Tự Truyện MỐI TÌNH ĐẦU (1)

Nếu có một cuộc tình say đắm, trong sáng, thơ ngây, yêu hết mình, để rồi tan vỡ, ân hận, luyến tiếc, thì đó là Mối Tình Đầu của tôi, diễn ra đúng 60 năm trước. Nhưng mối tình ấy bỗng nhiên được nối lại theo một cách thức kỳ lạ mà các nhà văn và tâm lý học không thể giải thích được. Đó là câu chuyện hôm nay tôi kể cho các bạn nghe…

Có một thời trai trẻ, những năm 1970, tôi thường ôm guitar say sưa hát một bài hát ………

Có một thời trai trẻ, những năm 1970, tôi thường ôm guitar say sưa hát một bài hát tiếng Pháp với những ca từ sau đây cho bạn bè nghe:

“Mắt trong mắt, Tay trong tay, Họ yêu nhau, Không cần biết ngày mai …”

Đó chính là Mối Tình Đầu của tôi và Quyên – một tình yêu trong sáng, đẹp đẽ, tràn ngập yêu thương và yêu đương, để rồi …

tan vỡ,

ân hận,

nhớ thương …

Vào lúc nỗi nhớ dày vò tôi đến nỗi mất ăn mất ngủ, tôi bật ra một câu hát:

Ngày thiếu niên năm nào,

ngập trong phút giây vui đùa,

vờn theo ước muốn ngây thơ.

Ngày thiếu niên năm nào

đời trong giấc mơ êm đềm,

hồn nhiên với duyên tình đang chờ …

Rồi một hôm gặp bóng

yêu kiều tôi mang trìu mến,

trong lòng như đã vương vấn…

tình yêu …

Mối tình đầu

người thân yêu đến với đôi môi, nụ cười.

Mối tình đầu,

đời ta tươi thêm ánh mặt trời …

Người yêu ơi thầm nhớ,

bên đàn tim ta sầu lắng

 tâm tình bên nhau nay thấy….

còn đâu …”

Nỗi nhớ thương ấy kéo dài mãi cho tới hôm nay, thôi thúc tôi kể lại câu chuyện này, một phần vì đó là một kỷ niệm đẹp, một TÌNH YÊU TRONG SÁNG, phần khác, vì những sự kiện lạ lùng khi tình yêu được “kết nối trở lại”!

Vâng, Quyên đã “trở lại” để gặp gỡ tôi theo một cách vượt quá sức tưởng tượng của các nhà thơ, nhà văn, vượt quá khả năng phân tích của tâm lý học hay bất cứ một thứ khoa học nào khác mà chúng ta có thể biết.

Sự “trở lại” của Quyên, mà tôi sẽ gọi là NHỮNG CUỘC TÁI NGỘ KỲ LẠ, là phần sau của câu chuyện, chứa đựng những sự kiện lạ lùng mà có thể rất nhiều người sẽ không tin, nhưng nhiều người khác lại muốn nghe.

Tôi đã lật đi lật lại câu chuyện này không biết bao nhiêu lần, không biết có nên kể ra cho mọi người nghe hay không. Nhưng hôm nay tôi quyết định kể, bởi nhiều bạn bè khuyến khích tôi, rằng sự thật có sức mạnh tự thân, hãy để nó nói lên tiếng nói của nó, còn quyền phán xét là của mỗi cá nhân.

Vâng, đã kể thì phải kể từ đầu chí cuối… Toàn bộ câu chuyện có thể chia làm hai phần:

  • Phần I: Tình yêu trong sáng.
  • Phần II: Những cuộc tái ngộ kỳ lạ.

Tôi không phải nhà văn nên không biết hư cấu, không biết sáng tạo nhân vật, xếp đặt câu chuyện theo trí tưởng tượng để dẫn dắt độc giả theo một ý muốn chủ quan nào đó. Tôi chỉ có sự thật để kể, như một cách thể hiện tình yêu thương không bao giờ mất đi đối với Quyên, đồng thời cũng là một cách chuộc lỗi với Quyên, vì tôi đã có nhiều lỗi với nàng mà không có cách nào chuộc lại, ngoài cách viết những dòng này.

 

 

Lần đầu gặp gỡ

 

Nàng là Bùi Tố Quyên, cháu nội của cụ Bùi Kỷ, và là em họ của Giáo sư Bùi Phụng. Tuy nhiên, khi tôi gặp Quyên lần đầu, rồi si mê nàng, tôi không hề biết lai lịch gốc gác của nàng. Cuộc gặp đầu tiên ấy, hay đúng hơn, lần đầu tiên tôi trông thấy Quyên, chỉ là một cuộc gặp hoàn toàn ngẫu nhiên. Nhưng càng về sau tôi càng nhận ra rằng trên đời này chẳng có cái gì là ngẫu nhiên cả – ngẫu nhiên chỉ là một sự cố mà ta không biết nguyên nhân, nguồn gốc, nhưng thực ra nó nằm trong một “chương trình” nào đó của Ông Trời mà ta không thể đoán trước được. Đó là cái “duyên Trời định”, hoặc “định mệnh”.

Có thể độc giả không sẵn sàng đồng ý với tôi như thế, nhưng hy vọng khi đọc hết toàn bộ câu chuyện này, bạn sẽ đồng ý với tôi.   

Sự cố ngẫu nhiên khởi đầu câu chuyện giữa tôi và Quyên diễn ra trong dịp học sinh trường tôi, Trường Phổ thông Cấp IIIA Hà Nội, về nông thôn giúp nông dân gặt mùa. Trên đường đi từ cánh đồng về sân phơi lúa, một nhóm con trai chúng tôi đang trò chuyện sôi nổi với nhau bỗng im bặt, tất cả đều hướng mắt vào một nhóm con gái lớp dưới đang đi ngược chiều cười nói ríu rít. Trong nhóm ấy nổi bật lên một nữ sinh cao lớn hơn hẳn so với bạn bè cùng lứa. Ôi, một bông hoa đồng nội rực rỡ, nếu có thể ví von như thế. Khuôn mặt nàng thật xinh xắn, hay đúng hơn, thật đẹp, tươi tắn, một phần nhờ đường nét cân đối Trời cho, phần khác vì nụ cười rạng rỡ mà ngay từ buổi đầu tôi đã chú ý. Mái tóc dày buông xõa hai vai, tấm thân đầy đặn khỏe mạnh, nở nang căng đầy nhựa sống được “tạo hình” nổi bật trong chiếc áo sơ mi mầu xanh cổ vịt bó sát. Thời buổi ngày nay thiên hạ tôn sùng vẻ đẹp “dây”, mảnh mai, nhưng ngày xưa, thời chúng tôi, người ta tôn sùng vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu. Tôi cho rằng thời đại của chúng tôi khôn ngoan hơn, bằng chứng là các bức tượng phụ nữ mà tôi từng mê mẩn chiêm ngưỡng quanh Nhà hát Opera ở Paris hay trong Bảo tàng Louvre … đều đẹp theo kiểu kinh điển, đầy đặn, phúc hậu. Ôi, vẻ đẹp đầy sức sống no tròn của Quyên làm cho bọn con trai chúng tôi hôm ấy choáng váng! Nếu đàn bà là tác phẩm đẹp nhất do Thượng Đế tạo ra thì nước da trắng hồng và thân hình nở nang thắt đáy lưng ong của Quyên làm cho nàng trở thành một trong những biểu tượng mẫu mực của đàn bà. William Shakespeare nói “Vẻ đẹp nằm trong mắt của kẻ ngắm nhìn” (Beauty is in the eye of the beholder)[1], nhưng tôi nói KHÔNG! Bất cứ ai trông thấy Quyên cũng sẽ phải thốt lên “đẹp quá!”. Đúng như vậy đấy, tôi ngây người ngắm nhìn Quyên mãi đến khi bị bạn bè thúc vào sườn “đi đi!”.

Đêm ấy tôi mất ngủ, trằn trọc mãi với câu hỏi “làm thế nào để quen nàng?”. Trong trường hợp này, người Anh nói rất hay: “I fall in love”, tiếng Việt thường dịch ra là “tôi đã yêu”, nhưng tôi thích dịch từng chữ, “Tôi rơi vào tình yêu”, như thế mới đúng với tình trạng của tôi lúc đó. Kể từ lúc ấy, tôi ao ước có nàng trong cuộc đời!

