chị Thiêm viết một lá thư bằng một thứ ngôn ngữ mà chị không hề biết có thể giải thích một cách thỏa đáng cho sự kiện một người Pháp không biết chữ Hán có thể viết được chữ Hán. Tôi có thể giải thích hiện tượng này thông qua những khái niệm về thông tin, nhưng tôi không thể trình bày điều đó ở đây, vì sẽ lạc đề. Vậy xin quay lại câu chuyện về bố tôi.

Chuyện “phụ đồng bút” do bố tôi kể lại là chuyện bố tôi được chứng kiến tại chỗ. Tôi thấy chuyện đó hoàn toàn tương tự như những hiện tượng “phụ đồng chén” mà tôi chứng kiến.

Người có tư duy khoa học thật sự thực ra không phải là người quen đóng khung đáp số và thuộc lòng các định luật khoa học như con vẹt, mà là người biết tôn trọng sự thật khách quan! Hiện tượng cái chén chuyển động bởi một “siêu lực” bí ẩn là một sự thật khách quan. Điều đáng kinh ngạc là ở chỗ cái chén không chỉ chuyển động, mà chuyển động một cách “có ý thức” – nó chuyển tải những thông tin từ thế giới bên kia về thế giới của chúng ta!

Từ đó, việc các linh hồn về nói chuyện trong các buổi phụ đồng chén tại gia đình tôi càng ngày càng rõ ràng hơn, vì có những linh hồn đưa ra tiên đoán bất ngờ phù hợp với thực tế.

Sau một giai đoạn, khoảng 2-3 tháng, sự cộng hưởng âm dương mạnh dần lên, rồi mạnh đến nỗi linh hồn nhập vào một người trong gia đình tôi, cứ thế thao thao bất tuyệt nói chuyện mà không cần cái chén nữa. Những cuộc phụ đồng lúc ấy trở thành những cuộc gọi hồn 100%. Người được hồn nhập nói ra rất nhiều điều khác thường làm cả nhà kinh ngạc. Có những sự việc mang tính tiên tri, nói trước sự việc sẽ xảy ra, rồi sau đó được kiểm chứng.

Rồi đến một ngày, cái gì đến sẽ đến: “Que sera, sera”!

Một hôm Quyên về!

Đó là khoảng đầu năm 1971, gần đến Tết Tân Hợi.

Hôm ấy không phụ đồng chén, mà là một cuộc gọi hồn. Quyên nhập vào một người trong nhà tôi rồi nói chuyện. 

Ai chưa từng tham dự những buổi gọi hồn thì có thể xem cuốn phim GHOST của Mỹ, ra mắt năm 1990, để hình dung sự thể diễn ra như thế nào. Sự kiện Quyên về nói chuyện với tôi giống y như những sự kiện trong phim GHOST. Chắc chắn đạo diễn phim này phải là người nghiên cứu các hiện tượng tâm linh và ngoại cảm rất kỹ mới có thể dựng cuốn phim hay đến như thế, và rất đúng với sự thật như thế.

Tất nhiên cuốn phim này ra đời muộn hơn rất nhiều so với những sự kiện tâm linh diễn ra tại nhà 33 Thái Phiên của gia đình tôi.

Hôm ấy Quyên về tự giới thiệu “Em là Quyên đây”, rồi Quyên chào hỏi mọi người trong nhà tôi, và … báo cho tôi biết địa chỉ mộ của Quyên ở Văn Điển!

Xin nhấn mạnh rằng trước đó tôi chưa hề biết mộ của Quyên ở đâu, chưa hề có bất cứ một thông tin nào về nơi Quyên an nghỉ. Cuộc sống vẫn đang trong thời chiến, thông tin liên lạc vẫn đang trong giai đọan bị cắt đứt, việc đi lại rất hạn chế.  

Nghe giọng điệu, tôi cảm nhận ngay đúng là Quyên, chứ không phải ai khác. 

Tôi xúc động mạnh!

Kinh ngạc!

Cảm động vô cùng!

Không thể tưởng tượng được điều này có thể xảy ra! Thật bất ngờ!

Thực ra đó không phải là lần đầu tiên Quyên về. Đó là lần thứ hai. Lần đầu tiên Quyên về báo cho một chú em ruột của tôi là Phạm Việt Cường.

Cường hồi đó vẫn còn là sinh viên đại học chưa ra trường. Trường của chú ấy sơ tán tại một ngôi làng ở gần Nhổn, một thị trấn cách trung tâm Hà Nội khoảng 25-30km trên đường đi Sơn Tây. Một buổi tối tại nơi sơ tán, Cường cùng hai bạn cùng trường chơi “trò chơi phụ đồng chén”. Một trong hai bạn là Vũ Chí, học khoa mỹ thuật. Cuộc phụ đồng chén đang diễn ra thì bất ngờ một linh hồn lạ về thông báo: “Chị là chị Quyên đây. Chị gặp nạn ở gần đây. Cường về báo cho anh Hưng biết nhé”. ……..

Mấy hôm sau Cường về Hà Nội kể ngay cho tôi biết. Tôi còn bán tín bán nghi. Nhưng ngay tối hôm đó tôi không còn phải nghi ngờ gì nữa vì Quyên đã về ngay tại Nhà 33 Thái Phiên để chuyện trò trực tiếp với tôi. Và dường như Quyên quyết định chinh phục tôi và tất cả mọi người phải tin chắc rằng linh hồn đó là Quyên chứ không phải ai khác bằng cách thông báo cho tôi biết địa chỉ mộ của Quyên ở Văn Điển!

Đến nay, thời gian trôi qua đã quá lâu, những bản tốc ký ghi chép hồi đó đã bị thất lạc. Nhưng rất may sự kiện về mộ Quyên quá phi thường nên không thể nào quên được. Tất cả các nhân chứng về sự kiện này đến hôm nay vẫn còn đang hiện diện đầy đủ.

Quyên cho biết mộ của Quyên nằm ở vị trí như sau:

“Đi vào cửa, rẽ phải, đếm 8 hàng mộ, rồi rẽ trái, mộ thứ 3”.

Ngay hôm sau tôi tổ chức một nhóm đi thăm mộ, gồm 5 người: tôi, bà vợ tôi, con gái tôi (lúc ấy còn rất bé), chú Cường em tôi, và chú Vọng, một bạn thân kém tôi 8 tuổi. Tất cả những người này sẵn sàng xác nhận những điều tôi đang kể và sắp kể.

Chúng tôi khởi hành từ nhà lúc 5 giờ sáng. Đi càng sớm càng tốt, vì vẫn đang trong thời chiến, tránh máy bay hoạt động lúc trời đã sáng hẳn.

Niềm tin của tôi và của cả nhóm đối với linh hồn của Quyên lớn đến mức chúng tôi cứ đúng theo chỉ dẫn của linh hồn mà đi tìm mộ, không cần hỏi bất cứ ai, thậm chí không đến gia đình của Quyên để hỏi lại. Như tôi đã nói, thời chiến càng bớt đi lại càng tốt. Nhưng chủ yếu tôi không hỏi vì sự kiện Quyên về thông báo rất sinh động và hiện thực, cứ như những người đang sống nói chuyện với nhau vậy. Tóm lại tôi tin 100% vào thông báo của Quyên, một niềm tin hồn nhiên như con cái tin cha mẹ vậy. Nghe cách nói chuyện của linh hồn tôi cảm nhận đúng là Quyên chứ không thể là ai khác.

Tới Nghĩa trang Văn Điển, chúng tôi vào cửa, rẽ phải, đếm 8 hàng, rồi rẽ trái, đến mộ thứ 3 …

Không phải mộ của Quyên!

Thất vọng!

Buồn bã!

Chúng tôi làm đi làm lại vài lần việc đếm các hàng mộ, vì sợ có thể đếm sai. Cuối cùng thất vọng, vì mộ thứ ba không phải mộ Quyên. Chúng tôi cũng tìm các mộ lân cận, hy vọng Quyên thông báo có nhầm lẫn một chút chăng, kết quả cũng không hơn gì.

Chúng tôi buồn bã ra về …

Không ai nói với ai, vì ai cũng buồn … Nhưng vừa ra khỏi cổng thì bỗng nhiên chú Vọng lên tiếng:

  • Này anh Hưng, em thấy còn một cửa ra vào nữa ở phía kia kìa. Vọng vừa nói vừa chỉ tay về phía cửa ra vào thứ hai của Nghĩa trang Văn Điển, ở xa xa.   

Tôi mừng quá, reo lên “Ừ nhỉ”. Thế là cả nhóm kéo sang cửa thứ hai. Nhìn lên tấm biển lớn treo ngang cửa ra vào, thấy ghi rõ: KHU VỰC DÀNH CHO QUÂN ĐỘI!

Đúng rồi, Quyên là văn công không quân, vậy phải nằm ở khu vực quân đội!

Chúng tôi lại thực hiện đúng chỉ dẫn của linh hồn: Vào cửa, rẽ phải đếm 8 hàng, rẽ trái, mộ thứ ba … Đúng rồi, mộ Quyên đây rồi! Tất cả nhóm reo lên.

Vậy là thông báo của Quyên hoàn toàn chính xác, chỉ thiếu thông tin mộ nằm bên khu vực quân đội mà thôi! Có lẽ Quyên “để dành thông tin đó” để thử thách niềm tin của chúng tôi, thử thách quyết tâm của chúng tôi chăng?

Ôi, tôi sung sướng và mãn nguyện quá!

Chúng tôi bắt đầu thực hiện các thủ tục và nghi lễ cầu nguyện cho linh hồn. Phải nói rõ cho độc giả biết điều này: Hôm ấy là một ngày gần Tết, tiết trời vào Tết khá lạnh, mưa phùn hôm ấy rất dày, ướt đẫm áo khoác ngoài. Lúc thắp hương phải che khuất gió lẫn mưa thì hương mới bắt lửa. Thậm chí hương hơi ẩm, đốt khá lâu mới cháy. Tôi còn lo mưa sẽ làm hương bị tắt nửa chừng, vì mưa dày lắm. Nhưng sự thể diễn ra thế nào các bạn có biết không?

Khi hương đã bắt lửa, tôi vẩy cho hết ngọn lửa, rồi cắm cả bó hương lên mộ, kèm theo những bông cúc đại đóa mầu vàng tươi tắn … rồi tất cả đứng quanh mộ bắt đầu chắp tay cầu nguyện. Đúng lúc đó, bó hương bỗng cháy bùng lên thành ngọn lửa lớn, bất chấp mưa rơi rất dày, mặc dù là mưa phùn tiết xuân. Cứ nhìn những chiếc áo ướt đẫm của chúng tôi thì biết mưa dày đến chừng nào. Vậy mà bó hương vẫn bùng cháy rực rỡ. Mọi người nói với nhau: Chị Quyên vui đấy! Chị Quyên vui lắm đấy!!!

Chúng tôi đợi cho hương cháy hết mới ra về. Một phần vì muốn nán lại với Quyên, một phần tôi sợ mưa làm hương tắt, phải túc trực để ứng cứu nếu cần thiết, phần nữa vì đó là lúc chúng tôi chuyện trò tâm sự với nhau rất nhiều chuyện về Quyên.

Khi hương chỉ còn lại một phần ba, chúng tôi chắp tay cầu nguyện một lần nữa trước khi ra về. Mỗi người cầu nguyện theo cách riêng của mình, không ai đọc to, tất cả chỉ đọc nhỏ cho mình và Quyên nghe thấy mà thôi. Riêng tôi, tôi thì thầm với Quyên rằng:

“Quyên ơi, tha lỗi cho anh nhé. Tha lỗi nhé. Anh muốn làm tất cả những gì có thể làm để nói cho Quyên biết rằng anh vẫn yêu Quyên như ngày xưa, và vô cùng ân hận vì đã hai lần để Quyên ra về một mình lúc trời tối. Hãy tha thứ nhé….”

Lạ lùng thay, dường như Quyên nghe thấy lời cầu nguyện đó, bằng chứng là bó hương lại bùng lên cháy một lần nữa thành ngọn lửa lớn, bất chấp mưa rơi…

Một lúc sau chúng tôi ra về, cảm giác bâng khuâng, thương nhớ … Tôi không đủ từ ngữ để diễn tả tâm trạng của tôi lúc đó. Đó là một trạng thái lạ lùng chưa từng có –trạng thái tồn tại giữa hai thế giới âm và dương, nơi thông tin giữa hai thế giới ấy giao hòa với nhau. Tôi không hiểu tại sao tôi lại tin vào thông báo của linh hồn Quyên đến mức như thế. Cái đầu logic toán học và thói đam mê vật lý để đâu rồi… May mắn biết bao khi thông tin ấy được chứng minh là hoàn toàn chính xác!

Đối với tôi, không còn sự thuyết phục nào về sự hiện hữu của thế giới tâm linh bằng sự kiện đi tìm mộ Quyên. Từ đó đến nay, tôi còn được chứng kiến trực tiếp nhiều hiện tượng tâm linh khác, nhưng việc đi tìm mộ Quyên luôn luôn là một kỷ niệm sâu sắc nhất, nhớ đời nhất, không sao có thể quên được. Hơn thế nữa, sự kiện này không chỉ là một sự kiện tâm linh. Nó còn là bằng chứng RẤT MẠNH cho thấy Quyên vẫn quan tâm đến tôi – Quyên vẫn yêu tôi. Tôi sung sướng vì điều đó, nhưng cũng đau lòng vì điều đó, vì tôi khám phá ra sự thật đó quá muộn, sau khi tôi đã mắc lỗi với Quyên mà không có cơ hội chuộc lỗi.  

Dẫu biết rằng thế giới linh hồn không phụ thuộc vào không-thời-gian như người dương thế, vậy mà chúng tôi vẫn cứ lưu luyến bịn rịn không muốn ra về. Dường như tất cả mọi người trong nhóm đều trào lên trong lòng nỗi thương cảm vì Quyên phải nằm lại ở một nơi hiu quạnh, xa cách, mưa gió. Trên đường về mọi người ít chuyện trò hơn, vì ai cũng đang chìm trong những suy tưởng của riêng mình về số phận con người, về Quyên, về mối liên kết tương giao giữa hai thế giới …

Mặc dù mọi người trong nhóm đều tin vào sự hiện hữu của thế giới tâm linh, nhưng không ai bảo ai, tất cả nhóm hôm ấy được học một bài học để đời về sự tồn tại của thế giới ấy mà không cần logic, không cần chứng minh …

Riêng tôi, lòng tôi nặng trĩu. Tôi khóc trong lòng. Mười năm trước, khi tôi ôm Quyên vào lòng, thủ thỉ với nàng rằng “Quyên ơi, tôi yêu mình lắm”, tôi đâu có thể ngờ được rằng mười năm sau tôi lại đến thăm nàng theo cách lạ lùng như thế này. Ôi, số phận! Sao Quyên lại ra đi như thế? Sao Quyên lại vội vã như thế? ………..

Có người an ủi tôi rằng Quyên có một sứ mệnh đặc biệt nên Chúa gọi về sớm. Vâng, Quyên là một trinh nữ khi được Chúa gọi về. Có lẽ Quyên đến cuộc đời này để cho tôi và người đời biết rằng Cái Đẹp hoàn hảo là có thật!

Trời mưa phùn dày lắm, tôi khóc trong lòng, có thể lúc đó mắt tôi cũng đã nhòa lệ mà tôi không biết, vì nước mắt lẫn với mưa, tôi cho phép lòng tôi thả sức nói lên nỗi nghẹn ngào của nó …

 

Cầu Lồ và Cau Lộ

 

Khoảng 1971-1972, cơ quan của tôi chuyển đến Cầu Lồ – một địa danh ở gần Kép, thuộc tỉnh Bắc Giang, cách Bắc giang khoảng 15 km. Có nghĩa là mỗi lần lên sơ tán, tôi phải đạp xe đạp tới Bắc Giang, rồi đạp tiếp tới Cầu Lồ, tổng cộng khoảng 75km. Thường cuối tuần thì tôi đạp xe về Hà Nội, sáng thứ hai lại đạp lên nơi sơ tán. Mặc dù đường về và đường đi là như nhau nhưng đạp về bao giờ cũng thấy gần và đạp đi thì thấy xa. Hồi ấy có câu ca “Thứ Bảy máu chảy về tim”, tim ở đây là quê hương yêu dấu. Thứ Bảy ta được đạp xe về quê hương yêu dấu, lòng bao giờ cũng rộn ràng mừng vui. Quê hương của tôi là Hà Nội, vì thế đạp xe từ nơi sơ tán về Hà Nội bao giờ cũng nhanh, lòng vui phơi phới. Cứ về đến Từ Sơn, rồi đến Đức Giang là coi như sắp về tới nhà rồi. Đoạn còn lại chẳng đáng kể gì. Vậy mà mỗi lần đạp đi, từ nhà đến Đức Giang, rồi đến Từ Sơn, sao mà xa thế.

Giữa chuyến đạp về và chuyến đạp đi là ngày Chủ Nhật, ngày thiêng liêng vô cùng! Đó là ngày tụ họp đại gia đình. Hồi ấy làm gì có Tivi, không có máy nghe nhạc, không có bất cứ một phương tiện nghe nhìn giải trí nào cả, ngoài chiếc máy radio cũ kỹ, chủ yếu để nghe Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam. Thỉnh thoảng có “nghe trộm” Đài BBC, hoặc Đài phát thanh Saigon, nhưng âm thanh không rõ, thường bị phá sóng, âm thanh lạo xạo rất khó nghe, nên hầu như chẳng ai thiết nghe. Vì thế, thú vui chủ yếu là tụ họp gia đình, chuyện trò ấm cúng. Lúc ấy bố tôi tuổi 65-66, mẹ tôi tuổi 51-52, nên bố mẹ còn khỏe, mặc dù đã về hưu. Các cụ rất thích ngồi với con cái trò chuyện. Bố mẹ tôi đều tin vào thế giới tâm linh nên đều rất thích tham dự các buổi phụ đồng mời các bậc tổ tiên về giáo huấn chuyện trò, bảo ban con cháu. Đặc biệt là những buổi được nghe Cô Tổ về dạy bảo.

Hồi bé tôi thường thấy bố tôi chắp tay cầu nguyện khá lâu trước Ban thờ tổ tiên. Tôi cũng từng được bố tôi cho đi theo về Làng Lủ ở ngoại thành Hà Nội để thăm mộ các cụ bên họ Cung – họ ngoại của bố tôi. Ông nội tôi, Cụ Phạm Đình Sung, cũng được chôn ở đó cùng với họ ngoại, vì Ông được họ Cung rất quý trọng. Họ Cung là một dòng họ giàu có, trâm anh thế phiệt, rất quý trọng các nhà nho. Cụ 4 đời của tôi và Ông nội tôi đều là các nhà nho nổi tiếng ở phố Hàng Bạc, vì thế Ông nội tôi được họ Cung quý mến lắm. Trong khi đó, Bà nội tôi là Cung Thị Thúy, lại được chôn cất ngay trong vườn nhà của bố tôi – một biệt thự lớn ở Ô Chợ Dừa (hiện nằm trên phố Đông Các, ngay bên cạnh Quận đội Đống Đa). Vì thế, tuy bố tôi là người thành công mỹ mãn trên con đường tây học – như đã kể ở trên rằng bố tôi đỗ thứ nhì trong cuộc thi đầu tiên lấy bằng kỹ sư ở Đông Dương thuộc Pháp năm 1939-1940, rồi từng làm Giám đốc Nha Công chính Bắc Việt … nhưng bố tôi vẫn mang trong người truyền thống Nho học sâu đậm, trong đó Đức tin vào Ông Trời, vào thần linh, vào tổ tiên, vào các giá trị tâm linh … vẫn đóng vai trò nền tảng đạo đức của gia đình và dòng họ. Chính vì thế, mặc dù bố tôi không phải là người Công giáo, nhưng bố tôi cho tôi và mấy anh em cùng thế hệ theo học trường công giáo, vì trường công giáo nổi tiếng là giáo dục tốt, cả chuyên môn lẫn đạo đức. Cụ thể, tôi được theo học trường Sainte Marie (nay là Bệnh viện Việt Nam – Cuba, sau đó là trường Puginier, nay là Trường Lý Thường Kiệt Hà Nội). Tôi trở thành người Công giáo từ đó, tin vào Chúa và Đức Mẹ từ đó, mặc dù mãi sau này mới được Chúa mặc khải để hiểu Lẽ Thật là gì.

Về cơ bản, Đức tin Công giáo và Đức tin Nho giáo cùng tin vào Thượng Đế: Nho giáo tin vào Ông Trời, Công giáo tin vào Chúa. Vậy Ông Trời chính là Chúa, Chúa chính là Ông Trời.

Sách Nho Giáo của Lệ thần Trần Trọng Kim, trang 42-43, viết:

“Phàm ở trong trời đất, cái gì có hình, hoặc là vận động được … là người ta cho có thần cả; và những thần ấy đều can thiệp đến sự sinh hoạt của người. Đó là cái lòng tín ngưỡng của dân tộc nào lúc đầu cũng thế. Đã có người lại có quỷ, có thần, thì tất là có một cái thế lực nào nữa rất to hơn, chủ trương cả toàn thể trong vũ trụ. Cứ lý tự nhiên mà suy ra: nhà có cha, nước có vua, thiên hạ có đế, thì vũ trụ phải có một đấng nào làm chủ … người ta mới nghĩ ra Ông Trời … vậy nên mới gọi Ông Trời là Đế, hay là Thượng Đế. Thượng Đế ở trên trời cai quản cả bách thần và vạn vật ở trong vũ trụ, và lại là một đấng chí nhân hay thương dân … Kinh Thi nói rằng: “Đức Thượng đế rất lớn, soi xuống dưới rất rõ ràng, xem xét bốn phương để tìm sự khốn khổ của dân mà cứu giúp”. Vậy nên người bao giờ cũng phải kính và sợ Trời. Kính Trời và sợ Trời là cơ bản đạo đức…” 

Xem thế thì biết Đức tin cơ bản của Nho giáo có khác gì Đức tin cơ bản của Công giáo đâu? Chỉ khác nhau ở từ ngữ diễn đạt mà thôi. Nói vậy để độc giả hiểu tại sao bố tôi lại cho tôi học trường Công giáo, và để hiểu tại sao bố tôi, một công trình sư nổi tiếng thời Pháp, lại có Đức tin mạnh mẽ vào Ông Trời và thần linh như vậy. Đức tin tâm linh của ông được củng cố sâu sắc trong những năm cuối đời nhờ bộ sách tuyệt vời của Camille Flammarion, một nhà thiên văn học nổi tiếng của Pháp, một bạn thân của nhà bác học nguyên tử Pierre Curie. Trong bộ sách đó có hai cuốn trứ danh là:

  • “Après la Mort” (Sau Cái Chết)
  • “La mort et son mystère” (Cái Chết và Bí Ẩn của Nó)

Bố tôi đọc đến đâu, thấy có gì hay là lại đem ra nói chuyện với cả nhà. Chẳng hạn chi tiết sau đây: Pierre Curie và Victor Hugo từng tham gia những buổi phụ đồng với nhau. Họ rất tâm đầu ý hợp, mặc dù chênh lệch về tuổi tác như cha và con, và một người là đại văn hào, người kia là nhà vật lý. Có nghĩa là những sự kiện tâm linh có thể kéo những người rất khác nhau về tuổi tác và nghề nghiệp vào cùng ngồi với nhau, vì cùng chia sẻ một Đức tin. Đó là lý do cả bố lẫn mẹ tôi đều thích ngồi cùng con cái trong những buổi phụ đồng. Bố mẹ tôi đều rất kính cẩn trân trọng mỗi khi Cô Tổ về. Bố mẹ tôi cũng rất thích thú khi thấy Quyên về nói chuyện với tôi.

Hôm ấy, vào một chiều Chủ Nhật, Quyên lại về trong một buổi phụ đồng tại Nhà 111 Nam Đồng[2].

Việc Quyên về nói chuyện với tôi trước mặt cả nhà bây giờ không còn là chuyện lạ nữa, mà được coi như một hiện tượng bình thường. Nhưng hôm ấy Quyên làm cho mọi người giật mình ngơ ngác, và chính tôi cũng giật mình vì câu hỏi sau đây:

“Ngày mai anh Hưng đi Cau Lộ phải không?”.

Việc đó chỉ có tôi biết, không ai biết, vì tôi không hề nói với ai trong nhà về lịch trình công tác của mình. Vậy làm sao Quyên lại biết?

Nhất là địa danh Cau Lộ, không ai biết ở đâu, và chưa ai từng bao giờ nghe nói đến địa danh đó. Vì thế mọi người giật mình ngơ ngác. Mọi con mắt đổ dồn vào tôi, muốn nghe câu trả lời của tôi. Đây, tôi trả lời Quyên:

“Đúng, ngày mai anh đi lên nơi sơ tán”. Rồi tôi quay sang nói với bố mẹ và cả nhà:

“Cau Lộ là nơi sơ tán của con. Nhưng không phải là Cau Lộ, mà là Cầu Lồ. Quyên nói bị chệch âm một chút”.

Mọi người rất phục Quyên, vì chỉ chệch âm một chút thôi, còn về cơ bản là đúng. Điều quan trọng là Quyên biết chương trình công tác của tôi, trong khi tôi không hề nói với ai, vì không ai quan tâm đến việc riêng đó của tôi, và quả thật cũng không cần quan tâm. Thế mà Quyên quan tâm, và Quyên biết. Lúc ấy vợ con tôi không còn theo tôi lên vùng sơ tán nữa, mà sơ tán loanh quanh ở Hà Nội. Vì thế tôi cũng chẳng hề nói gì với vợ con về nơi sơ tán mới. 

Hôm sau tôi dềnh dàng mãi đến buổi trưa mới lên đường. Như đã nói, tôi đạp một mạch từ nhà đến nơi sơ tán, không hề dừng lại ở đâu. Bây giờ nghĩ lại tôi mơ có được cái sức khỏe của tuổi thanh niên như thế.

Buổi tối đến, khoảng 7 giờ, tôi thắp đèn dầu lên để đọc sách. Lúc ấy tôi quên khuấy chuyện phụ đồng hôm trước, hoàn toàn không nghĩ gì đến cái tên Cau Lộ mà Quyên đã nói, thậm chí cũng không nghĩ đến chuyện Quyên về, vì tôi đang chú tâm vào cuốn sách. Đó là một cuốn sách về vận trù học, hay còn gọi là toán – kinh tế, bằng tiếng Nga. Tôi phải đọc để chuẩn bị giảng môn này. Hồi đó không hề có sách chuyên môn tiếng Việt, phải tham khảo sách nước ngoài, và chủ yếu là sách tiếng Nga. Tôi đang nghiên cứu các sơ đồ giải bài toán kinh tế nhằm tìm ra một kế hoạch đạt hiệu quả tối ưu, hoặc là thời gian ngắn nhất, hoặc tiêu tốn nguyên vật liệu ít nhất … Nhưng bỗng nghe thấy tiếng động đi lại. Ngước lên tôi thấy cụ chủ nhà đang đi qua chỗ tôi ngồi, tay cầm quạt phe phẩy. Trời nóng, cụ đang tìm chỗ thoáng mát để ngồi. Tôi lên tiếng chào cụ, cụ cũng đáp lại vui vẻ. Tôi bắt chuyện với cụ, và tìm chuyện làm quà. Không hiểu sao tôi bật ra một câu hỏi rất hay, mà trước đó tôi không hề chuẩn bị:

  • Cụ ơi, cháu đi từ Hà Nội lên đây nhiều lần, cháu để ý quan sát, chẳng thấy có cái cầu nào ở quanh đây, vậy tại sao nơi đây lại gọi là Cầu Lồ?