Ai không tin vào số mệnh thì đó là việc của họ, còn tôi, tôi tin, vì tôi gặp may quá nhiều trong việc làm quen với Quyên.

Cái may đầu tiên là tôi được thầy giáo chủ nhiệm giao cho việc giữ sổ điểm của lớp. Việc này không ngờ lại giúp tôi dễ dàng biết được nhiều thông tin về Quyên. Đây nhé.

Trước hết, quá dễ để tôi biết Quyên học lớp nào, và cũng dễ dàng để biết địa chỉ của Quyên: tan học tôi đi theo nàng về nhà, nàng đi trên hè đường bên này thì tôi đi trên hè đường bên kia, đến khi nàng vào nhà thì tôi quay về nhà mình. Cuối mỗi buổi học tôi phải mang sổ điểm lên văn phòng nhà trường. Tại đó có sổ điểm của tất cả các lớp. Mở sổ điểm lớp của Quyên ra, dò theo địa chỉ, lập tức tôi biết tên tuổi và tình hình học tập của Quyên. Cụ thể, Quyên nổi trội môn văn, trong khi môn toán thì trung bình. Ô, thế thì tôi sẽ là một trợ thủ đắc lực của Quyên, vì toán là điểm mạnh của tôi. Tôi quyết định sẽ đến nhà Quyên, xin phép kết bạn đàng hoàng, và tôi sẽ giúp đỡ Quyên trong học tập!

Nghĩ như vậy, lòng tôi mừng khấp khởi. Cánh cửa tình yêu, à không, cánh cửa của thế giới lung linh mơ mộng mở rộng ra trước mắt tôi. Lòng tràn đầy hy vọng xen lẫn một chút thấp thỏm lo âu – lo âu vì nhỡ bị nàng từ chối thì sao … Nhưng nỗi khao khát tình yêu lúc ấy đã cháy bùng lên trong tôi, giúp tôi dũng cảm thực hiện kế hoạch…

Vào một tối Thứ Hai cuối Tháng 08 năm 1961, khoảng 7 giờ, tôi đã đến Nhà 87 Nguyễn Du, xin được gặp Quyên. Lạy Chúa, tôi may mắn làm sao: Quyên đã tiếp đón tôi rất vui vẻ ngay sau những lời chào hỏi đầu tiên. Chúng tôi nói chuyện về học hành, về chuyện tôi có thể giúp đỡ Quyên trong học tập …  Kết thúc cuộc gặp, Quyên hẹn Chủ nhật cuối tuần sẽ đến thăm tôi.

Ôi, tôi muốn cám ơn Quyên, muốn cám ơn trời đất vì mọi việc tiến triển thuận lợi quá, nhưng tôi chỉ để ý nghĩ đó trong bụng, không nói ra, vì cho tới lúc đó tôi chưa dám tin hoàn toàn vào may mắn của mình. Việc Quyên hẹn sẽ đến thăm tôi vẫn chỉ là một lời hẹn, một sự kiện ở thì tương lai, chưa có gì để tôi tin chắc rằng nàng sẽ giữ lời hẹn. Tâm trạng của tôi lúc ấy lẫn lộn vui mừng, hy vọng với lo âu – liệu Quyên có đến thăm tôi thật hay không? Chỉ có Chúa biết!

Nhưng đúng là số tôi may mắn: ba ngày sau, lần đầu tiên Quyên đến thăm tôi tại Nhà 52 phố Quán Sứ Hà Nội.

Phép lạ nào làm cho tôi may mắn như thế? Nhà Phật bảo đó là Duyên. Ki-tô giáo bảo đó là kế hoạch của Chúa. Khoa học bảo đó là biến cố ngẫu nhiên… Với tâm lý của một kẻ đang chờ đợi tín hiệu của tình yêu như tôi, biến cố ngẫu nhiên ấy có xác suất rất thấp.

Nhưng biến cố có xác suất rất thấp ấy đã xảy ra. Cái gì làm cho một sự kiện có xác suất rất thấp có thể xảy ra chỉ trong một phép thử, giống như quay vòng roulette chỉ một lần mà trúng ngay độc đắc? Đó là điều khoa học không thể giải thích được. Vì thế, dù khoa học có phát triển đến đâu đi chăng nữa cũng sẽ không bao giờ loại trừ được khái niệm may / rủi trong đời sống. Nói như thế để biết tôi may mắn như thế nào.

Bắt đầu từ đấy, cuộc đời của chúng tôi giống như một con thoi dao động giữa hai ngôi nhà: 87 Nguyễn Du – 52 Quán Sứ.

Các bạn trẻ ngày nay có điện thoại thông minh, các bạn không “khổ sở” như chúng tôi, phải đi bộ dao động liên tục giữa hai ngôi nhà ấy. Nhưng thực ra các bạn không sung sướng bằng chúng tôi, vì chính những giờ phút dao động như con thoi ấy làm cho cuộc đời chúng tôi bay bổng lên tầng trên của cõi nhân gian, nơi được gọi là Thiên Đường, hay cõi Thiên Thai.

Tôi nhớ Prosper Mérimée viết trong truyện “Colomba” của ông một câu ca của dân đảo Corse đại ý rằng “nếu anh đến cánh cổng Thiên đàng mà không thấy em ở đó thì anh cũng sẽ đi ra chẳng ở lại đấy làm gì”. Tuy nhiên tôi không bao giờ bị rơi vào tình trạng của anh chàng đảo Corse, vì tôi và Quyên luôn luôn có nhau trong suốt một năm trời.

Vâng, trong suốt một năm trời, không ngày nào chúng tôi không gặp nhau, và không ngày nào gặp nhau dưới hai lần. Buổi sáng đi học. Buổi trưa tôi đến nhà Quyên, rồi đưa Quyên đến tổ đan len. Hồi ấy đan len là một nguồn thu nhập quan trọng của nhiều gia đình Hà Nội. Áo len là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành thương nghiệp Việt Nam. Quyên và mẹ Quyên là những nghệ nhân đan len cừ khôi. Sau đó tôi ra Thư viện Quốc gia ở phố Tràng Thi đọc sách, học bài. Đó chính là giai đoạn tôi ngốn ngấu những bộ sách khổng lồ như “Sông Đông êm đềm” của Mikhaïl Cholokhov, “Những người khốn khổ” của Victor Hugo, “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tolstoy… Chiều tối, Quyên đến nhà tôi, hoặc tôi đến Quyên. Không cần phải hẹn hò, vì nhu cầu có mặt bên cạnh nhau là nhu cầu bức thiết và tự nhiên của cả hai – cả hai tự động biết ý nhau, biết chương trình sinh hoạt của nhau. Mỗi buổi tối chúng tôi ngồi với nhau hầu như trọn vẹn cả buổi. Thường từ 7 giờ đến 10 giờ tối. Chuyện trò thủ thỉ, yêu thương, yêu đương… không bao giờ hết chuyện. Nhiều lần tôi đến Quyên, lúc ra về Quyên lại đưa tôi về nhà, rồi tôi lại đưa Quyên về… Chúng tôi không muốn rời xa nhau nửa bước. Hai linh hồn hòa nhập làm một.

Một buổi trưa trên đường đưa Quyên đến tổ đan len, chúng tôi đi qua một đám thanh niên đang tụ tập trước cửa một ngôi nhà trên phố Nguyễn Du, tôi nghe thấy tiếng xì xầm từ đó phát ra: “Đẹp như tài tử điện ảnh ấy nhỉ”. Tôi biết họ nói về Quyên, tôi cảm thấy sung sướng tự hào lắm. Tôi quay sang nhìn Quyên, nàng đẹp thật. Quyên cười mỉm. Nghĩa là Quyên cũng nghe thấy và biết người ta đang nói về mình. Phải chăng người đàn bà càng đẹp hơn khi biết chắc rằng mình đẹp? Phải chăng niềm tự tin làm cho con người đẹp hơn? Tiết trời mùa thu hôm ấy làm má Quyên càng hồng lên, gió làm mái tóc bồng bềnh hơn… dưới góc nhìn của tôi lúc ấy Quyên đẹp như một bức chân dung hội họa do một họa sĩ bậc thầy vẽ ra. Họa sĩ ấy là Đức Chúa Trời! Không biết đàn ông khác thì thế nào, còn tôi, tôi phải thú nhận rằng tôi rất tự hào khi sóng đôi với một người đẹp như Quyên – tự hào vì một “tài tử điện ảnh” làm bao nhiêu đàn ông mong ước ấy THUỘC về mình!

Hạnh phúc của tôi được nhân lên gấp bội khi tôi được cả nhà Quyên quý mến. Mẹ Quyên yêu thương con cái nên Mẹ cũng coi tôi như con. Thêm nữa, tôi lại là người đàn ông duy nhất xuất hiện trong gia đình Quyên hồi đó. Bố của Quyên đi Saigon làm việc cho một công ty của Pháp từ những năm 1945-46. Đến 1955, ông không thể trở ra Bắc được, vì đất nước đã chia đôi sau Hiệp nghị Genève. Mẹ Quyên ở cùng ba người con gái, Quyên là lớn nhất. Em dưới Quyên là Hội. Em út là Hoa. Mỗi lần thấy tôi đến là bé Hoa chạy ra đón, reo lên: “Anh Hưng…”.

Đã mấy chục năm rồi tôi không có dịp nào lên lại gác ba nhà 87 Nguyễn Du, nơi chứng kiến những ngày tháng trong mơ của tôi và Quyên, nhưng tôi vẫn nhớ như in kiến trúc của ngôi nhà, đến mức có thể vẽ lại được. Nhà chính của bốn mẹ con Quyên nằm ở phía mặt phố. Cửa sau mở ra sân thượng phía sau. Sân thượng này rất rộng. Bản thân sân thượng này lại có hai cấp. Tôi và Quyên thường hay ngồi với nhau ở bậc phân cấp ấy, nhìn sang sân thượng các nhà xung quanh và rủ rỉ tâm sự trong tình yêu thương bất tận. Chúng tôi có một nghìn chuyện để tâm sự. Thỉnh thoảng nghe thấy một giọng hát vang lên từ nhà bên cạnh. Sau này được biết đó là tiếng hát của ca sĩ Trọng Nghĩa, một cựu giảng viên Đại học Bách khoa, rồi cựu Giám đốc Đoàn ca múa Hà Nội. Tôi nhắc lại những chi tiết này ở đây để lấy nó làm chứng cho mối tình của chúng tôi. Điều làm tôi sung sướng hạnh phúc nhất là tính tình luôn vui vẻ của Quyên, tính chân thật giản dị của Quyên, bản chất nồng nàn, nhân hậu của Quyên. Tất cả hiện lên ở một người đàn bà đẹp luôn luôn có nụ cười trên môi.

Hỡi các bậc đàn ông, đó có phải là điều may mắn nhất mà một người đàn ông có thể có trong đời không, nếu người đàn bà ấy thuộc về mình? Còn gì đẹp bằng một người đàn bà đẹp có tâm hồn đẹp?

Tất nhiên hồi ấy tôi chưa đủ khôn, đủ từng trải để biết rằng mình gặp may quá lớn, mình đang được sống những ngày tột đỉnh của hạnh phúc. Với bản chất hồn nhiên, tôi nghiễm nhiên thụ hưởng cái hạnh phúc Trời ban ấy, chưa ý thức được rằng mình đang được hưởng một thứ hạnh phúc bậc nhất mà Romeo và Juliet phải trả một giá rất đắt mới có thể có! Bạn ơi, bạn sẽ không bao giờ thực sự đạt tới hạnh phúc nếu bạn không ý thức được rằng bạn đang hạnh phúc! Đó là bài học sâu sắc nhất mà mãi sau này tôi mới vỡ ra được, sau khi những hạnh phúc đẹp đẽ nhất bị tan vỡ.

Nhưng mặc dù vậy, chúng tôi đã sống với nhau một năm tròn tràn đầy niềm vui và tiếng cười, tràn đầy những gì được coi là sung sướng nhất trên đời… kể từ ngày bắt đầu nói với nhau mấy chữ “tôi yêu mình” cho đến ngày giận nhau rồi chia tay! Suốt trong một năm tròn ấy, chúng tôi không hề giận nhau, không hề cãi cọ nhau vì bất cứ điều gì, thậm chí không hề nẩy sinh bất đồng về bất cứ điều gì, không hề có điều gì không bằng lòng với nhau.

Tôi không thích kể về những cái hôn ngọt ngào, những cái ôm nồng nàn … vì những cái đó là hệ quả tất yếu của mọi tình yêu đích thực và trọn vẹn.

Honoré de Balzac từng nói: “Một tình yêu chỉ có thú vui thể xác sẽ không phải là tình yêu đích thực; một tình yêu không có thú vui thể xác sẽ là một tình yêu không trọn vẹn”. Tình yêu của tôi và Quyên là một tình yêu vừa đích thực vừa trọn vẹn.

Những gì người nghe có thể tự suy đoán được thì tôi không có hứng thú để kể. Tôi thích kể những gì mà ngay cả một nhà văn giỏi nhất cũng không dễ gì có thể hình dung được. Chẳng hạn như sự kiện Quyên đến thăm tôi lần đầu tiên…

 

Quyên đến thăm tôi lần đầu tiên

 

Khi tôi kể chuyện “Quyên đến thăm tôi lần đầu tiên” cho một người bạn nghe, anh ấy cười bảo: “Tiêu đề câu chuyện của anh làm tôi nhớ đến bài hát Em đến thăm anh một chiều mưa của Tô Vũ, vì hai cái tiêu đề ấy nghe giống nhau quá”. Tôi trả lời: “Liên tưởng của anh có phần đúng đấy. Tô Vũ hạnh phúc thế nào khi người yêu đến thăm ông một chiều mưa thì tôi cũng hạnh phúc thế ấy khi Quyên đến thăm tôi lần đầu tiên. Chỉ khác là hôm Quyên đến không phải một chiều mưa, mà là một buổi tối Thứ Năm cuối Tháng 8 năm 1961, khi mùa hè đã nguội bớt và bắt đầu thoang thoảng gió thu – thời điểm lãng mạn nhất trong năm”.

Cho tới hôm ấy, tôi và Quyên vẫn xưng hô với nhau bằng tên, chưa dám xưng hô “anh” và “em”. Thậm chí thói quen này được giữ mãi về sau, vì hai đứa cùng tuổi. Chữ “anh” và “em” đối với chúng tôi đắt như vàng, chỉ dùng trong những khoảnh khắc yêu thương và yêu đương lên đến tột đỉnh – những khoảnh khắc không biết làm thế nào để bày tỏ tình yêu rõ hơn tôi mới xưng với nàng bằng “anh” và gọi nàng bằng “em”. Nói cách khác, chữ “anh” và “em” rất thiêng liêng, chúng tôi chỉ sử dụng vào lúc yêu đương thiêng liêng nhất. Lúc ấy khái niệm “tan biến vào nhau” là có thật! Nhạc sĩ Tô Vũ cảm thấy sự kiện “Em đến thăm anh một chiều mưa” thơ mộng bao nhiêu thì tôi cũng cảm thấy sự kiện “Quyên đến thăm tôi lần đầu tiên” thiêng liêng thế ấy. Tôi muốn nhấn mạnh chữ “thiêng liêng”, bởi đó là lần đầu tiên tôi biết rõ rằng tôi được yêu.  

Nhà tôi đông anh em trai. Tôi là thứ năm. Hôm ấy tôi đang ngồi bên một chiếc bàn học rất rộng để viết Thiếp Mời Sinh Nhật cho anh Nghi, một bạn học của anh Long, anh thứ hai của tôi. Anh Nghi đến chơi rồi nhờ tôi viết, vì tôi chữ đẹp. Lúc ấy mấy anh em chúng tôi đang tụ tập trong “buồng đá”, một căn buồng trên gác hai Nhà 52 Quán Sứ, có hai cửa sổ, một trông ra mặt phố, một trông sang nhà 50. Căn buồng này có cái tên đặc biệt như thế vì nó là buồng duy nhất trên gác hai được lát đá men trắng, trong khi các buồng khác đều lát gỗ lim đen nhánh. Tôi phải giới thiệu rõ căn buồng này vì đó là một “chứng tích” ghi lại những kỷ niệm đẹp nhất của tôi và Quyên trong suốt một năm trời yêu thương và yêu đương mặn nồng.