Thưa độc giả, toàn cơ quan tôi gọi đây là Cầu Lồ. Khi phổ biến cho cán bộ công nhân viên, thủ trưởng luôn nhắc đến địa chỉ nơi sơ tán là Cầu Lồ. Tên gọi Cầu Lồ đã đi vào tiềm thức của mọi cán bộ công nhân viên cơ quan. Lúc tôi hỏi cụ chủ nhà, tôi hoàn toàn không nghĩ gì đến cái tên Cau Lộ mà Quyên nói. Thậm chí tôi không nghĩ gì đến buổi phụ đồng chiều hôm trước ở 111 Nam Đồng. Lúc ấy tôi hoàn toàn chỉ nghĩ đến việc nói một câu chuyện gì đó với cụ chủ nhà để có chuyện làm quà, tạo không khí thân mật theo chủ trương “dân vận” đã được phổ biến, thế thôi.

Tôi gọi cụ chủ nhà bằng “cụ” xưng cháu, vì tôi mới 26-27 tuổi, còn cụ đã khoảng ngoài 60. Cụ chủ nhà chậm rãi trả lời:

  • Làm gì có cái cầu nào ở quanh đây đâu. Vùng này ngày xưa bị Nhật nó chiếm đóng, và nó gọi nơi này là “Cau Lộ”, theo tiếng của nó, chứ không phải là “Cầu Lồ”. Nhưng sau này dân mình cứ đọc trẹo đi là “Cầu Lồ”, vì “Cau Lộ” nghe nặng quá, “Cầu Lồ” nghe nhẹ hơn. Tiếng Nhật nặng hơn. Tiếng mình nhẹ hơn…

Cứ thế cụ chủ nhà rủ rỉ nói chuyện ngày xưa… Còn tôi, một dòng điện chạy dọc sống lưng, tôi lạnh toát cả người. Tôi giật mình và kinh ngạc nhận ra rằng hóa ra Quyên đúng! Tất cả cơ quan tôi đọc sai! Tôi cũng sai! Phải là “Cau Lộ” mới đúng. 

Có lẽ đây là một trong những thí dụ để thấy linh hồn biết sự thật rõ hơn chúng ta, và đó là một lý do để cả Ki-tô giáo lẫn Phật giáo đều coi cuộc sống trần gian chỉ là cõi tạm, cuộc sống sau cái chết mới là về nhà. Nữ thánh Công giáo duy nhất của nước Úc là Thánh Mary Mackillop nói: “Hãy nhớ rằng tất cả chúng ta chỉ là những lữ khách trên trần gian này mà thôi” (Remember we are but travellers here). Câu này được khắc trên mộ của Thánh trong Đền thờ ở North Sydney, nơi người Ki-tô giáo từ khắp thế giới vẫn thường xuyên đến thăm mộ để xin Ơn. Có nghĩa là người Ki-tô giáo tin rằng khi nào về với Chúa mới là về nhà của mình. Tiếng Việt cũng có câu: “Sinh ký tử quy” – sống là ký gửi, chết là về nhà! Hóa ra Đức tin của người Việt cũng giống Đức tin của Ki-tô giáo.

Có những người không cần đợi đến sau khi chết mới biết đến thế giới khác, mà biết ngay trong khi còn đang sống trong thế giới của chúng ta. Đó là những nhà ngoại cảm. Tôi không có khả năng ngoại cảm, nhưng có may mắn được liên lạc với Quyên thông qua các hình thức gọi hồn khác nhau. Việc tìm mộ Quyên và sự kiện “Cầu Lồ” hay “Cau Lộ” làm tôi tin chắc rằng Quyên vẫn đang sống ở một thế giới khác, và Quyên vẫn quan tâm đến tôi, Quyên biết rõ mọi sinh hoạt của tôi, biết rõ các chương trình làm việc của tôi… Có lẽ Quyên cũng đang đọc những dòng chữ này, thậm chí Quyên có thể đang tác động vào tôi theo một cách nào đó mà tôi không biết, để báo cho tôi biết tình cảm Quyên dành cho tôi… Thậm chí Quyên đã có lần nói rõ cho tôi biết rằng Quyên luôn luôn đi theo tôi trong các cuộc hành trình. Điều này sẽ được kể trong câu chuyện tiếp theo.

 

Cô bé ngoại cảm xinh đẹp

 

Khoảng đầu Tháng 02 năm 2017, tôi vừa chân ướt chân ráo từ Úc về Việt Nam thì nhận được một cú điện thoại từ một người lạ. Người ấy tự giới thiệu tên mình là Đức, là một nhà khoa học đang làm việc tại Viện Địa chất, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam.

Anh Đức nói anh đã đọc một số bài viết của tôi trên trang mạng PVHg’s Home[3], và anh rất cảm kích, tâm đắc với nhiều điều tôi viết. Anh muốn gặp tôi để chia sẻ, trao đổi nhiều vấn đề học thuật.

Ôi, còn gì thích thú bằng được một độc giả có trình độ khoa học cao – một nhà khoa học tại một viện nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam – quan tâm đến bài viết của mình. Tôi vui quá, đồng ý gặp gỡ ngay. Vừa bỏ máy xuống một lúc thì anh Đức lại gọi lại, anh nói muốn rủ tôi đi chơi, thăm thú vùng Côn Sơn, Hải Dương, vừa đi chơi vừa nói chuyện. Lúc ấy là dịp sắp Tết, được đi chơi thì còn gì bằng. Tôi hào hứng quá, đồng ý ngay.

Khoảng nửa tiếng sau xe ô-tô của anh Đức xuất hiện ở chỗ hẹn. Lái xe là một cán bộ quân đội, tên là Oánh. Cả hai còn trẻ, khoảng ngoài 40, thái độ hồ hởi vui tươi, đầy thiện chí. Tôi lên xe và xe bắt đầu lăn bánh. Chúng tôi bắt đầu chuyện trò làm quen với nhau. Chuyện rôm rả…

Khi xe chạy đến quãng giữa Hà Nội – Côn Sơn thì tôi thấy Đức bắt đầu nói chuyện với ai đó qua điện thoại. Đầu dây bên kia hỏi “Tới đâu rồi?”, Đức nói đến giữa đường rồi, và hẹn khoảng mấy giờ sẽ về tới nơi. Tôi bắt đầu nhận ra rằng đây là một kế hoạch gì đó giữa Đức với người ở đầu dây bên kia, và tôi đã “bị bắt cóc” để thực hiện kế hoạch này. Nói vậy cho vui thôi chứ tôi chẳng có gì phải nghi ngại cả, vì Đức và Oánh là những người tử tế ra mặt. Chỉ có điều là tôi vẫn chưa đoán ra đây là kế hoạch gì vậy. Nhưng chắc chắn đây là một cuộc du ngoạn thú vị rồi, tôi cảm nhận theo trực giác như vậy. Vì thế tôi tiếp tục chuyện trò vui vẻ. Tôi không tỏ ra tò mò về kế hoạch của Đức. Độ mười phút sau lại thấy điện thoại của Đức hoạt động. Đầu dây bên kia lại tiếp tục hỏi đến đâu rồi, Đức lại trả lời …

Cuối cùng thì cũng đến nơi. Tới Côn Sơn xe chạy vào một ngôi làng, đi vòng vèo qua một đoạn đường làng rồi tới nơi. Đức xuống mở cổng cho xe chạy vào…

Đó là một trang viên rất rộng, vườn tược khá đẹp, một số nhà sàn bằng gỗ được dựng lên rất khang trang, đẹp mắt, ra dáng kiến trúc, thoạt trông như một tu viện Phật giáo. Hỏi ra thì được biết đây là một trang viên của một kiến trúc sư về ở ẩn, thích đời sống thanh tịnh để tu thiền. Vị kiến trúc sư này mời một Thầy pháp về trang viên này để hành đạo – kết hợp việc tu hành với việc chữa bệnh cho anh em bà con xa gần, ai biết thì đến. Đó là lý do có nhiều ô-tô đậu ở khoảnh sân ngay cổng vào. Đó là khách tứ phương kéo đến đây để xin Thầy pháp chữa bệnh hoặc cầu cúng giải hạn đầu năm!

Thầy pháp đó tên là Hòa, tuổi trạc 60, mọi người gọi là Thầy Hòa. Thầy nổi tiếng vì đã chữa lành bệnh cho nhiều người bằng ngoại cảm, và thầy có nhiều khả năng kỳ lạ làm cho nhiều người thán phục, tôn Thầy lên như một sư phụ. Thầy có nhiều đệ tử, và các đệ tử của thầy đều ít nhiều có khả năng ngoại cảm. Người liên lạc với tôi và đi đón tôi, tức anh Đức ở Viện Địa Chất là một trong các đệ tử của thầy. Thầy Hòa chính là người ở đầu dây bên kia gọi cho Đức mấy lần khi xe đang lăn bánh. Và cuộc đón tiếp tôi hôm ấy là kế hoạch của Thầy Hòa, và anh Đức là người thực hiện.

Thầy Hòa nói trực tiếp với tôi đại ý rằng: “Em đã đọc những bài báo của anh. Em rất cảm kích. Bài viết của anh thể hiện một đức tin tâm linh khá mạnh mẽ, trong sáng, và có cơ sở khoa học. Em muốn mời anh lên đây ở với em. Em sẽ chữa hết mọi bệnh tật cho anh. Anh ở đây, anh em mình cùng vui vầy, cùng chia sẻ niềm tin, cùng hợp tác với nhau trong việc hành thiện giúp đỡ mọi người…”.

Chao ôi, còn gì sung sướng bằng được nghe người đời nói với mình những lời lẽ như vậy? Mà người đời ở đây đâu phải người thường, mà là một Thầy pháp được rất nhiều người khâm phục, kính trọng, phục tùng …

Thầy Hòa mời tôi lên Nhà Sàn, nơi Thầy tiếp khách và thực hiện các pháp của Thầy. Nhà Sàn rất sạch sẽ, bước gần 20 bậc mới lên tới nơi. Ban thờ đặt trên đó rất uy nghi. Khách đến cầu xin Thầy giúp đỡ đang ngồi chờ Thầy rất đông ở trên đó, ước chừng có tới năm sáu chục người. Tôi là khách đặc biệt của Thầy hôm đó.

Thầy mời tôi ngồi xuống chỗ gần cạnh Thầy, như một người bạn, trong khi mọi người khác ngồi ở phía đối diện và xa cách với Thầy. Có lẽ ai cũng mong đến lượt mình để được thầy gọi tên và giúp đỡ. Hầu hết khách đến nhờ Thầy chữa bệnh, hoặc nhờ thầy giúp đỡ cầu cúng gì đó để “tai qua nạn khỏi”. Trong đám đông khách ngồi chờ, được biết có một thiếu tướng công an, tuổi chạc ngoài 50, mặt mũi sáng sủa, đã ngồi chờ Thầy khá lâu. Ngay chỗ cửa ra vào là một đôi vợ chồng đang cầu khẩn Thầy cứu cậu con trai bị bệnh thần kinh không có khả năng nhận thức. Anh chồng mặt lạnh tanh, còn cô vợ thì đau khổ, khóc nức nở, cầu xin Thầy chữa cho cậu con trai. Cuộc đời vô thường bày ra trước mắt tôi. Không phải sân khấu, mà là một cảnh tượng thực tế, ở đó nỗi đau khổ của con người được phô bày ra trước mắt tôi. Tôi bỗng quên khuấy vị trí khách đặc biệt của mình vì bị cuốn hút vào những hình ảnh đang diễn ra trước mắt. Cháu bé thần kinh lúc đầu ngồi tựa vào mẹ, im phăng phắc. Bà mẹ vẫn tiếp tục nài nỉ Thầy thương cho cháu mà chữa cho cháu, vừa nói vừa nghẹn ngào nức nở. Thế mới biết tình yêu của người mẹ đối với đưa con đẻ đứt ruột nó lớn như thế nào. Những ai làm con mà không hiểu được tình yêu thương của mẹ mình lớn lao thế nào thì nên được chứng kiến những cảnh tượng xót xa như thế. Tôi là khách vãng lai mà cũng thấy mủi lòng. Bỗng Thầy Hòa lên tiếng bảo rằng cháu này hiện không có linh hồn. Nó chỉ là một thể xác đang cựa quậy mà thôi. Bà mẹ xin Thầy làm thế nào gọi hồn nó về. Thầy Hòa lại bảo nếu hồn về nhập vào nó mà làm điều ác thì nguy hiểm lắm (chỗ này có vẻ như thầy Hòa nói bóng nói gió nhắc nhở gì đó mà người ngoại cuộc không hiểu). Phải biết chắc hồn ấy không ác thì Thầy mới dám gọi về, nhưng nói chung là khó lắm. Rồi nhân chuyện đó, thầy giảng cho mọi người về điều thiện, điều ác… Kết thúc, thầy bỗng quay sang cháu bé thần kinh, quát nạt nó, ra lệnh cho nó thế nào mà tôi thấy nó sợ hãi, quỳ mọp xuống, bò lổm ngổm sát trên sàn gỗ như một con bò sát, lê đến gần chỗ Thầy, phủ phục xuống như muốn lạy Thầy … Tất cả mọi người được chứng kiến cảnh tượng lạ lùng diễn ra trước mặt. Thầy tiếp tục nói gì với nó nữa mà tôi không còn nhớ được. Rồi nó lại bò lổm ngổm về với mẹ nó. Toàn cảnh chứng kiến cho tôi thấy rõ hình ảnh một con người không có linh hồn là như thế nào. Đúng là lúc đó nó chỉ có hình dạng con người chứ không có chút thần khí nào của con người cả.

Khái niệm thần khí là có thật. Kinh Thánh nói Chúa tạo ra con người từ đất sét, rồi thổi thần khí qua lỗ mũi nó, lập tức cục đất sét ấy biến thành con người sinh động. Ai không tin điều đó thì nên được chứng kiến cháu bé không có linh hồn ở chỗ Thầy Hòa hôm đó. Tôi đã từng chứng kiến người điên, nhưng chưa bao giờ chứng kiến một người không có linh hồn như cháu bé đó. Vậy mà không hiểu sao, cuối buổi hôm ấy, cháu bé đó dường như được phục hồi phần nào linh hồn của nó. Nó đứng lên được, và nhìn nó lúc ấy tôi cảm thấy khác hẳn, hình như nó đã có linh hồn.

Tôi không biết cảnh tượng diễn ra ấy có nằm trong kế hoạch của Thầy Hòa nhằm thuyết phục tôi để tôi lên ở với Thầy và hợp tác với Thầy trong việc chữa bệnh cho mọi người bằng các phương pháp tâm linh hay không. Có thể đó là một động tác Thầy Hòa cố ý tỏ ra trước mặt tôi, nhưng cũng có thể hoàn toàn ngẫu nhiên.

Nhưng dù thế nào thì tôi cũng được chứng kiến một việc chữa bệnh kỳ lạ mà chưa bao giờ tôi được chứng kiến. Sau đó Thầy Hóa nói với mọi người rằng hôm nay Thầy bận tiếp tôi, nên không làm việc với ai cả. Mọi người phải vui lòng chờ đợi. Đến lúc ấy thì tôi biết rằng Thầy Hòa có một kế hoạch tiếp tôi long trọng, chứ không phải chỉ là nói chơi cho vui với nhau. Thầy thực sự muốn tôi lên ở với thầy. Thầy nhắc đi nhắc lại rằng lên ở với thầy không phải lo gì cả, ăn ở với thầy, và thầy sẽ chữa mọi bệnh tật cho tôi. Tôi biết đó là một vinh dự lớn cho tôi, nhưng tôi không dám biểu lộ thái độ rõ ràng, vì mọi thứ đều quá đột ngột, mới lạ, tôi chưa hề chuẩn bị trước cho việc này. Có vẻ như đọc được ý nghĩ của tôi, Thầy Hòa bảo các đệ tử của Thầy, tất cả hãy nhập định, rồi nói kết quả cho mọi người nghe.

Cho đến lúc ấy, khách của Thầy vẫn ngồi nguyên tại chỗ, không ai ra về, vì Thầy cũng không bắt ai phải ra về cả. Thậm chí đến trưa hôm ấy, mọi người vẫn ở lại đông đủ để dự bữa cơm chay do Thầy thết đãi. Bữa cơm chay rất ngon. Trở lại câu chuyện. Lúc Thầy bảo các đệ tử nhập định, mọi người vẫn ngồi nguyên tại chỗ, theo dõi mọi diễn biến. Có bốn hoặc năm đệ tử của Thầy bắt đầu nhập định. Sau khoảng năm, mười phút, họ bắt đầu nói ra những điều họ thấy trong lúc nhập định. Họ nói về tôi, họ đọc tính cách của tôi. Tất cả các đệ tử ấy nói ra nhận xét gần như nhau. Tôi thừa nhận họ nói đúng. Tuy nhiên, những điều họ nói vẫn là những nhận xét tổng quát, chưa đủ sức mạnh thuyết phục. Tôi tán thành những điều họ nói, nhưng cũng không tỏ ra kinh ngạc hay khâm phục rõ ràng. Thầy Hòa bèn lên tiếng:

“Bây giờ tất cả mọi người đi ra khỏi phòng này, chỉ có hai người ở lại đây. Một là bác Hưng, hai là cháu…”, Thây vừa nói vừa chỉ vào một đệ tử ít tuổi nhất của Thầy mà trước đó cũng tham gia nhập định. Đó là một cô bé khoảng 27-28 tuổi, rất xinh đẹp, hiền hậu. Nghe nói cháu vốn là một bệnh nhân đến xin Thầy Hòa chữa bệnh, và đã được chữa lành. Thầy không chỉ chữa lành cho cháu, mà còn phát hiện ra khả năng ngoại cảm của cháu. Từ đó cháu trở thành một trong các đệ tử của Thầy, giúp Thầy trong công việc chữa bệnh bằng ngoại cảm và tâm linh. Nhóm này có khoảng 5 – 6 người, ít nhất đó là những người tôi chứng kiến.

Tất cả nghe lệnh Thầy, đều đứng lên, ra khỏi phòng và xuống dưới nhà. Chính Thầy Hòa cũng ra khỏi phòng. Chỉ còn lại tôi và cháu bé ngoại cảm xinh đẹp ấy ngồi lại. Tôi quay sang nhìn cháu. Cháu nhắm mắt lại một lúc để nhập định… rồi mở mắt ra, cháu nhìn tôi và bắt đầu nói:

  • Em là Quyên đây. Em đi theo anh đến đây đấy. Em thường hay đi theo anh đến mọi nơi anh đến đấy… 

Tôi kinh ngạc, mặc dù tôi đã từng đón tiếp Quyên về nói chuyện nhiều lần. Nhưng ở đây, tại Côn Sơn này, một nơi xa lạ với tôi, không ai biết tôi, và tôi cũng không biết ai, vậy mà cô bé này bỗng nhiên nói đúng tên người yêu của tôi, Mối Tình Đầu của tôi, với giọng điệu và kiểu cách rất quen thuộc với tôi …

Hôm ấy là lần đầu tiên tôi biết anh Đức, anh Oánh, Thầy Hòa, và các đệ tử của Thầy Hòa, trong đó có cô bé ấy. Tôi không hề biết tên họ của cô bé, tôi không hỏi, vì tôi không thấy đó là điều cần thiết. Không phải tôi quên tên cô bé ấy để bây giờ không viết rõ tên cô ấy trong câu chuyện này. Tôi thực sự chưa bao giờ biết tên cô bé đó, chưa bao giờ có ý định hỏi tên cô bé đó, mặc dù cô bé thật dễ thương, xinh đẹp … Tôi tin ngay rằng Quyên đã nhập vào cô bé ấy để nói chuyện với tôi, tôi chỉ thốt lên:

  • Ôi, Quyên đấy à…

rồi lúng túng không biết dẫn chuyện tiếp theo ra sao. Quyên cũng không nói thêm nữa. Dường như cả hai cảm thấy thế là đủ. Tôi sực tỉnh ra, biết rằng nên nói với Thầy Hòa điều tôi vừa kinh ngạc.

Cô bé ngoại cảm dường như cũng cảm thấy thế là đủ, vì phản ứng của tôi có vẻ nhớn nhác tìm xem Thầy Hòa ở đâu rồi. Đúng lúc đó Thầy Hòa trở lại sàn gác. Tôi nói ngay với Thầy:

  • Thầy Hòa ơi, tôi chịu rồi.

Thầy Hòa không nói gì, Thầy ra vẫy tay gọi mọi người trở lại. Mọi người lại lục tục kéo nhau lên sàn gỗ. Tôi nói với Thầy Hoa và với mọi người:

  • Thưa Thầy, người yêu đầu tiên của tôi vừa về. Đó là Quyên, là Bùi Tố Quyên, Mối Tình Đầu của tôi. Cô ấy mất từ năm 1969, đã nhiều lần có liên lạc với tôi qua con đường tâm linh. Hôm nay Quyên về đây, qua cô bé này, nói cho tôi biết rằng Quyên cũng đến đây. Tôi rất cảm động….

Thầy Hòa nhìn mọi người, nhìn tôi. Thầy không nói gì thêm, bởi những sự kiện vừa diễn ra đã đủ để nói lên những sự thật mà mọi người muốn biết. Không cần phải giải thích thêm gì nữa. Tất cả mọi người có mặt ở đó đều là người có Đức tin vào sự hiện hữu của thế giới bên ngoài hoặc bên trên sự sống của chúng ta. 

Lúc xuống nhà, Thầy Hòa tiếp tục thuyết phục tôi lên ở với Thầy. Nhưng tôi không dám nhận lời. Anh Oánh lấy xe đưa tôi về Hà Nội. Trên đường về Oánh nói: “Anh ơi, sao anh còn lưỡng lự gì nữa. Không ai được Thầy quý mến và trọng đãi như anh đâu. Anh nhận lời với Thầy đi. Cơ hội ngàn năm có một đấy…”. Oánh nói rất nhiều, vận động tôi hợp tác với Thầy Hòa. Oánh tỏ ra thất vọng khi thấy tôi bỏ lỡ cơ hội: “Anh ơi, đây là may mắn phúc đức lắm đấy, chớ bỏ lỡ!…”.

Bản thân tôi cũng tiếc lắm, nhưng tôi không thể bỏ mọi thứ để lên ở với Thầy Hòa, vì như thế cuộc sống của tôi sẽ hoàn toàn đảo lộn. Đành chấp nhận vậy.

Muốn hay không, tôi cũng biết ơn Thầy Hòa rất nhiều. Trước hết vì tấm lòng của Thầy, thịnh tình của Thầy, sự trong đãi Thầy dành cho tôi… và sau hết, Tôi biết ơn Thầy vì Thầy đã tạo một cơ hội hi hữu có một không hai để Quyên xuất hiện bên cạnh tôi ở một xứ sở hoàn toàn xa lạ không ai biết tôi và tôi cũng không biết ai – điều đó ban cho tôi một hạnh phúc lớn vô hạn, vì tôi cảm nhận được rất rõ ràng đúng là Quyên luôn đi cùng với tôi trong các cuộc hành trình, và đúng là Quyên vẫn yêu tôi, như tôi vẫn yêu Quyên, mặc dù tính đến năm ấy, 2017, đã xa cách nhau 55 năm!

Kể từ đó, tôi mất đi cái ý nghĩ cho rằng mình xa cách Quyên. Nhiều năm nay, tôi thường xuyên đi thăm mộ Quyên trên Nghĩa trang Bất Bạt, Yên Kỳ, Sơn Tây. Ngày nào cầu nguyện trước Ban thờ Chúa tôi cũng nhắc đến Quyên và Mẹ. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe những mẩu chuyện cảm động và thú vị trong những chuyến đi thăm mộ Quyên và Mẹ trong những năm gần đây. Tôi không buồn nữa, vì biết rằng Quyên biết tôi vẫn yêu Quyên như ngày xưa. Thậm chí yêu hơn, vì trải nghiệm hơn, hiểu đời hơn, biết trân trọng những giá trị thiêng liêng hơn …

 

Thầy Bùi Phụng

 

Tôi đã trải qua khá nhiều lớp tiếng Anh: lớp ở Đại học Tổng hợp thời sinh viên, lớp của Đại học Sư phạm để lấy bằng C, lớp bên Úc khi mới định cư, … Tôi gặp khá nhiều thầy dạy tiếng Anh, từ thầy người Việt đến thầy người Úc … Nhưng không lớp nào và không thầy nào để lại cho tôi nhiều ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc như lớp của Giáo sư Bùi Phụng, vì nhiều lý do:

Trước hết vì không ai nói tiếng Anh hay bằng thầy Bùi Phụng, mặc dù thầy chưa đi Anh bao giờ. Tiếng Anh của thầy có âm nhạc trong đó. Phát âm của thầy nghe “sướng lỗ nhĩ” – mấy chữ này tôi học được từ chính thầy Bùi Phụng. Tai tôi là tai mê nhạc (tôi từng say mê chơi nhạc) nên tôi nhận ra chất âm nhạc trong ngôn ngữ rất nhanh, cả trong ngôn ngữ nói lẫn ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ có âm nhạc sẽ làm cho người nghe bị hút vào một cách vô thức. Ngôn ngữ thiếu âm nhạc sẽ lủng củng, khô khan, chán ngấy. Ngôn ngữ nào cũng có âm nhạc của nó. Âm nhạc của ngôn ngữ phụ thuộc vào phát âm (pronunciation) và ngữ điệu (intonation). Cả hai yếu tố này đều là ưu thế vượt trội của Thầy Bùi Phụng. Vì thế học tiếng Anh của Thầy Bùi Phụng rất sướng – được nghe Thầy nói là đủ sướng tai rồi – và rất có lợi, vì người học sẽ chịu ảnh hưởng bởi cách phát âm và ngữ điệu của Thầy.

Thứ hai, vì Thầy thường đòi hỏi học trò phải tự nỗ lực tìm hiểu những vấn đề ngữ pháp mà các sách giáo khoa tiếng Anh đã trình bày, để dành thì giờ trên lớp thực hành nghe và nói, sao cho người học có thể áp dụng tiếng Anh vào cuộc sống ngay tức khắc. Điều này khác hẳn với những lớp tiếng Anh cấp bằng C cho học viên nhưng học viên vẫn “câm” tiếng Anh khi bước vào đời.

Thứ ba, tiếng Anh của Thầy Bùi Phụng không phải là một ngoại ngữ, mà là tiếng Anh của một nhà ngôn ngữ học. Chuyên ngành của Thầy là tiếng Việt, nhưng những hiểu biết của thầy về ngôn ngữ nói chung là hiểu biết của một nhà ngôn ngữ học bậc thầy. Thầy không chỉ soạn Từ điển Việt – Anh, mà còn có nhiều hoạt động nghiên cứu khác. Thầy đã được Hội hoàng gia Anh (Viện Hàn lâm Anh) mời đích danh Thầy sang London trình bày cho các viện sĩ Anh nghe về những cái hay cái đẹp của tiếng Việt. Thầy rất biết mình, biết người. Một lần Thầy nói riêng với tôi: “Ở Việt Nam này, tôi không chịu chữ nghĩa của ai cả, trừ một người, đó là Cao Xuân Hạo”. Năm 2004, tôi có dịp đến thăm Giáo sư Cao Xuân Hạo ở Saigon, tôi kể cho anh Hạo nghe nhận xét của Thầy Phụng. Anh Hạo lại nhờ tôi chuyển lời đến Giáo sư Bùi Phụng, rằng: “Cao Xuân Hạo chẳng chịu tiếng Anh của ai cả, trừ Bùi Phụng”. Tiếc thay, tôi bận việc này việc nọ, chưa kịp chuyển lời đó thì Thầy Bùi Phụng đã ra đi. Đúng là chỉ có bậc cao minh mới nhận ra bậc cao minh!