Lúc tôi đang nắn nót viết từng chữ trên thiếp mời thì một người giúp việc chạy lên báo tin: “Chú Long xuống nhà có bạn gái đến chơi”. Mấy anh em nhìn nhau, nhớn nhác… vì chưa từng có “hiện tượng” nào như thế xảy ra trước đó – chưa ai trong mấy anh em trai nhà tôi có bạn gái đến chơi trước đó. Anh Long vội chạy ngay xuống… nhưng loáng một cái đã chạy lên, gọi tôi: “Hưng, mày xuống đi, bạn gái của mày đấy!”. Ô, thì ra người giúp việc nhầm tưởng đó là bạn gái của anh Long, có lẽ vì người này nghĩ anh Long là người lớn mới có bạn gái, còn tôi vẫn bị coi là “chưa thực sự lớn”, nếu không phải là trẻ con, mặc dù đã bước vào tuổi 17.

Chỗ này phải dừng lại một chút để “thanh minh” với các bạn trẻ: hồi ấy 17 tuổi, học sinh lớp cuối trung học, được coi là người lớn chững chạc lắm rồi, và thế hệ chúng tôi cũng tự coi mình là người lớn rồi. Quả thật cách suy nghĩ, ứng xử của học sinh lớp cuối trung học hồi đó đã ra dáng người lớn lắm rồi. Tại sao? Vì kiến thức được học và được đọc đều là kiến thức rất người lớn. Toán học thì học vi phân, đạo hàm, vô cùng lớn, vô cùng bé, phép tính giới hạn… Vật lý thì học lý thuyết điện từ, thuyết lượng tử ánh sáng… Hóa học thì học hóa hữu cơ. Văn chương thì phân tích thơ ca của những nhà văn, nhà thơ lớn. Sách đọc ở thư viện càng người lớn hơn nữa, như tôi đã kể ở trên. Đó là chưa kể đến những bộ Bách khoa Toàn thư bằng tiếng Pháp chất hàng dài trong các kệ sách bằng gỗ lim đen nhánh, mỗi bộ vài chục quyền dày cộp, khổ lớn. Đó là loại sách làm tôi mê mẩn, vì nó chứa đựng cả một kho tàng tri thức vĩ đại – cả thế giới nằm trong đó. Với một đống kiến thức như thế tôi chẳng xứng đáng làm người lớn ư? Tôi dám khẳng định rằng trẻ con sẽ không bao giờ thực sự hiểu được những kiến thức tôi vừa liệt kê ở trên, dù cho những trẻ con đó có thể thi đỗ điểm cao. Nhất là những tiểu thuyết khổng lồ của các tác giả lớn, trẻ con sẽ không hiểu gì cả, nếu chúng không biết rung động, không biết yêu, hoặc chưa biết yêu. Ngày nay nhiều người lớn cũng chưa hề biết đến “Chiến tranh & Hòa bình” hoặc “Sông đông êm đềm” … chứ nói gì đến trẻ con.

Còn âm nhạc thì sao? Hồi ấy tôi đã say mê “Tristesse” (Nhạc Buồn) của Chopin, “Rêverie” (Mộng mơ) của Schumann, “Rêve d’Amour” (Giấc mộng Tình ái) của Franz Liszt, “Serenade” (Chiều tà) của Schubert … không kể những ca khúc “tiền chiến” đẹp mê hồn mà anh em chúng tôi thuộc làu từ thời Pháp.

Cái “phông” văn hóa ấy đã sớm biến chúng tôi thành người lớn từ thủa 16-17, và do đó sự kiện tôi rung động trước vẻ đẹp của một người con gái hoàn hảo như Tố Quyên là lẽ tất yếu. Gặp người đẹp như Quyên mà dửng dưng không rung động mới là điều lạ.

Vì thế, mấy tiếng anh Long thông báo, “bạn gái của mày đấy!”, làm tim tôi đập mạnh. Tôi sững sờ sung sướng, biết ngay là Quyên chứ không thể là ai khác được nữa. Tôi vội vã rời khỏi bàn học, chạy nhanh ra khỏi phòng, lao xuống các bậc thang ba bậc một, ba bậc một…  vừa chạy vừa kịp nghĩ nhanh trong đầu: “Ôi, sao Quyên đến sớm thế? Hôm trước Quyên hẹn Chủ Nhật cuối tuần mới đến cơ mà? Vậy là Quyên đến sớm hơn hẹn những 3 ngày!”

Đây là một thông điệp rõ ràng của tình yêu! Đó là điều tôi mong mỏi!

Tôi không biết mô tả thế nào cho chính xác cái sung sướng ấy, nhưng chắc chắn đó là một trong những khoảnh khắc hạnh phúc nhất đời tôi. 

Còn gì sung sướng hơn, hạnh phúc hơn khi người mình yêu gửi tới một thông điệp rõ ràng rằng “Em bằng lòng yêu anh đấy”, khi mình đang từng ngày từng giờ chờ đợi cái thông điệp đó?

Ôi, lần đầu tiên tôi có bạn gái đến chơi trong đời! Đó là ngày hạnh phúc bất tận! Mark Twain nói: “Có hai ngày trọng đại nhất trong đời người, đó là ngày bạn sinh ra và ngày bạn biết tại sao”. Không, tôi nghĩ, còn một ngày thứ ba nữa: ngày bạn biết rằng bạn được yêu bởi một người mà bạn si mê. Tại sao?

Bởi “Tình yêu vĩnh cửu là sự thật duy nhất. Mọi thứ còn lại chỉ là ảo ảnh[2]. Ai nói thế? David Icke. Ông này không phải nhà văn, mà sao nói còn hay hơn nhà văn vậy. Icke giúp tôi hiểu được vì sao Chúa Jesus dạy các môn đệ của Ngài rằng Đạo của Ngài là Đạo yêu thương. Tất nhiên Đạo yêu thương của Chúa lớn lắm, rộng lắm. Nhưng tình yêu trai gái là một trong những biểu hiện rõ nhất của Đạo yêu thương mà Chúa nói. Nói cách khác, tình yêu trai gái là một trong những hạt giống của Đạo yêu thương. 

Quả thật, đời người có nhiều thứ hạnh phúc khác nhau, nhưng liệu có hạnh phúc nào bằng hạnh phúc yêu thương?

Tôi từng có hạnh phúc của một học trò thi cử xuất sắc. Tôi từng đoạt huy chương học sinh giỏi môn vật lý. Tôi từng biết cái hạnh phúc khi bài báo đầu tiên trong đời được đăng trên một tờ báo lớn. Tôi từng đoạt Giải thưởng báo chí ít nhất hai lần. Tôi từng biết thế nào là hạnh phúc của một tác giả khi có cuốn sách đầu tiên được xuất bản. Tôi từng sung sướng ngây ngất khi nhận được những bình luận, những comments chạm tới những dây thần kinh nhạy cảm nhất của con người. Tôi từng nhận được những lá thư của một tạp chí ở Úc dành cho tôi những lời vàng ngọc quý giá hơn mọi thứ bằng cấp. Tóm lại, tôi từng có những hạnh phúc khó quên, nhưng không có hạnh phúc nào giống cái hạnh phúc Quyên đến thăm tôi lần đầu tiên. Đó là một sự kiện làm tôi choáng váng! Tôi không ngờ tôi được Quyên dành cho tôi một sự ưu ái vượt mức mong đợi như thế.

Quyên đang đợi ngoài cổng. Sau lời chào hỏi vui như Tết của cả hai, tôi đưa Quyên lên gác hai, nơi anh em chúng tôi đang tụ họp. Mọi người và Quyên chào hỏi xã giao nhau rồi anh em tôi lần lượt ra khỏi phòng, nhường cho tôi chuyện trò riêng tư với Quyên.

Độc giả của tôi ơi, các bạn đoán xem điều gì đã xảy ra. Tính đến hôm nay, sự kiện ấy đã lùi vào dĩ vãng tròn 60 năm, nhưng khi tôi kể đến đây, hình ảnh Quyên hôm ấy đang hiện ra trước mặt tôi cứ như hôm qua vậy.

Bạn hãy nhắm mắt lại, đừng đọc nữa, thử đoán xem điều gì đã xảy ra. Thôi, tôi tiết lộ nhé.

Im lặng………….

Im lặng. Và im lặng kéo dài. Sao hôm đầu tiên tôi đến Quyên, tự giới thiệu về mình và nói lý do mình đến… thì tôi hoạt bát thế, vậy mà hôm Quyên đến, tôi lại không biết nói gì cả? Tất nhiên Quyên chờ đợi tôi nói, ít nhất là một câu hỏi, nhưng tôi không nói gì cả, không hỏi gì cả. Tôi chỉ sung sướng, cứ nhìn Quyên mà thấy sung sướng… Nàng đẹp không sao nói cho hết. Nàng là cái hoàn hảo mà tôi từng thấy trong đời!