Nhưng kỷ niệm khó quên nhất của tôi với Thầy Bùi Phụng là lần đầu tiên tôi vào lớp của Thầy (lớp do Đại học Bách Khoa Hà Nội tổ chức). Tôi ngồi ngay hàng đầu tiên, gần chỗ Thầy ngồi. Thấy tôi lạ, Thầy hỏi:

  • Are you a new one? (Cậu là học trò mới à?)
  • Yes Sir, I am (Vâng thưa thầy, em là một học trò mới), tôi thưa.
  • Introduce some things about yourself, please (Vậy cậu hãy giới thiệu đôi điều về bản thân đi).
  • Yes, Sir, I used to be the lover of one of your cousins (Vâng thưa Thầy, em từng là người yêu của một trong các em họ của Thầy)
  • Really? Who was that? (Thật thế à? Đứa nào vậy)
  • That was Bùi Tố Quyên! (Đó là Bùi Tố Quyên)
  • Oh my God! (Trời ơi!) Thầy Phụng kêu lên.

Thầy không nói tiếng Anh nữa, mà quay sang nói tiếng Việt với cả lớp (lúc hứng khởi nhất ta vẫn thích nói bằng thứ ngôn ngữ thân thiết nhất):

  • Các bạn ơi, cậu này khôn quá. Cậu ta yêu ai chứ yêu cô em họ của tôi thì cậu ta khôn lắm! Các bạn có biết cô em họ của tôi thế nào không? Đó là một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt vời! Dễ thương lắm! Tôi cũng thấy tự hào vì em tôi đấy! Tiếc thay, em tôi mất rồi. Mất vì một tai nạn. Cậu này đã yêu nó. Cậu ấy là một người đàn ông thật may mắn!

Rồi thầy lại quay sang hỏi tôi:

  • Do you have any more to say about? (Cậu còn gì để nói nữa không?)
  • Yes Sir, I used to be one of your wife’s students. In 1961, she taught me Geography (Vâng, thưa Thầy, em từng là một trong những học sinh của vợ Thầy. Năm 1961, vợ thầy dạy em môn Địa lý)
  • Oh, What a beautiful memory! (Ôi, thật là một kỷ niệm đẹp!)

Một lần nữa Thầy Phụng lại quay sang nói với cả lớp:

  • Này các bạn. Đây chính là một học trò tôi muốn có. Cậu ấy đã học bà vợ tôi từ ngày xưa mà hôm nay vẫn nhớ, vẫn nhận mình là học trò của vợ tôi. Trong khi tôi có một học trò vừa học tôi năm trước, vậy mà năm sau gặp tôi tại một cuộc lễ tân ở Bộ Ngoại giao, nó cụng ly với tôi như với một người xa lạ, không chào Thầy, nó coi tôi như mọi người khác trong buổi lễ tân hôm đó. Nó không muốn mọi người biết nó là học trò của tôi. Nhưng hôm nay tôi rất vui vì có một học trò mới này, một học trò vô tình đã có mối liên hệ với tôi qua bà vợ tôi và cô em họ của tôi …

Tôi vô cùng sung sướng khi nghe Thầy Phụng nói ra những lời lẽ bộc trực thẳng thắn đó. Tôi không ngờ những sự thật rất giản dị tôi nói ra lại được Thầy Bùi Phụng đánh giá cao như thế. Tôi không ngờ Thầy Bùi Phụng lại thích những điều tôi nói đến như thế. Thầy đã ban thưởng cho tôi những lời khen làm tôi nở mày nở mặt, đặc biệt là lời Thầy nói về Quyên, mà tôi xin nhắc lại dưới đây để độc giả biết rằng tôi hạnh phúc như thế nào:

  • Các bạn ơi, cậu này khôn quá. Cậu ta yêu ai chứ yêu cô em họ của tôi thì cậu ta khôn lắm! Các bạn có biết cô em họ của tôi thế nào không? Đó là một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt vời! Dễ thương lắm! Tôi cũng thấy tự hào vì em tôi đấy! Tiếc thay, em tôi mất rồi. Mất vì một tai nạn. Cậu này đã yêu nó. Cậu ấy là một người đàn ông thật may mắn!

Sau này, khi tôi đã thân với Thầy, bỗng một hôm Thầy hỏi tôi:

  • Have you read the Bible yet? (Cậu đọc Kinh Thánh chưa?).

Tôi định thưa “rồi ạ”, vì hồi bé tôi đã từng phải học thuộc lòng Kinh Bổn, từng bị các Cha (thầy dạy) cho ăn roi vào tay vì không thuộc bài. Tôi cũng từng được nghe các Cha và các Sơ kể các tích truyện trong Kinh Thánh. Tôi từng mê truyện Chúa hài đồng sinh ra trong máng cỏ nghèo hèn, vì mê các Thánh Ca Giáng Sinh … Nhưng không hiểu sao lúc ấy tôi kịp tỉnh thức để biết rằng nếu nói đã đọc Kinh Thánh rồi là nói dối, vì thế tôi thưa với Thầy:

  • Not yet, Sir (Dạ, chưa đọc ạ)
  • If you haven’t read the Bible yet, you seem to know nothing! (Nếu cậu chưa đọc Kinh Thánh thì cũng dường như cậu chẳng biết gì cả!), Thầy Phụng nói.

Vì ngưỡng mộ Thầy nên tôi ghi lòng tạc dạ lời Thầy nói. Nhiều năm sau này cuộc đời đưa tôi đến những hoàn cảnh thất vọng, bế tắc, và kỳ diệu thay, tôi tìm thấy câu trả lời thỏa đáng trong Kinh Thánh. Lúc ấy tôi nhớ lại lời Thầy Phụng, thầm nghĩ bậc cao nhân không nói điều gì thừa cả. Tuổi trẻ nên khiêm tốn học hỏi những bậc đàn anh, đàn cha đàn chú tài giỏi mà mình ngưỡng mộ. Đó là một cách học nhanh nhất, hiệu quả nhất.

Ở đời có câu: “Thấy người sang bắt quàng làm họ”. Họ Bùi là một họ sang. Nhưng khi trông thấy Quyên lần đầu tiên để rồi si mê nàng, và yêu nàng, tôi đâu có biết Quyên là một thành viên trong một dòng họ danh tiếng?

Chính Quyên nói cho tôi biết nàng là cháu nội của cụ Bùi Kỷ. Lúc ấy tôi thốt lên “Thế à?”, vì tôi vốn đã ngưỡng mộ tên tuổi của Cụ từ trước khi gặp Quyên – từ cuốn “Tam quốc chí Diễn nghĩa” mà Cụ là người hiệu đính bản tiếng Việt. Nhưng khi biết Quyên là cháu nội của Cụ, tôi càng muốn biết về Cụ nhiều hơn.

Tổ tiên họ Bùi gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội). Cụ tổ 6 đời của Quyên là Bùi Văn Quế, từng làm quan đến chức Tham tri bộ Hình. Cụ tổ 4 đời của Quyên là Bùi Thức, đậu Tiến sĩ, nhưng không ra làm quan, ở nhà dạy học và viết sách. Cụ Bùi Thức có con rể là Lệ thần Trần Trọng Kim, một nhà Nho học và Tây học lỗi lạc.

Cụ Bùi Kỷ, ông nội của Quyên, từng đỗ Phó bảng ở Huế năm 1909. Năm 1912, cụ được chính quyền bảo hộ của Pháp cử đi du học ở Paris, học Trường Thuộc địa (École coloniale). Cụ từng tiếp xúc và làm bạn với nhà cách mạng Phan Chu Trinh. Năm 1914, Cụ về nước, được phủ Thống sứ Bắc Kỳ mời ra làm quan, nhưng Cụ từ chối, lấy cớ bận dạy học. Cụ dạy tại các trường Đại học Sư phạm, Đại học Công chính, Đại học Pháp chính[4], và cả một số trường tư thục như Văn Lang, Thăng Long.

Ngoài việc dạy học, cụ Bùi Kỷ còn là một nhà nghiên cứu, nhà sáng tác, tác giả của rất nhiều cuốn sách học thuật nổi tiếng. Cụ là một trong những trụ cột của nền học thuật Việt Nam trong giai đoạn chuyển từ Cổ học sang Tây học. Đồng thời Cụ cũng là một nhà báo viết cho một số báo lớn ở Hà Nội thời ấy như Nam Phong, tập san của hội Khai Trí Tiến Đức, báo Trung Bắc Tân Văn… Tóm lại, Bùi Kỷ là một tên tuổi lớn trong nền học thuật và giáo dục Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ 20[5]

Giáo sư Bùi Phụng, một hậu duệ của họ Bùi cùng thế hệ với Bùi Tố Quyên, là một học giả xuất sắc, tiếp nối được truyền thống của tổ tiên. Nếu Giáo sư Bùi Phụng và Giáo sư Cao Xuân Hạo nể phục nhau thì cũng là điều dễ hiểu: cả hai cùng có tài và cùng thừa kế được truyền thống học thuật xuất sắc của tổ tiên.

Vậy là tôi đã dành hơn 3 trang A4 để nói về Thầy Bùi Phụng và về dòng họ Bùi của Tố Quyên. Nhưng điều đó có liên quan gì đến tình yêu giữa tôi và Quyên?

Có chứ!

Việc ngẫu nhiên tôi trở thành học trò tiếng Anh của Thầy Bùi Phụng chẳng phải là một cái DUYÊN Trời định kết nối tôi với Quyên hay sao?

Chữ “duyên” của Nhà Phật là một khái niệm huyền vi rất sâu sắc mà các ngôn ngữ Tây Phương không có từ tương đương. Nó gợi ý cho ta thấy dường như mọi cuộc tao ngộ trên đời mà ta tưởng là ngẫu nhiên thực ra đã được sắp đặt từ trước cả rồi. Ai sắp đặt?

Ông Trời chứ còn ai nữa? Hoặc Thượng Đế, hoặc Chúa cũng vậy mà thôi!

Nếu ngày xưa tôi chưa dám nghĩ linh hồn của Quyên đã dẫn tôi đến học Thầy Bùi Phụng, thì cách đây 5 năm, tôi tin chắc rằng linh hồn của Quyên đã dẫn tôi đến thăm mộ Thầy Bùi Phụng trên Nghĩa trang Bất Bạt, Yên Kỳ, Sơn Tây. Chuyện là thế này.

Ngày 30 Tháng 04 năm 2016, một đoàn xe của Phòng Tang Lễ Phùng Hưng chở một đoàn khách gồm khoảng sáu chục người đi thăm mộ người thân trên Nghĩa trang Yên Kỳ. Tôi tham gia chuyến đi này.

Người thân của tôi ở đây có ba người: Hai mẹ con Quyên và một chú em ruột của tôi. Mấy mộ ở gần nhau nên việc thăm mộ khá tiện lợi.

Tôi đã đến thăm mộ Quyên và Mẹ ở đây nhiều lần, nên mọi thủ tục nghi lễ thường tiến hành khá nhanh gọn. Luôn luôn có mấy chị nông dân đến giúp đỡ quét dọn, làm sạch mộ và khu vực xung quanh mộ. Sau đó tôi cắm mấy bông hoa tươi trên mộ, thắp hương, rồi đứng trước mộ cầu nguyên. Hầu như tất cả mọi lần tôi thắp hương trên mộ Quyên, hương đều cháy bùng lên ngọn lửa to, giống như 50 năm trước lần đầu tiên tôi thắp hương trên mộ Quyên ở Văn Điển. Có nghĩa là Quyên rất vui khi thấy tôi đến.

Tôi là người Công giáo, Quyên không Công giáo, nhưng tôi luôn luôn cầu nguyện theo các Kinh Công giáo: Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Sáng Danh, và Kinh cầu cho linh hồn. Kết thúc tôi không quên nói thầm với Quyên rằng “Quyên ơi, anh vẫn yêu Quyên lắm, và thương Quyên lắm. Anh có lỗi với Quyên, Quyên tha thứ cho anh nhé. Đừng giận anh nhé…”.

Đứng trước mộ Mẹ, tôi cũng cầu nguyện các Kinh Công giáo, rồi thưa với Mẹ: “Mẹ ơi, ngày xưa tuổi trẻ, con không biết đạo nghĩa gì cả. Vì giận nhau với Quyên mà con không thăm Mẹ và các em. Con vô đạo quá. Lẽ ra con phải đến thăm Mẹ và các em thường xuyên. Con thật tội lỗi. Xin Mẹ tha thứ cho con. Từ nay con xin làm tất cả những gì có thể làm để chuộc lỗi với Mẹ và với Quyên. Con thương Mẹ và Quyên lắm. Mẹ là mẹ của con…”.

Cầu nguyện xong, tôi nán lại một lúc, cảm giác bịn rịn lưu luyến người ở lại, lòng dạ bâng khuâng. Nhưng thôi, phải ra về thôi … Đúng lúc ấy, không hiểu làm sao tôi chợt nhớ ra một điều: có thể mộ Thầy Bùi Phụng cũng được chuyển từ Văn Điển lên đây rồi?

Đó là một ý nghĩ nẩy sinh hoàn toàn ngẫu nhiên trong đầu tôi vào thời khắc ấy, hoàn toàn không có một chuẩn bị trước nào cả. Trước khi lên Bất Bạt hôm ấy, tôi không hề nghĩ đến Thầy Bùi Phụng.

Liệu mộ Thầy có được chuyển lên Bất Bạt không? Hay đưa đi đâu khác? Tôi hoàn toàn không biết. Nhưng bỗng nhiên tôi hy vọng có thể mộ Thầy cũng được đưa lên đây rồi.

Nhưng làm thế nào mà biết mộ Thầy ở đâu bây giờ? Với hàng vạn mộ trên một nghĩa trang rộng mênh mông, làm sao mà đi tìm mộ được? Hỏi Ban quản lý Nghĩa trang thì có thể biết, nhưng chắc gì mộ của Thầy đã được đưa lên Bất Bạt mà hỏi. Vả lại hôm ấy văn phòng Ban quản lý không làm việc, cửa đóng then cài. Tôi lập tức nẩy ra sáng kiến: nhờ cô nông dân đứng cạnh tìm giúp. Tôi quay sang nói với cô ấy:

  • Này cô, tôi muốn tìm mộ một người thân ở đây. Cô có thể tìm giúp tôi không. Nếu cô tìm được, cô báo cho tôi, tôi sẽ đền ơn.
  • Vâng, cháu giúp được.

Sau khi trao đổi số điện thoại với cô ấy, tôi liền ghi ra giấy tên Thầy Bùi Phụng, kèm theo lời dặn dò “Có thông tin gì thì cô gọi cho tôi ngay nhé, hoặc nhắn tin cũng được. Tôi sẽ đền đáp”.

Rồi tôi lững thững ra về. Mọi việc xong xuôi rồi, bây giờ phải nghỉ ngơi một chút, ăn uống một chút cho đỡ mệt. Vả lại, còn lâu mới đến giờ xe chạy. Nhiều khách đi cùng chuyến xe vẫn còn đang đi thăm mộ chưa xong.

Có một chi tiết phải bổ sung cho câu chuyện. Đi cùng chuyến xe lên Bất Bạt lần này có một nhà báo nữ. Hình như cô làm việc cho báo Phụ nữ, tôi không nhớ rõ, tuổi trạc ngoài 40, mặt mũi tươi tắn, nhân hậu. Cô ngồi ghế cạnh tôi, nên trở thành một bạn đường. Chuyện trò làm cho đoạn đường ngắn lại. Hai bên hỏi thăm nhau và nói về người thân của mình nằm trên Nghĩa trang Yên Kỳ. Tôi kể cho cô nghe về Quyên, không ngờ cô thích câu chuyện đến mức khi lên đến nơi, cô ngỏ ý sẽ sang thăm mộ của Quyên, sau khi thăm mộ người nhà của mình xong. Thật vinh hạnh cho tôi vì câu chuyện của tôi được người khác muốn nghe. Tôi chỉ mới kể cho cô nhà báo nghe rất sơ lược rằng chúng tôi đang yêu nhau, rồi giận nhau, thì Quyên bị tai nạn ra đi, rồi linh hồn Quyên về, rồi tôi ân hận … Kể vắn tắt đến đấy thì xe đã đến nơi. Mọi người xuống xe. Có lẽ chính vì chuyện dở dang như thế nên cô nhà báo đó muốn nghe thêm. Và thế là cô ghé sang thăm mộ Quyên, đúng như cô mong muốn. 

Vì thế, lúc từ mộ Quyên ra về, tôi đi bộ cùng cô nhà báo. Tôi chỉ một quán nước, mời cô cùng vào đó. Nhưng cô chê quán đó đông quá. Cô chỉ tay vào một quán khác xa hơn một chút, nhưng vắng khách, hay đúng hơn là không có khách nào cả, chỉ có một mình cô chủ quán. Tôi đồng ý ngay, vì tôi cũng rất ghét chỗ đông người.

Ngồi vào quán nước, cô chủ quán rót nước trà nóng, bày ra một đĩa lạc rang còn nguyên vỏ cứng, rồi mời khách ăn trứng luộc. Trứng còn tươi, nếu khách ăn thì chủ quán sẽ luộc ngay tại chỗ. Tôi đang đói, đồng ý luôn.

Tôi nhấp một nhấp trà nóng, vị rất thơm, tay vừa bốc một hột lạc, chưa kịp bóc thì…. Ơ kìa, ngay trước mắt tôi, tên Thầy Bùi Phụng hiện ra rõ mồn một trên tấm bia gắn trên mộ, ngay sau lưng cô chủ quán! Tôi ngạc nhiên kêu lên:

  • Ôi, Thầy tôi đây rồi! Tôi vừa nói vừa chỉ tay vào mộ Thầy Bùi Phụng trước mặt, đúng ngay sau lưng cô chủ quán, chỉ lệch khoảng 20 cm, thế có lạ không.

Cô chủ quán quay lưng lại, rồi lại nhìn tôi. Cô nhanh chóng hiểu ra sự việc. Tôi lại reo lên tiếp:

  • Ôi, cả cô giáo của tôi đây nữa! Cô Thuần, vợ của Thầy! Cô từng dạy Địa lý cho tôi. Hóa ra Thầy Cô cùng nằm ở đây! Tôi lại chỉ tay vào mộ Cô, ngay bên cạnh mộ Thầy, để giới thiệu về Cô cho cô nhà báo và cô chủ quán.

Tôi thoáng nghĩ đến cô nông dân ban nãy tôi nhờ tìm mộ. Làm thế nào để báo cho cô ấy biết là tôi đã tìm được mộ rồi, để cô khỏi mất thì giờ? Nhưng lúc ấy không có nhiều thì giờ để suy nghĩ. Tôi đứng lên, tiến tới phía mộ của Thầy và Cô, tôi hỏi cô chủ quán:

  • Cô có hương bán chứ?
  • Có đây ạ!
  • Cô cho tôi một bó.

Tôi cầm lấy bỏ hương, mượn bật lửa, và nói với cô chủ quán:

  • Cô giúp tôi dọn dẹp làm sạch mộ hai Thầy Cô của tôi được không?
  • Được ạ.

Cô chủ quán đưa cho tôi một bó hương còn nguyên trong vỏ, và lập tức đứng lên dọn dẹp làm quang hai mộ.

Lạ không? Tại sao trong một biển cả mênh mông hàng vạn mộ, tôi lại vào đúng vị trí mộ Thầy Bùi Phụng, đúng vị trí mộ tôi đang cần tìm, đúng vị trí mộ tôi vừa mới nhờ cô nông dân tìm hộ? Xác suất để tôi ngẫu nhiên gặp mộ của Thầy sẽ là 1 trên mấy vạn. Nhỏ lắm. Nhỏ như xác suất trúng số độc đắc khi quay vòng roulette vậy. Thế mà chỉ cần quay một vòng tôi đã trúng số ngay lập tức!!!

Đáng lẽ tôi đã ngồi ở một quán khác, nhưng tại sao cô bạn nhà báo đồng hành lại chê chỗ đó, và chỉ cho tôi quán nước này?

Quyên có dẫn đường cho tôi đến mộ Thầy Bùi Phụng không? Nếu ai không tin Quyên dẫn đường thì đó là việc của họ, còn tôi, tôi tin!

Có một nghìn lý do để tôi tin, nhưng tôi chẳng nói ra đây làm gì, vì Thánh Thomas Aquinas đã nói:

“Với người có Đức tin, không cần phải giải thích; với người không có Đức tin, chẳng có giải thích nào là đủ”[6].

 

Thay Lời Kết: Lá thư từ một người bạn

 

Tôi có nhiều bạn thân, nhưng chỉ có một người học với tôi từ thủa học trò. Anh ấy là người được nghe tôi tâm sự về Quyên nhiều nhất, từng khuyên bảo tôi những điều chí lý. Khi tôi có ý định viết câu chuyện này thành một truyện ngắn, anh ấy liền ủng hộ. Viết được đến đâu tôi liền gửi bản thảo cho anh ấy đọc, vừa để chia sẻ, vừa để bạn tôi nhận xét, góp ý.

Sau khi đọc hết bản thảo, anh ấy gửi cho tôi một lá thư vừa thân tình, vừa sâu sắc đến nỗi tôi muốn lấy lá thư ấy làm Lời Kết cho câu chuyện Mối Tình Đầu của tôi. Bạn tôi vui vẻ đồng ý. Đây, lá thư viết:

Thân gửi anh Hưng,

Tôi đã đọc xong bản thảo Mối Tình Đầu của anh. Thú thực, nhiều chỗ tôi phải dừng lại vì thấy nghẹn trong lòng. Tôi khóc cho mối tình của anh và Quyên. Tôi biết cả anh lẫn Quyên đều còn rất yêu nhau. Tôi nghĩ trong 2 năm, từ 1962 đến 1964, Quyên đã suy nghĩ rất nhiều rồi mới quyết định quay lại làm hoà với anh.

Câu chuyện của anh có quá nhiều tình tiết hấp dẫn, nhiều đoạn rớt nước mắt, nhiều đoạn quá đẹp, nhưng có lẽ cột mốc xoay chuyển câu chuyện là sự kiện Quyên bất ngờ đến thăm anh năm 1964 tại 33 Thái Phiên. Tôi đọc đoạn ấy vừa thấy vui rộn ràng, vừa buồn thắt lòng lại. Cả hai cùng sai nhưng cả hai cùng đáng được tha thứ, vì định mệnh đã xếp đặt như thế rồi.

Có lẽ Quyên đã phải lấy hết can đảm mới dám đến nhà 33 Thái Phiên để gặp lại anh. Khi ấy hai người mới 19 tuổi, còn quá trẻ để hiểu đời! Cả hai đều chưa đủ khôn ngoan, chưa biết cách và chưa dám bày tỏ lòng mình một cách chân thành với nhau, để rồi cả hai mất nhau mãi mãi! Sao lại dại dột đến mức như vậy được nhỉ? Cuối cùng tôi nghĩ tất cả là định mệnh mà Chúa đã xếp đặt vì một ý định nào đó của Ngài mà chúng ta không thể hiểu hết được. “Con người không thể đoán trước”, tôi nhớ một cuốn sách có tiêu đề như vậy, hình như của André Bourguignon. Cuộc tình của anh và Quyên cũng như vậy mà thôi. Tất cả chúng ta chỉ sống theo vô thức, vì thế khó tránh khỏi lỗi lầm, để rồi ân hận, luyến tiếc. 

Nếu Chúa muốn anh và Quyên lấy nhau, thành vợ chồng, và sống bên nhau suốt đời, có lẽ Người sẽ xui khiến anh lấy xe đạp để tiễn chân Quyên về lại nhà chị ấy. Đấy là dịp Quyên trở lại thăm anh hồi 1964. Theo tôi, đó là cái thắt nút trong câu chuyện tình rất đẹp của hai người. Rồi anh lại đến thăm chị ấy như ngày xưa. Chắc chắn sau một thời gian Quyên sẽ cảm động tấm lòng chân thành của anh, rồi sẽ đồng ý nối lại tình yêu như trước.

Tôi chỉ là một kẻ ngoại cuộc nghe câu chuyện của anh mà cũng phải thở dài khi chứng kiến một cuộc tình rất đẹp mà lại có cái kết thúc buồn da diết như thế. Chuyện anh kể về những ngày hai người yêu nhau, giai đoạn 1961-62, tuy không có những chi tiết tình ái nóng bỏng như nhiều tiểu thuyết hiện đại thường mô tả, nhưng lại đầy ắp tính nhân bản và thi ca, đúng là một TÌNH YÊU TRONG SÁNG làm lay động lòng người.

Tôi rất thích cái tiêu đề “Tình yêu trong sáng” anh đặt cho Phần I, nghe như tên một cuốn phim rất hay của Hàn Quốc từng chiếm lĩnh trái tim người Việt những năm đầu thế kỷ 21, nhưng tôi thích chủ yếu vì nó phản ánh rất chính xác tình yêu giữa anh và Quyên. Quả thật là quá trong sáng, hồn nhiên và ngây thơ đến nỗi phạm phải những sai lầm thật ấu trĩ để rồi phải ân hận mãi mãi. 

Tôi hiểu điều anh muốn nói: tình yêu chỉ thực sự thăng hoa khi hai linh hồn nhập lại thành một chứ không phải ở sự thỏa mãn thể xác. Một tình yêu say đắm và trong sáng như thế mà lại có cái kết như thế, buồn lắm thay!

Nhưng đó là định mệnh, vì tôi thấy trong chuyện này, thực ra chẳng ai có lỗi cả, vì cả hai còn quá trẻ để biết YÊU LÀ GÌ, để biết yêu thì phải hy sinh cho người mình yêu. Nhưng nói ngược lại cũng đúng, cả hai cùng có lỗi, cả hai cùng để cho lòng tự ái và sự kiêu hãnh về bản thân lấn át tình yêu.

Công bằng mà nói, anh đáng trách hơn Quyên, anh có lỗi nhiều hơn Quyên, vì anh đã hai lần để Quyên ra về một mình khi trời đã tối. Nhất là lần thứ hai, khi Quyên đã chủ động quay trở lại với anh. Dù cho Quyên chỉ đồng ý nối lại tình bạn, anh không thể tiễn Quyên về nhà hay sao? Anh nói anh yêu thương Quyên, vậy tình yêu ấy không đủ lớn để anh đưa người anh yêu thương về nhà hay sao? Thú thật, là bạn anh và hiểu anh, nhưng tôi cũng khó tha thứ cho anh lỗi lầm đó, chứ còn nói gì đến người trong cuộc là Quyên nữa. Nghe anh kể Quyên phải ra về một mình mà lòng tôi thắt lại vì xót xa, tôi thương Quyên quá! Thương một người đàn bà đẹp phải chịu nỗi cô đơn như thế.

Tất nhiên bây giờ chúng ta đã có tuổi rồi nên nhìn đời có khác. Đó là lòng vị tha. Nếu lỗi lầm của anh có thể được tha thứ, ấy là vì lúc ấy anh còn quá trẻ. Tôi đồng ý với anh rằng ngày xưa tuổi 17-19 đã ra dáng người lớn, vì kiến thức sách vở đã rất người lớn, nhưng thực chất những anh chàng người lớn ấy vẫn là trẻ con, vì chưa học được những bài học từ sự mất mát và đau khổ. Con người chỉ thực sự thành người khi đã nếm mùi đau khổ, mất mát. Như anh kể, anh lại may mắn trong chuyện học hành thi cử, vì thế anh càng chậm hiểu đời, và do đó anh phạm những lỗi lầm khó có thể được tha thứ. Nhưng chính tại chỗ đó anh được tha thứ, vì anh vẫn còn là trẻ con. Thêm nữa, tôi biết rằng thực ra mọi cuộc hôn nhân tình ái đều nằm trong chữ “duyên” của nhà Phật, hoặc theo sự xếp đặt của Chúa, theo cách nói của Ki-tô giáo.