Nếu hình ảnh Quyên trong chiếc áo sơ-mi mầu xanh cổ vịt hôm đầu tiên tôi gặp ở nông thôn đẹp 10 thì hôm nay đẹp 12! Vì hôm nay Cái Đẹp ấy ở ngay bên cạnh tôi, thuộc về tôi. Hỡi các nhà tâm lý học, hãy giải thích cho tôi biết tại sao “Cái Đẹp thuộc về tôi” lại khác và đẹp hơn Cái Đẹp ở ngoài kia?

Tôi biết là phải nói gì đó, nhưng nghĩ mãi không ra, không biết nên bắt đầu như thế nào. Hỏi thăm xã giao thì vô duyên, nhưng nói điều muốn nói thì hồi hộp quá, cảm động quá, sung sướng quá nên chưa biết chọn từ ngữ chính xác nhất để nói. Tôi là dân toán, học toán và làm toán nhiều nên thích sự chặt chẽ, chính xác. Mấy chữ “Anh sung sướng quá, Anh yêu Em…” là chính xác nhất, nhưng lúc ấy tôi còn quá non nớt để nói ra câu nói đơn giản ấy.

Hôm đầu tiên tôi đến Quyên, tôi vẫn gọi Quyên là “chị” và xưng “tôi”. Tôi rất ghét thói xuồng xã, đặc biệt trong cách xưng hô, nên đối với người tôi yêu, tôi thích xưng hô thể hiện sự tôn trọng hoặc trân trọng. Nhưng Quyên gạt đi mà nói, “Đừng thế, đừng gọi Quyên là chị xưng tôi như thế. Cứ gọi nhau bằng tên đi”. Tôi chuyển sang xưng hô bằng tên. Vậy bây giờ, khi Quyên đến thăm tôi, tất nhiên tôi vẫn xưng hô bằng tên khi gặp Quyên ở cổng. Nhưng khi được ở riêng hai đứa trong “buồng đá”, tôi muốn nói điều gì đó thân thiết hơn, tình cảm hơn, nhưng lại không đủ dũng cảm để nói… Đó là lý do của sự im lặng. Im lặng một cách vô duyên và kéo dài.

Tất nhiên cái gì cũng có giới hạn của nó, kể cả sự im lặng. Cuối cùng thì ngôn ngữ của tình yêu cũng lên tiếng. Không phải là tiếng Việt. Không phải tiếng Anh. Không phải tiếng Pháp. Không phải tiếng Nga… mà là “mắt trong mắt”, “tay trong tay”, đúng như lời bài hát tiếng Pháp đã nói ở phần mở đầu câu chuyện:

“Mắt trong mắt, Tay trong tay, Họ yêu nhau, Không cần biết ngày mai …” (Et les yeux dans les yeux, Et la main dans la main, Ils s’en vont amoureux, Sans peur du lendemain …).

Đó là bài hát “Tous les garcons et les filles” (Tất cả các chàng trai và các cô gái) của Francoise Hardy, một ca khúc nổi tiếng trong thập niên 1960. Toàn bộ bài hát này loanh quanh chỉ có thế – một bài hát ca tụng tình yêu trong sáng của tuổi trẻ, của những chàng trai và cô gái giống như tôi và Quyên. Phần sau của bài hát là lời than thở của Francoise Hardy vì nỗi cô đơn, “vì không ai yêu tôi”. Không ngờ phần sau ấy cũng phù hợp để nói về nỗi cô đơn của tôi sau khi tình yêu với Quyên bị tan vỡ. Nhưng chuyện đó sẽ nói sau. Bây giờ vẫn đang nói về niềm hạnh phúc của tôi khi Quyên xuất hiện lần đầu tiên tại nhà 52 Quán Sứ và tôi hạnh phúc đến nỗi không biết nói gì, làm gì cho thích hợp vào lúc ấy. Có người bảo tôi lúc ấy là “thằng ngố”. Không, tôi không “ngố” đâu, đó là tiếng nói của con tim đấy.

Năm 2018, một nhạc sĩ là bạn thân của tôi, nghe tôi kể chuyện về Quyên, anh cảm động đến nỗi viết ngay một ca khúc, với ca từ rất đẹp. Khi đưa cho một đạo diễn phổ nhạc và làm video, đạo diễn sửa lại ca từ một chút cho lãng mạn hơn – thêm thắt một chút yêu đương “nóng bỏng” hơn. Bạn tôi không chịu. Anh giải thích: “Thanh niên những năm 60 (của thế kỷ trước) lãng mạn lắm. Họ không thực dụng như bây giờ đâu. Hồi ấy có thể yêu mơ yêu mộng chứ không mạnh bạo như bây giờ đâu. Đừng chữa ca từ của tôi mà làm hỏng hình ảnh tình yêu trong sáng của bạn tôi…”.

Bạn tôi đúng. Tôi và Quyên yêu nhau như thế đấy, nhất là buổi đầu tiên. Nhìn nhau là đủ sướng rồi, tâm hồn lúc ấy bay lên cõi thiên thai rồi, cần gì hơn thế nữa? Chỗ này có vẻ như mâu thuẫn với một đoạn ở trên khi tôi nhắc đến một câu nói của Balzac, rằng “Tình yêu chỉ có thú vui thể xác sẽ không phải là một tình yêu đích thực. Tình yêu không có thú vui thể xác sẽ là tình yêu không trọn vẹn”, và tôi đã khoe rằng tình yêu của tôi và Quyên là một tình yêu vừa đích thực vừa trọn vẹn.

Không, không mâu thuẫn gì cả. Thú vui thể xác là một khái niệm rộng, nhiều thang bậc. Từ thang bậc thanh khiết “mắt trong mắt, tay trong tay” đến thang bậc vợ chồng. Về tinh thần, tôi và Quyên yêu thương nhau như vợ chồng, hoặc còn hơn vợ chồng, vì có tình bạn tri kỷ ở trong đó, nhưng thú vui thể xác thì rất thanh khiết. Lời ca của Francoise Hardy có lẽ đã mô tả gần chính xác tình yêu của tôi với Quyên: “Mắt trong mắt, Tay trong tay, Họ yêu nhau, Không cần biết ngày mai …”. Nếu bạn trẻ nào ngày nay không hiểu được điều này thì theo tôi… bạn rất thiệt thòi. Bởi chỉ có tình yêu thanh khiết mới làm cho con người thăng hoa đến tột đỉnh của hạnh phúc! 

Hạnh phúc nhất không phải là thú vui thể xác, mà là lúc ta được chứng kiến sự có mặt của người mà ta yêu, ta mong đợi. Tôi nói điều này thực ra là đã chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi Stendhal, tác giả “Đỏ & Đen”, khi ông nói về âm nhạc:

“Tối nay tôi vừa nhận thấy rằng âm nhạc, một khi nó hoàn hảo, nó hiến ta một thứ hạnh phúc giống như khi ta được hưởng sự có mặt của người mà ta yêu, nghĩa là, nó hiến ta một thứ hạnh phúc, có lẽ sâu sắc nhất đời!”.

Bạn có thể dùng câu này để nói về âm nhạc, nhưng tôi dùng nó để nói về tình yêu. Vâng, đó là thứ hạnh phúc có lẽ sâu sắc nhất đời!

Tôi tán thành Stendhal, tán thưởng Stendhal, bởi tôi đã trải nghiệm những gì ông nói, cả trong âm nhạc lẫn tình yêu.

Bạn ơi, sự có mặt của người mà bạn yêu đem lại cho bạn một cảm giác bình an. Bạn cảm thấy như thế là đủ, không cần gì hơn thế nữa. Vâng, tôi xin nhắc lại câu nói của David Icke đã dẫn ở trên, vì nó giúp chúng ta hiểu Stendhal hơn:

Tình yêu vĩnh cửu là sự thật duy nhất. Mọi thứ còn lại chỉ là ảo ảnh”.

Tôi không biết những điều tôi đang viết được xếp vào thể loại gì. Hồi ký hay tiểu luận triết lý về tình yêu? Nhưng tôi biết rõ rằng tôi đang kể cho độc giả nghe Mối Tình Đầu của tôi, và tình yêu là sự thật duy nhất trên đời, mọi thứ còn lại chỉ là ảo ảnh! Tôi không biết chuyện tôi kể có làm bạn xúc động hay không. Nếu bạn không xúc động thì hy vọng chuyện sau đây sẽ làm bạn hiểu tại sao tôi yêu Quyên tha thiết đến như thế. 

 

Một chút triết lý về Cái Đẹp

 

Có một chi tiết mà tôi quên chưa nói, rằng Quyên là một trong 4 hoa khôi của Trường Phổ thông Cấp IIIA Hà Nội những năm đầu 1960:

Một là Hằng, hình như nhà ở phố Phủ Doãn, có vẻ đẹp lai tây, sau này lấy chồng là diễn viên điện ảnh Thế Anh. Hai là Tích Linh, nhà ở Bảo Khánh, đẹp như một cô gái Nhật Bản sang trọng quyền quý. Ba là Diệp, không rõ ở đâu, có vẻ đẹp mảnh mai như nàng Kiều. Bốn là Quyên.

Trong bốn “tứ đại mỹ nhân” ấy, tôi ngưỡng mộ nhất Tích Linh và Tố Quyên. Tất nhiên, đây không phải là một bình chọn chính thức, mà là bình chọn của cá nhân tôi, theo “gu” thẩm mỹ của tôi, và theo dư luận truyền tai nhau trong trường thông qua những bạn bè mà tôi thân thiết.

Tôi không bao giờ thừa nhận kiểu bình chọn của các cuộc thi hoa hậu ngày nay dựa trên các số đo và các tiêu chuẩn “đóng khung”. Đối với tôi, Cái Đẹp không có công thức, nhưng nó phải tự nhiên, chân thật, mộc mạc như thiên nhiên cây cỏ, không tạo dựng, không tô vẽ, không rườm rà, không làm điệu làm bộ, không lên gân lên cốt, không làm dáng làm dấp. Cái Đẹp chỉ có thể cảm nhận, nó làm ta xúc động ngay lập tức, càng nhìn càng thấy đẹp, càng nhìn càng thấy mến, càng ngắm càng thấy yêu. Nói về Cái Đẹp, tôi thích nhất câu nói của Claude Monet, họa sĩ tiên phong của chủ nghĩa ấn tượng:  

“Mọi người thảo luận về nghệ thuật của tôi và làm ra bộ hiểu, như thể cần phải hiểu, trong khi đơn giản là chỉ cần yêu thích mà thôi” (Everyone discusses my art and pretends to understand, as if it were necessary to understand, when it is simply necessary to love).

Có người lý sự Cái đẹp nghệ thuật khác với cái đẹp của đàn bà, cái đẹp của nghệ thuật cao hơn cái đẹp trong đời thường. Tôi bảo bạn nhầm rồi. Với tôi, tất cả mọi Cái Đẹp đều từ Chúa mà ra, vì thế nó có bản chất giống nhau.

Và thật là dại dột mà lý luận phân tích về Cái Đẹp với Charles Chaplin, nghệ sĩ điện ảnh vĩ đại nhất thế kỷ 20. Ông nói: 

“Tôi không đủ kiên nhẫn với một cái đẹp mà nó phải được giải thích để hiểu” (I do not have much patience with a thing of beauty that must be explained to be understood). 

Đối với tôi, Tích Linh và Tố Quyên không chỉ là hai người đẹp nhất Trường PTIIIA ngày xưa, mà còn là hai trong số những phụ nữ đẹp nhất của Hà Nội những năm 1960. Nếu so hai người đẹp này với nhau, tôi sẽ nói cả hai cùng nhất, mặc dù hai người đẹp theo hai kiểu khác nhau. Như đã nói ở trên, Tích Linh đẹp như một cô gái Nhật Bản sang trọng, trong khi Tố Quyên rực rỡ như một bông hoa đồng nội mà ta bỗng gặp trên thảo nguyên. Đó mới chỉ là những nhận xét về vẻ đẹp bề ngoài. Nếu tính thêm vẻ đẹp bên trong, tức vẻ đẹp tinh thần hoặc cái duyên “charming” đáng yêu và thu hút thì tôi không dám nói gì về Tích Linh, vì tôi không được tiếp xúc với người đẹp ấy – tôi chỉ “ngưỡng mộ từ xa” mà thôi – trong khi tôi được ở gần Tố Quyên cả một năm trời, tôi phải nói rằng Tố Quyên có sức thu hút lạ lùng vì nụ cười nhân hậu và vì đôi mắt mở to khi lắng nghe những câu chuyện của tôi.

Quyên là đội trưởng đội múa của Trường PTIIIA hồi đó. Vài năm sau Quyên trở thành diễn viên Đoàn văn công Không quân. Nhưng tâm hồn nghệ sĩ của Quyên lộ rõ nhất khi nàng ở cạnh tôi, trò chuyện với tôi. Tôi là kẻ có thói say mê – say mê thảo luận về mọi đề tài tôi thích – và Quyên thích thú chia sẻ những say mê đó bằng những nụ cười tán thưởng hoặc đôi khi xen vào những bình luận làm tôi thích thú.

Tình yêu của chúng tôi chứa đựng một tình bạn tri kỷ, thích nói với nhau mọi sự trên đời, và lắng nghe nhau từ chuyện cỏn con đến chuyện đại sự… Tuy nhiên, tuổi đời của cả tôi lẫn Quyên lúc ấy còn quá non nớt để hiểu rằng đó là tình bạn tri kỷ – vật báu tinh thần Trời cho. Về già tôi mới khám phá ra rằng tình bạn tri kỷ còn lớn hơn tình yêu, nếu tình yêu không chứa đựng tình bạn trong nó.

Tình yêu tầm thường dừng lại ở những thú vui thể xác. Tình yêu thanh cao thăng hoa khi hai linh hồn hợp nhất làm một. Sự hòa nhập này vô cùng hiếm hoi. Nó đưa ta đến trạng thái hạnh phúc lâng lâng. Ở đời gặp được bạn tri kỷ cùng giới đã là đại phúc, gặp bạn tri kỷ khác giới là đặc ân Chúa ban! Quyên là đặc ân Chúa ban cho tôi, nhưng ở tuổi 17 tôi còn quá trẻ để hiểu điều đó. Ở tuổi ấy, tôi nghiễm nhiên hưởng thụ may mắn hạnh phúc từ trên Trời rơi xuống, mà không ý thức được rằng đó là báu vật phải gìn giữ bằng mọi giá.

 

Giấc mơ vẽ tranh

 

Danh họa Van Gogh từng nói một câu bất hủ: “Tôi mơ vẽ tranh và rồi tôi vẽ giấc mơ của tôi” (I dream of painting and then I paint my dream). Còn tôi, tôi mơ vẽ Quyên và rồi tôi không thực hiện được giấc mơ đó.  

Ngay từ nhỏ tôi đã mê vẽ. Tôi được học nhạc, học vẽ “tử tế, đâu ra đấy” ngay từ cấp tiểu học. Trường tiểu học đầu tiên của tôi là Trường Sainte Marie, ở phố Hai Bà Trưng (nay là Bệnh viện Việt Nam Cu-ba). Cô giáo là các Sơ (Soeurs). Các Sơ thương yêu học trò như các bà mẹ yêu thương con cái vậy. Một lần trong lớp tôi hí hoáy vẽ một chiếc thuyền nhỏ trên sông nước, Sơ đi qua chỗ tôi, nói (bằng tiếng Pháp): “Ồ, con thích vẽ hả? Vậy tí nữa ta cho con xuống phòng vẽ của nhà trường. Bây giờ con phải nghe bài đã”. Quả nhiên sau giờ học Sơ cho tôi xuống phòng vẽ. Các loại mầu vẽ bày la liệt. Có vài giá vẽ được dựng ở đó. Có vài tranh đang vẽ dở… Tôi như lạc vào một thế giới thần tiên.

Các Sơ cũng chơi piano cho học sinh nghe, và dạy hát theo đàn. Tôi mê thích lắm.