Cuộc sống này chúng ta tưởng rằng sẽ có thể tự mình lựa chọn mọi việc trên đời, nhưng thực tế thì không phải như vậy. Tất cả đều do Ông Trời quyết định, sắp đặt cả rồi! Chúng ta sống theo vô thức, chúng ta bị kéo đi, bị “cuốn theo chiều gió” mà không ý thức được rằng đó là do bàn tay vô hình của Chúa đã tác động vào, Người quyết định mọi chuyện trong cuộc đời của chúng ta. Điều đáng thương cho chúng ta, và cũng là điều thú vị của cuộc đời, chính là ở chỗ chúng ta không thể đoán trước được mọi sự, dù có bao nhiêu khoa học dự báo tương lai cũng chẳng ăn thua gì. Cuộc tình rất đẹp của anh và Quyên không đáng để tan vỡ, nhưng nó đã tan vỡ – nó tan vỡ chẳng vì một lý do nào đáng kể. Thật tiếc, thật buồn, nhưng thế mới là cuộc đời, thế mới là tình yêu, thế mới là thơ ca, thế mới là tiểu thuyết…

Tôi không cố tình thi vị hóa câu chuyện của anh, nhưng tôi cảm nhận được điều đó qua câu chuyện anh kể. Tôi trân trọng nỗi ân hận của anh lộ ra qua những con chữ, và có lẽ Quyên cũng nhận thấy điều đó. Tôi tin rằng Chúa sẽ tha thứ cho tất cả những ai biết ân hận về những sai lầm hoặc tội lỗi của mình. Vì thế, đừng buồn anh nhé. Tôi nghĩ rằng Quyên sẽ hiểu anh, sẽ tha thứ cho anh, và vẫn yêu anh, dù nàng đã ra đi.

Bạn anh, Hoàng.

Đó là một lá thư ngàn vàng. Cả đời tôi, tôi chưa bao giờ được đọc một lá thư nào sâu sắc như thế, hay như thế, hiểu tôi đến như thế.  Tạ Ơn Chúa. Cảm ơn anh Nguyễn Hoàng.

Ngày 09/04/2014, tôi cùng với Khánh Hội, em của Quyên, và hai con của Hội (con gái và con rể) đi thăm mộ Quyên và Mẹ trên Bất Bạt, Yên Kỳ, Sơn Tây.

Thăm mộ xong, lúc mọi người lên xe và xe bắt đầu chuyển bánh rời khỏi nghĩa trang, không khí hơi nặng nề, không ai nói gì, có lẽ vì lòng đều nặng trĩu nỗi thương nhớ người thân nằm ở lại nơi hiu quạnh sương gió…

Bỗng Hội lên tiếng: “Anh Hưng này dở thật, tự nhiên đi giận chị em… Nếu không, có phải bây giờ tất cả mọi người trên xe này đều là người nhà ruột thịt với nhau rồi không…”.

Tôi nhói lên trong lòng …

Xót xa …

Tôi muốn nói gì đó những nghĩ mãi không tìm được lời thích hợp.

Không ai nói gì thêm. Im lặng … Xe chạy đều đều về Hà Nội. Lời nói của Hội là một lời trách, nhưng là một lời trách làm sống lại tình cảm của tôi 60 năm trước. Trong thâm tâm tôi đã tự coi mình là người nhà trong gia đình Quyên. Tôi là bạn đời của Quyên, là anh của Hội và của Hoa, là bác của các cháu, và đặc biệt, là con của Mẹ. Điều làm tôi tin rằng Quyên và Mẹ sẽ chấp nhận tôi, tha thứ cho tôi mọi lỗi lầm, ấy là vì tình yêu thương vẫn đầy ắp trong tôi, như ngày nào tôi vẫn ngồi sát bên Quyên trên tầng thượng Nhà 87 Nguyễn Du và trong “buồng đá” nhà 52 Quán Sứ để thì thầm với nàng rằng tôi sẽ yêu nàng mãi mãi …

Tôi tin mãnh liệt vào điều đó, vì Kinh Thánh đã chép:

Tình yêu thương tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (Thư 1 gửi tín hữu Cô-rin-tô 13:7)

DJP, Sydney 09/03/2021


[1] Xem: Những kỹ sư đầu tiên của Đông Dương (First Engineers in Indochina) https://viethungpham.com/2014/09/24/nhung-ky-su-dau-tien-cua-dong-duong-first-engineers-in-indochina/

[2] Lúc ấy nhà của bố tôi ở bên cạnh Quận đội Đống Đa được quân đội mượn để dùng làm căn cứ cao xạ bắn máy bay, vì nhà rộng và có tầng thượng rộng, rất tiện lợi để quan sát máy bay. Quân đội tạm đổi cho gia đình căn nhà 111 ngoài phố Nam Đồng. Sau 1975, Quận đội Đống Đa đã trả lại nhà cho bố tôi. 

[3] https://viethungpham.com/

[4] Tên gọi hồi ấy là “Cao đẳng” nhưng thực chất là “Đại học”, học vấn còn cao hơn đại học bây giờ. Tôi dùng chữ “Đại học” để độc giả thời nay không hiểu lầm.

[5] Xem Wikipedia > Bùi Kỷ > https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B9i_K%E1%BB%B7

[6] http://thequotes.in/to-one-who-has-faith-no-explanation-is-necessary-to-one-without-faith-no-explanation-is-possible-thomas-aquinas/

14 thoughts on “Tự Truyện MỐI TÌNH ĐẦU (2)

  1. Bác…! Con gọi thế thôi có được không! Con ôm Bác một cái có được không 😭

    Đọc đến đoạn:
    “Tuy nhiên, tôi đã rất ân hận. Càng về sau tôi càng ân hận. Càng trải đời tôi càng ân hận. Ân hận vì thói hiếu thắng của mình. Ân hận vì sự ích kỷ của mình.” mà sao con thấy mình rưng rưng, con thấy hình ảnh của bản thân trong đó. Có lẽ đàn ông sẽ luôn cư xử như vậy, có lẽ đó là cố tật mà Thượng Đế đã cài đặt sẵn trong máu của tất cả hậu duệ Adam. Phàm là người càng đứng đắn, càng yêu nhiều thì cư xử lại thật ngốc nghếch, họ đã yêu đến mụ mị, và bị ý nghĩ giày vò đến tù mù ngay trong lúc chỉ cần một hành động đơn giản, là cùng nhau đạp xe về nhà…

    Đọc đến chữ cuối cùng, con xót xa nghĩ ngay đến những lời của Trịnh Công Sơn:

    “Con người sinh ra vốn bất toàn và để làm những điều lầm lỗi. Nó đẹp vì bất toàn. Nó đáng yêu vì luôn luôn lầm lỗi. Vậy thì cứ yêu mà đừng tuyệt vọng.”

    Ừ nhỉ, tình yêu luôn là vậy, phải không Bác? Nó đẹp vì dang dở, nó thiết tha vì lỗi lầm. Không ai có thể đứng lên và nói rằng làm thế nào mới đúng, và cũng chẳng ai dám tự tin nói rằng mình chưa từng sai.

    Câu chuyện của Bác thực sự khiến con thấy lòng mình khó tả quá… Tiếc quá! Đẹp quá! Huyền ảo quá! Đáng thương quá! Xót xa quá! Đáng mến quá!

    Phải chăng, tình yêu đẹp luôn luôn là thế…

    Đã thích bởi 1 người

  2. Cô giáo Thanh Thủy:
    Chúc mừng bác thật nhiều ạ. … Em vẫn nhớ bài hát Mối tình đầu của bác, đọc đến đấy tự nhiên thấy nước mắt rưng rưng. Em chúc mừng thành công của bác, …
    (comment gửi qua zalo 29/12/2021).

    Thích

  3. Bác sĩ Việt Hùng:

    Tuyệt. Rất tuyệt. Chúc mừng “Tự truyện mối tình đầu” của ông anh đa tài đa cảm
    (comment gửi qua zalo 29/12/2021).
    Có một câu “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở. Đời chỉ vui khi giữ trọn lời thề”. Mối tình đầu của Việt Hưng và Tố Quyên thật sự đẹp trong sáng … đẹp như cổ tích
    (comment gửi qua zalo 30/12/2021).

    Đã thích bởi 1 người

  4. Tiến sĩ vật lý Nguyễn Thế Hùng, Viện Vật lý Viện HL KH&CN VN:

    Anh Hưng quý mến,
    Chiều qua, ngày 28/12/2021 em có việc chờ đợi ở Thợ Nhuôm, nên mới có dịp dạo bộ quanh khu Dã Tượng, Trần Hưng Đạo, Thợ Nhuôm, Quang Trung. Có lẽ lần đầu tiên trong đời mới có dịp thong dong được dạo bộ quanh khu phố này. Dạo một mình, không vội vã, không xem đồng hồ, không nghe điện thoại, … ngắm nhìn từng gốc cây, từng căn nhà. Hôm nay đọc truyện của anh càng thấy thích, dù mấy lần được nghe anh kể về Quyên của anh, nhưng chưa bao giờ được đọc kỹ để mà hiểu kỹ. Cảm ơn anh nhiều lắm. Cái kết của câu chuyện là ta sống có Chúa, có Trời và có một thế giới khác nữa. Nhiều người, trong đó có em nữa, đang vội vã đi theo cái dòng chảy vật chất mà chưa có duyên dừng lại để mà tận hưởng cái dòng chảy vô hình. Vô hình mà quan trọng, vô hình mà là chủ đạo. Ôi biết bao giờ mới dừng lại được. Cảm ơn anh nhiều. Chúc anh lại có cái mùng 1 Tết Nhâm Dần hạnh phúc như 60 năm trước.
    Thế Hùng.

    (comment gửi qua email 29/12/2021)

    Đã thích bởi 1 người

  5. Võ Hòa Bình, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người:

    Cảm ơn anh đã chia sẻ kỷ niệm vô giá của anh cho bạn bè. Đây đúng là một món quà đẹp đón năm mới 2022. Câu chuyện làm em tin tưởng vào cuộc sống, vào tình yêu. Em nghĩ câu chuyện này rất quý và bổ ích với các bạn trẻ, vì đọc nó, các bạn trẻ sẽ hiểu được các bài học về tình yêu vô điều kiện, về sự quan tâm, nhân hậu quan trọng thế nào trong cuộc đời. Tình yêu của anh chị đã vượt qua sinh ly tử biệt. Anh là người hạnh phúc vì được chị Quyên dành tặng tình yêu duy nhất. Chắc chắn kiếp sau anh chị sẽ tái hợp và có một cuộc sống an lành, trọn vẹn bên nhau. Chúc anh và gia đình năm mới Nhâm Dần mọi sự bình an, may mắn.

    (Comment qua email ngày 30/12/2021)

    Đã thích bởi 1 người

  6. Đinh Xuân Hưng, bác sĩ Đông Y nổi tiêng, chuyên về xương khớp, hiện sống cùng vợ và 2 con tại Melbourne:

    Hôm nay mới tranh thủ đọc hết phần I của anh, anh Hưng ạ. Cảm ơn anh đã cho tôi sống lại thời của con người và tuổi trẻ trong sáng thánh thiện ngày xưa … Anh viết cuốn hút lắm, bằng tình yêu đắm say của tuổi trẻ, bằng logic của nhà toán học và bằng trí tuệ của người đa tài nên người đọc không thể dừng lại được … Tôi sẽ sớm tìm bài hát Mối tình đầu của anh để được anh sẻ chia thêm lần nữa tình yêu đầy rung cảm của anh từ ngôn ngữ của âm nhạc … Tôi sẽ cố gắng sớm đọc phần II. (Comment gửi qua Viber ngày 27/03/2021).