Lên cấp II, tôi học Trường Nguyễn Trãi. Môn nhạc do thầy Vũ Nhân dạy, thầy là một nhạc sĩ. Môn vẽ do thầy Bốn dạy, thầy là một họa sĩ. Hai môn này được học cho đến lớp giữa cấp II, hồi đó là lớp 6. Bốn môn tôi luôn luôn được điểm tối đa là Toán, Lý, Họa, Nhạc. Như một xếp đặt của định mệnh, bốn môn đó theo tôi trong suốt cả cuộc đời. Hiện nay trong phòng khách của tôi ở Sydney vẫn bày nhiều tranh tôi vẽ, gồm tranh sơn dầu và tranh Pastel. Một lần, có một nhóm truyền giáo người Mỹ tới chơi. Họ ngắm tranh, hỏi:

  • Tranh ai vẽ đấy?
  • Tôi vẽ, tôi trả lời
  • Ô, ông là họa sĩ à?
  • Không, tôi chỉ là một người mê vẽ và vẽ chơi thôi.
  • Ông vẽ thế này thì ông phải là họa sĩ chứ…

Được khen thì ai chẳng sướng? Nhưng tôi không bao giờ dám nhận mình là họa sĩ, mặc dù luôn luôn nhận mình là một người rất yêu Cái Đẹp, đặc biệt là cái đẹp hội họa! Quyên chính là một trong những tác phẩm mỹ thuật đẹp mê hồn do Chúa tạo tác!

Vâng, tôi từng có ước mơ vẽ chân dung Quyên, nhưng đã không bao giờ làm được điều đó. Bao nhiêu thì giờ hồi ấy đã dành hết cho tâm sự, cho những phút quấn quýt bên nhau, cho việc học hành thi cử … Năm ấy tôi phải thi tốt nghiệp trung học và thi vào đại học.

Cả trường tôi có 6 thí sinh thi vào Đại học Tổng hợp, chỉ có một mình tôi đỗ. Điều này cho thấy việc thi cử hồi ấy nghiêm túc như thế nào, chất lượng đào tạo được coi trọng như thế nào. Đại học Tổng hợp hồi đó được coi là trường “đào tạo nhân tài”. Thi vào khoa nào của Đại học Tổng hợp chắc chắn phải học xuất sắc môn học chính của khoa đó. Thi vào Tổng hợp Toán năm đó chỉ có 2 người: tôi và một bạn cùng lớp. Anh bạn tôi cũng giỏi toán, nhưng không biết tại sao anh ấy trượt. Sau thi cử, tin đồn chỉ có một mình tôi đỗ trong số 6 thí sinh thi vào Đại học Tổng hợp đã đến tai thầy Tông dạy vật lý. Thầy chúc mừng tôi. Thầy vốn đã cưng tôi ngay từ năm đầu cấp III (hồi ấy là lớp 8), vì tôi nổi trội trong môn của thầy, và đã đoạt huy chương trong cuộc thi học sinh giỏi vật lý năm ấy. Tôi kể lể dài dòng chuyện học hành thi cử vì hai lẽ:

Một, nó thanh minh phần nào cho việc tôi không kịp vẽ chân dung Quyên. Tôi đã dồn hết sức lực và thì giờ vào việc học hành, ngoài những giờ phút có mặt bên cạnh Quyên. Vả lại, tôi đâu có nghĩ chúng tôi sẽ xa rời nhau?

Hai, nó cũng là một phần lý do dẫn đến một kết thúc buồn – trong khi tôi lo cho bản thân học hành đâu ra đấy, tôi đã không lo cho Quyên. Mãi sau này tôi mới hiểu điều đó, nhưng khi biết thì đã muộn. Tôi đã quá ích kỷ để quên khuấy lời hứa ban đầu, rằng “chúng ta sẽ giúp đỡ nhau trong học tập…”. Tôi sẽ nói thêm chuyện này sau. Bây giờ phải quay lại với ước mơ vẽ chân dung Quyên.

Ước mơ ấy nẩy sinh trong đầu tôi ít nhất hai lần. Lần thứ nhất là lần đi chơi với nhau trên phố Nguyễn Du mà nghe thấy tiếng xì xầm phát ra từ đám thanh niên đang tụ tập trước cửa một ngôi nhà: “Đẹp như tài tử điện ảnh ấy nhỉ…”. Tôi ngoảnh sang Quyên, thấy nàng đẹp thật, đẹp như một kiệt tác hội họa vậy!

Lần thứ hai, đó là lần Quyên xuất hiện tại Nhà 52 Quán Sứ vào tối mồng 1 Tết Nhâm Dần, 1962.

 

Tối Mồng 1 Tết Nhâm Dần (05/02/1962)

 

Tết năm ấy rất lạnh. Tối Mồng 1, cả nhà tụ họp trong buồng thờ. Buồng thờ là buồng đầu tiên ở tầng 2 đón khách từ cầu thang đi lên. Buồng này khá rộng, đủ chỗ cho cả nhà ngồi chơi, mặc dù anh em chúng tôi rất đông. Đầu buồng thờ là ban thờ tổ tiên. Ban thờ đặt trên tủ chè, trên hết là ảnh cụ 4 đời của tôi, rồi đến ảnh ông bà nội tôi. Trước tủ chè là một cái sập gỗ lim rất rộng. Mâm cúng đặt trên sập. Lúc ấy ăn uống đã xong. Mọi người đang quây quần chuyện trò. Có mặt tất cả mọi người trong nhà, từ bố mẹ cho tới anh em chúng tôi.

Thời ấy, Mồng 1 Tết là ngày rất thiêng liêng. Ai cũng coi trọng ngày Tết, nhất là Mồng 1. Mọi người thầm cầu mong Mồng 1 gặp toàn điều tốt lành để “rông cả năm”. Cửa buồng lúc ấy đóng kín, vì lạnh, mặc dù hương khói nghi ngút, nhưng buồng rất rộng và trần rất cao nên chỉ thấy thơm ngát chứ không hề khó chịu. Không khi gia đình lúc ấy vừa thiêng liêng vừa ấm cúng. 

Trong khi mọi người chuyện trò lao xao thì lòng tôi nghĩ đến Quyên, vì Quyên hẹn sẽ đến để chúc Tết. Tôi liếc mắt vào đồng hồ trên tường, tính từng phút. Hơn 7 giờ tối, có tiếng gõ cửa. Tôi lao ra mở cửa, Quyên xuất hiện, đẹp như một thiên thần, tôi choáng váng!

Tôi không tin vào mắt mình: Quyên mặc một chiếc áo dài trắng, mầu trắng ngà rất sang trọng! Đôi môi thoa chút son, đỏ nhẹ, má phớt tí phấn hồng, ôi, đẹp rực rỡ, rực rỡ chưa từng thấy!

Cả nhà đổ dồn mắt vào “nàng tiên” tới chúc Tết!

Chưa bao giờ Quyên rực rỡ như hôm ấy. Chưa bao giờ tôi thấy Quyên mặc áo dài. Chưa bao giờ thấy Quyên son phấn. Đó là lần đầu tiên Quyên xuất hiện trong áo dài và son phấn, làm tôi choáng váng, đê mê.

Nếu Stendhal nói khoảnh khắc hạnh phúc nhất đời là khi ta được chứng kiến sự có mặt của người yêu thì hôm ấy, tối Mồng 1 Tết Nhâm Dần, tôi rơi vào trạng thái siêu hạnh phúc khi được chứng kiến sự hiện diện của một “nàng tiên” – nàng tiên CỦA TÔI! 

Các hãng mỹ phẩm có lẽ sẽ cám ơn tôi vì tôi ca ngợi một vẻ đẹp son phấn. KHÔNG! Tôi không bao giờ thích phụ nữ son phấn. Thậm chí tôi ghét son phấn. Tôi yêu cái đẹp thiên nhiên, cái đẹp đồng nội, cái đẹp do Chúa tạo ra.

Tôi là kẻ cực đoan cho rằng son phấn làm hỏng vẻ đẹp có thật! Nhưng hôm ấy, Quyên quá rực rỡ và thơm phức vì chiếc áo dài và một chút son phấn. Vâng một chút thôi. Một chút xíu thôi! Một chút thoảng qua thôi. Son phấn mà như không son phấn. Thế mới giỏi. Thế mới khéo. Son phấn mà lộ ra son phấn thì …… chán lắm!