    Thật quý khi từng lời từng câu từng việc nhỏ của anh khi liên quan đến Quyên đều được anh nâng niu trân trọng… Hôm qua tôi nghe bài Hoa Đỗ Quyên rồi. Tôi vừa nghe bài Dòng Sông Yêu Thương. Tôi sẽ hát bài này. Bài này mới diễn tả được tình yêu sâu sắc và trường tồn của anh và Quyên. (Viber 12/05/2021)

    Một bài hát mà trước kia khi không biết mối tình của anh thì thấy nó hay vừa thôi nhưng gần đây thấy nó hay lên nhiều lắm và tôi tin chắc là nó chia sẻ được rất nhiều tình cảm êm đềm và sâu đậm của anh … Xin gửi anh … rất có thể anh đã nghe, … nếu vậy thì nghe lại nhé …

    https://www.youtube.com/watch?v=QDBtaweppdc (Viber ngày 21/06/2021)

    Nghe anh tâm sự mà thấy trĩu nặng kỷ niệm dĩ vãng… thật buồn nhưng nhuần nhụỵ và ý nghĩa quá… (Viber 21/06/2021)

    Đêm qua tôi đã đọc xong phần II câu chuyện tình huyền ảo của anh rồi anh Hưng nhé. Đọc xong tôi thật ân hận vì không hiểu sao lại dừng lại lâu vậy rồi mới đọc tiếp phần II… Tôi phải thực lòng xin lỗi anh vì nhẽ ra tôi phải đọc ngay P.II để chia sẻ được với anh nhiều hơn và sâu sắc hơn về câu chuyện tình chắc chắn là có 1 không 2 này… Anh cho tôi dùng từ “huyền ảo” vì nó đã đẹp trong cuộc sống thật nhưng lại còn đẹp hơn nữa và đáng thờ vọng hơn nữa vì đấy là tình yêu giữa 2 người ở 2 thế giới âm dương cách biệt… GS Bùi Phụng nói đúng, anh là người may mắn và hạnh phúc… GS nói câu ấy lúc Quyên đã không còn nữa, cứ tưởng như điều đó là nhận xét cho quá khứ… nhưng không phải, ông đã nói cả cho tương lai trong cuộc đời sau này của anh khi Quyên vẫn luôn ở bên anh… Đấy là hạnh phúc đích thực anh Hưng ạ. Tôi thực sự cảm động với tình yêu vĩnh cửu của anh và Quyên… (Viber 01/08/2021)

    Đã thích bởi 1 người

  7. Nguyễn Công Dzị, một nhà khoa học thủy sản, hiện sống ở Mỹ

    [Ghi chú của PVHg’s Home: Comments sau đây là của một bạn thân của tôi, Mr NGUYỄN CÔNG DZỊ, một nhà khoa học về thủy sản, hiện sống ở Mỹ với vợ và các con. Từ Mỹ, anh nhiều lần gọi ĐT cho tôi để chia sẻ về Tự Truyện. Tôi vô cùng sung sướng vì anh thực sự xúc động bởi truyện, và anh chia sẻ những cảm xúc chân thực tự đáy lòng. Nhưng tôi trí nhớ kém, nói chuyện xong rồi không thể nhớ được hết mà ghi chép lại. Nhưng thật may mắn, có một người đã giúp tôi việc đó, đó là em Hồng Hoa, vì anh Dzị cũng gọi điện cho Hồng Hoa để chia sẻ. Hồng Hoa có trí nhớ rất tốt, đã ghi chép lại rồi gửi cho tôi. Cám ơn Hồng Hoa nhiều lắm, vì những tâm sự này là tài sản tinh thần quý báu hơn vật chất. Chị Quyên chắc cũng rất biết ơn anh Dzị và em Hồng Hoa. Sau đây là những gì Hồng Hoa ghi chép được rồi gửi cho tôi qua email ngày 20/03/2021 (Tự Truyện đã viết xong tư hồi đó, tôi đã gửi cho một số bạn thân để chia sẻ, mãi tới cuối năm tôi mới công bố trên PVHg’s Home)]

    Anh Hưng thân mến,
    Tự Truyện của anh rất chân thật, vẽ lại một quá khứ Hà Nội cách đây nửa thế kỷ rất sinh động, rất THẬT, rất hay … Đặc biệt Phần II có nhiều sự kiện tâm linh rất khó tin đối với những người không có trải nghiệm, nhưng tôi tin hoàn toàn vì tôi có nhiều trải nghiệm tương tự.
    Tôi đọc Tự Truyện liền một mạch, rất cảm động, xin chia sẻ với anh vài nhận xét sau đây:

    Chị Quyên yêu anh nhiều hơn anh yêu chị ấy. Hai người bằng tuổi nhau, con gái khi còn trẻ thì phát triển sớm hơn, sớm khôn hơn con trai. Chị Quyên đến nhà anh vào ngày mùng 1 Tết là ngày thiêng liêng. Ngày xưa ngay đến anh em ruột cũng không đến nhà nhau vào ngày mùng 1, mà chỉ có con cái đến thăm bố mẹ, vậy mà chị Quyên đến nhà anh vào tối mùng 1 Tết năm Nhâm Dần 1962, nghĩa là ngầm báo cho anh thông điệp chị ấy là vợ của anh rồi đấy! Nhưng anh lại không hiểu ý của chị ấy!

    Lần thứ hai chứng tỏ chị Quyên cao thượng yêu anh hơn là lần chị ấy quay lại nhà 33 Thái Phiên để gặp anh. Chắc là mẹ chị ấy khuyên bảo. Thường con gái không bao giờ chủ động đến nhà con trai, nhất là anh và chị ấy đã giận nhau không đến thăm nhau những 2 năm rồi, vậy mà chị ấy chủ động đến như vậy thật là một việc rất lớn lao, cao thượng! Thế mà anh đã để chị ấy ra về một mình, anh sai quá …

    Vì anh còn trẻ quá mới 17 tuổi đời, lại được sống trong nhung lụa giầu sang thượng lưu từ nhỏ, nên anh không khôn đời, anh chỉ đọc và học theo sách vở nhiều thôi. Anh không hiểu được rằng anh vô cùng may mắn yêu được một người con gái xinh đẹp, tứ đại giai nhân của trường phổ thông IIIA là một hồng phúc, chị Quyên lại là người luôn vui cười và tính hồn hậu, dễ thương! Đúng là anh may mắn được Bề Trên ban tặng món quà tuyệt vời mà không nắm lấy, để tuột mất. Tiếc quá, buồn quá …

    Nhưng anh đã viết ra được Tự Truyện này như trút được nỗi lòng, giải thoát khỏi gánh nặng tội lỗi với chị Quyên và nhất là với Mẹ chị ấy, như thế cũng đỡ dằn vặt…

    Vì anh có nhiều may mắn trong hoàn cảnh gia đình và học hành nên anh có phân tự kiêu, hiếu thắng, khi chị Quyên đã đến nhà 33 Thái Phiên mà anh chỉ vì tự ái với một câu nói của chị ấy mà không chịu mềm lòng để thương chị ấy, đây là chỗ anh kém nhất, làm cho chị Quyên ra về một mình, tôi đọc truyện đến đây mà thương chị ấy quá.

    Anh lại học ngành Toán nên tư duy máy móc toán học quá, làm hỏng một cuộc tình rất đẹp. Bỏ lỡ mất một cơ hội có một người vợ vừa đẹp vừa hiền…

    Tôi đọc một hơi hết toàn bộ Tự Truyện mà không thấy mệt, vì hay quá, thật quá, đẹp quá, lãng mạn quá, nên thơ quá, nhưng cũng buồn quá, buồn da diết …

    Theo tôi, anh nên in truyện thành sách và đem một cuốn đến mộ chị ấy để hóa tại chỗ. Mặc dù chị ấy đã biết mọi điều rồi, chắc chị ấy đã tha thứ cho anh rồi, và chị ấy vẫn rất yêu anh. Nhưng anh vẫn nên tặng chị ấy tác phẩm tuyệt vời này tại mộ chị ấy.

    Công Dzị

    Đã thích bởi 1 người

  8. Vũ Tiến Đạt, GS Đại học Bách Khoa TP HCM:

    Cher Hưng,
    Tự Truyện của anh làm tôi nhớ đến bài hát “Un Adieu, Un Au Revoir” mà tôi nghe như “Một lời Vĩnh biệt, một nỗi Nhớ thương”

    Hãy lắng nghe tiếng lòng mình. Quyên biết hết đấy, bởi cô ấy vẫn đang tồn tại ở dạng linh hồn, và một ngày nào đó cô ấy sẽ trở lại. Nhưng cô ấy sẽ luôn luôn ở bên cạnh anh. (viber 27/03/2021).

    Cảm ơn anh, cảm ơn “một mối tình đẹp nhất” mà tôi được biết và ngưỡng mộ mãi mãi … Cầu Chúa ban phước lành cho anh cùng Tố Quyên nơi Thiên Chúa. Amen. (viber 17/04/2021)

    [Ghi chú của PVHg’s Home: Anh Đạt là bạn học của tôi từ thời thơ ấu ở Trường Puginier ở Hà Nội. Vì thế anh vẫn thích viết cho bạn bè bằng tiếng Pháp như một hoài niệm. Tôi đã chuyển ngữ thư của anh sang tiếng Việt như ở trên]

    Đã thích bởi 1 người

  9. TS Vũ Như Ngọc, Viện hạt nhân Đà Lạt (email ngày 06/01/2019):

    Anh Việt Hưng quý mến,
    Dù chỉ là xa cách tạm thời, vậy mà cũng thấy hụt hẫng … thiếu vắng…
    Để khỏa lấp khoảng trống thì tất nhiên nghe nhạc là tuyệt vời nhất. Mỗi sáng tôi vẫn thường nghe AVE MARIA, HAPPY NEW YEAR, và không thể thiếu HOA ĐỖ QUYÊN. Xin cho tôi có lời tạ ơn Tố Quyền vì tình yêu huyền diệu, thánh thiện của Tố Quyên đã dẫn đường cho tôi để có thể phát triển chủ đề “Mối Tình Đầu” của GS Việt Hưng một cách ngọt ngào sâu lắng.
    Xin thú thực tôi đã bị cuốn hút vào sự chia cách kỳ diệu của Tố Quyên, khiến tôi vừa viết nhạc vừa nhòa lên trên khóe mắt …
    Tôi dự định sẽ thu “Hoa Đỗ Quyên” theo thể loại concerto violin-dàn nhạc.
    Hẹn ngày gặp lại nhé. VNN

    [Ghi chú của PVHg’s Home: GSTS Vũ Như Ngọc là một nhà vật lý thuộc Viện Nghiên cứ Hạt nhân Đà Lạt, nhưng đồng thời là một nhạc sĩ có nhiều tác phẩm đã được công bố, từng đoạt một số giải thưởng. Trong quá trình cộng tác với tôi làm khoa học, chúng tôi trở thành bạn thân. Tôi kể cho anh Ngọc nghe chuyện Mối Tình Đầu của tôi, anh xúc động lắm. Tôi gửi cho anh bản Mỗi Tình Đầu của tôi, anh liền phát triển chủ đề thành Hoa Đỗ Quyên, như dưới đây:

    Tháng 03/2021 vừa qua, tôi viết Tự Truyện Mối Tình Đầu rồi gửi cho anh. Anh lại xúc động đến mức viết thành DÒNG SÔNG YÊU THƯƠNG, như sau đây:

    Trong thời gian qua, tôi nghe 2 bản nhạc về Tố Quyên gần như suốt ngày, nhiều lúc cảm thấy hay hơn bất kỳ bản nhạc nào khác … ]

    Đã thích bởi 1 người

  10. Kính gởi chú Hưng ạ,

    Đọc xong Phần I, thú thật là con đã phần nào mông lung đoán trước diễn biến tâm trạng, cảm xúc, hành động của Phần II ạ…

    Và lý do con muốn Chú post Phần II không chỉ là vì con “sốt ruột” (với cái tính tò mò cố hữu)… mà còn là vì… (con đã mạo phạm tưởng tượng như vầy ạ:) con muốn thông qua đây, chú sẽ chính thức được chữa lành phần năng lượng Thượng Đế ẩn sâu trong Chú, để Chú sẽ ascend to the Divine Source ạ.

    Và Cô ấy, dù đang ở linh giới nào, thì (con cảm nghĩ rằng) Cô cũng đã và đang gởi lại một mảnh hồn (Love = Divine Energy) ở nơi Chú rồi ạ… Các mảnh hồn với rung động thiêng liêng này đang hợp nhất lại… cùng với sự thăng lên đang diễn ra của Mẹ Trái Đất Gaia ạ.

    Giờ con tin rằng… Chú đang trải nghiệm một cảm xúc trọn vẹn… ngay tại khoảnh khắc này ạ!

    Con xin phép chia sẻ suy nghĩ trên hoàn toàn dựa theo cảm nhận từ bên trong con… như thể đó cũng là nguồn năng lượng dành cho chính con luôn ạ.

    Con kính chúc Chú mạnh khoẻ, bình an, và tận hưởng mọi cung bậc cảm xúc “sau tất cả là YÊU THƯƠNG VĨNH HẰNG” ạ.

    Kính chào Chú ạ.
    Thu Thảo

    Thích

  11. Hanoi 6/1/2022.
    Kính gửi anh Hưng.
    Câu chuyện về mối tình đầu của anh là mảnh đất màu mỡ để tôi có thể khai thác và viết thành một công trình khoa học với chủ đề: Định lý Bất toàn của K. Godel và cuộc sống nói chung và tình yêu nói riêng. Nhưng tôi chỉ xin nói ngắn gọn thế này thôi:
    Cuộc sống, tình yêu nó có hệ tiên đề, hệ khái niệm, hệ logic riêng không giống với cái ta gọi là ‘Toán học”.
    Trong nhiều tình huống của cuộc sống và tình yêu nếu ta tư duy và hành động theo lối “toán học” thì sẽ hỏng bét (!). Các nhà toán học đôi khi bị người đời cho là lập dị, hâm hâm, gàn dở … chính là với lý do như vậy.
    Tôi rất mừng là trong bài viết anh đã lờ mờ nhận ra rằng cái lối tư duy toán học đã làm hỏng cái đấu óc và lối hành xử của mình trong mối tình đầu tiên.
    Nhờ định lý của Godel mà chúng ta đã tìm ra BẢN CHÂT CỦA TOÁN HỌC, những mặt mạnh, những hạn chế của toán học và các khoa học liên quan.
    Một lần nữa chúng ta nhận thức được tầm vóc vô cùng lớn của Định lý Bất toàn đối với khoa học nhận thức của con người.
    Tôi cũng xin nhắc lại ý tưởng sau: Định lý Bất toàn của K. Godel và các hệ quả của nó là một đề tài nghiên cứu BẤT TẬN cũng giống như chủ đề về Thần học Cơ đốc giáo vậy.
    Chúc anh một năm mới sức khỏe và hạnh phúc và “rút được những bài học kinh nghiệm sâu sắc” (!).
    Người yêu cuộc sống

    Thích

  12. Cháu chào chú Hưng!
    Cháu Thành đây ạ!
    Dạo này chú và cô có khỏe không ạ?!
    Đọc Tự Truyện Mối Tình Đầu của chú (2 phần) cháu thấy hay và xúc động quá! Có lúc rơm rớm nước mắt nhưng lại là nước mắt tích cực (không ủy mị)! Lúc nào cháu cảm thấy xuất hiện nhiều năng lượng tiêu cực thì đọc những bài của chú cháu lập tức được khỏe lên rõ ràng! Bài của chú đầy ắp những năng lượng được Chúa ban cho! Cháu luôn hãnh diện được làm học trò của chú một thời ở 33 Thái Phiên, nên cháu có một chút hoài niệm trong câu chuyện của chú!
    Xin Chúa ban Phước lành lên chú và gia đình!
    Cháu, Đặng Đình Thành

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s