Quyên son phấn giống Mẹ tôi. Hoặc nói gọn hơn, Quyên giống mẹ tôi. Mẹ tôi rất đẹp, niềm tự hào của bố tôi và của tất cả anh em chúng tôi. Ngày xưa, thời Pháp còn ở Việt Nam, mỗi lần Mẹ tôi cùng bố tôi đi dự các lễ hội, bà ăn mặc lịch sự sang trọng và son phấn rất nhẹ. Người đã đẹp mà son phấn nhẹ thoảng qua thì làm cho cái đẹp ấy đậm đà hơn, rực rỡ hơn. Đó mới là văn hóa Hà Nội thứ thiệt. Quyên tiếp thu được văn hóa ấy, và tôi không ngờ Quyên cũng sành sỏi trong ăn mặc và trang điểm như Mẹ tôi vậy.

Kể từ đó về sau, tôi luôn luôn tìm trong sách vở những trích đoạn hay nhất về trạng thái hạnh phúc nhất trong đời người. Thú thật, tôi không tìm thấy một trích đoạn nào đẹp hơn sự xuất hiện của Quyên tại cửa ra vào buồng thờ Nhà 52 Quán Sứ Tối Mồng 1 Tết Nhâm Dần!

Đó là một tâm điểm phát sáng rực rỡ chói lọi. Đó là một thiên thần hiện ra trong các truyện cổ tích – một chuyện cổ tích có thật!

Gần như không ai bảo ai, mọi người trong buồng thờ lặng đi trước một nhan sắc rực rỡ bất ngờ xuất hiện ngay trước mắt, vào một giờ khắc thiêng liêng của ngày Tết. Dường như Quyên cũng nhận thấy điều đó, nên sau một loáng im lặng, nàng mới lên tiếng: “Cháu chào hai bác ạ. Em chào các anh ạ! …”.

Tôi sung sướng tự hào, tự hào sung sướng. Tôi có người yêu đẹp đến mức làm cho mọi người trong nhà kinh ngạc, mặc dù ai cũng biết Quyên từ lâu rồi. Quyên đã đến Nhà 52 Quán Sứ rất nhiều lần rồi, đã gặp bố mẹ và tất cả mọi anh em của tôi rồi. Không ai lạ gì Quyên. Nhưng chắc chắn mọi người đều giống tôi khi thấy Quyên hôm ấy đẹp hơn Quyên mọi khi, rực rỡ hơn Quyên mọi khi.

Gia đình tôi rất đông, giống như một xã hội thu nhỏ. Niềm tự hào của tôi lúc ấy có thể xem như một niềm tự hào trước đám đông công chúng trong xã hội. Niềm tự hào ấy rất đơn giản: Tôi có Quyên – một ước mơ của đàn ông!

Tất cả mọi người trong nhà tôi đều yêu mến Quyên. Làm sao không yêu mến một cô con gái xinh đẹp, ngoan ngoãn, phúc hậu, vui tươi?

Sau vài phút xã giao trong buồng thờ, Quyên theo tôi vào “buồng đá”. Ở đó chúng tôi quên hết ngày Tết, để nói với nhau những lời quan trọng nhất, trao cho nhau những nụ hôn kỳ diệu nhất … Đó là lần đầu tiên son dính trên môi tôi. Đó là lần đầu tiên tôi biết rằng mùi son phấn cũng là một thứ kích thích tố đáng sợ. Nhưng xin nhắc lại, son phấn thoáng nhẹ thôi nhé, trong những dịp rất đặc biệt thôi nhé!

Đó là một trong những tình huống tôi rơi vào tình ái nồng nàn, nhưng tôi vẫn phải nhấn mạnh rằng đối với tôi và Quyên hôm ấy, cái hôn không phải để thỏa mãn thú vui thể xác, mà để báo cho người mình yêu cái cảm xúc yêu thương tha thiết đang dấy lên trong lòng mình, rằng “em có biết anh yêu em nhường nào không?”. Lạ thế đấy, khi người ta yêu, người ta muốn báo cho người mình yêu rằng “tôi yêu mình lắm đấy”, cứ như thể là nếu người ấy không biết thì ta cảm thấy bị tắc nghẽn, linh hồn ta không được giải thoát vậy…

Đó là một nhu cầu của linh hồn nhiều hơn thể xác – hai linh hồn muốn hòa nhập vào với nhau để thành một. “Liệu ai có thể nhập vào linh hồn của ai khác?” (Who can enter into another soul?), nhà văn Nga Chernyshevsky đã có lần hỏi như thế. Tôi trả lời: “Có đấy, đó là lúc người ta yêu nhau và thăng hoa tới tột đỉnh của hạnh phúc như trường hợp của tôi và Quyên tối Mồng 1 Tết Nhâm Dần vậy!”.

Tình yêu ấy kéo dài thêm nhiều tháng sau, mãi cho tới cuối mùa hè năm 1962. Suốt trong thời gian ấy, tối Thứ Năm tuần nào tôi cũng đến đón Quyên ở trường về, sau giờ tập múa. Quyên là đội trưởng đội múa nên không thể vắng mặt. Đang trong tuổi 17 nên cả tôi lẫn Quyên không hề biết ốm đau là gì cả. Vì thế việc tôi đến đón Quyên ở trường vào tối Thứ Năm gần như đã trở thành một lịch trình cố định. Cho đến một tối Thứ Năm buồn…

 

Tối Thứ Năm Buồn

 

Như thông lệ, tối Thứ Năm ấy, khoảng cuối Tháng 8 năm 1962 (lại cuối Tháng 8), tôi đi xe đạp đến đón Quyên ra về sau một buổi tập múa ở trường. Nhưng khác hẳn mọi khi, Quyên hôm ấy không vui. Đây là lần đầu tiên tôi thấy Quyên không vui, một biểu hiện khác thường ở một người luôn vui cười tươi tắn và nồng hậu. Sau vài câu tôi gợi ý để nói chuyện, Quyên im lặng. Vì thế, thay vì bảo Quyên ngồi lên xe để tôi đèo Quyên về, hai chúng tôi đi bộ cạnh nhau. Tay phải tôi dắt xe, bên trái tôi là Quyên. Chúng tôi không đi trên đường Lý Thường Kiệt như mọi khi, mà rẽ trái ra Quang Trung. Tôi bắt đầu suy nghĩ. Chuyện gì vậy? Nhưng tôi không thể đoán ra chuyện gì. Tôi càng không nghĩ có chuyện gì liên quan đến tôi. Tôi nghĩ có chuyện gì đó làm Quyên buồn nhưng không liên quan đến tôi, bởi tôi không tìm được bất cứ sơ suất nào của tôi để Quyên trách. Vả lại, nếu tôi có gì đáng trách thì Quyên phải lên tiếng trách móc thì mới hợp lý chứ. Tôi bắt đầu hỏi:

  • Quyên ơi, hôm nay Quyên làm sao thế? Có chuyện gì vậy?
  • (im lặng)
  • Sao Quyên không nói gì cả? Ít nhất cũng nên cho anh biết có chuyện gì chứ.
  • (im lặng)

Tôi cũng im lặng, bởi tôi không thể nói thêm khi Quyên buồn, Quyên không muốn nghe. Cả hai cứ thế tiếp tục sóng đôi trên đường Quang Trung. Đến quãng ngã tư Quang Trung – Thợ Nhuộm, tôi lại lên tiếng:

  • Quyên có chuyện gì không vui thì phải nói đi chứ. Tôi có ý giục giã.
  • (im lặng)
  • Quyên không nên thế. Anh đã đi đón Quyên thì dù có chuyện gì cũng nên nói chuyện với nhau chứ.
  • (im lặng)

Tôi đành im lặng. Chúng tôi rẽ phải qua Trần Hưng Đạo. Cả hai tiếp tục đi bên nhau, im lặng. Thỉnh thoảng tôi quay sang nhìn Quyên, thấy Quyên buồn, nhưng rõ ràng là Quyên không có ý nói chuyện. Chúng tôi đi bộ dưới lòng đường. Hồi ấy Hà Nội vắng lắm, ít xe cộ lắm. Làm gì có xe máy, ô-tô như bây giờ. Thỉnh thoảng lắm mới có một chiếc ô-tô xuất hiện (chỉ có ô-tô của nhà nước, không có ô-tô tư nhân).

Lúc ấy đã khoảng hơn 9 giờ tối rồi, lại càng vắng. Đi bộ bên nhau mà không nói chuyện gì với nhau cả. Vô lý quá. Lần đầu tiên tôi thấy Quyên như thế, và cũng lần đầu tiên tôi thấy hơi giận Quyên – tôi thầm nghĩ Quyên không trân trọng tình cảm của tôi, vì tôi đã đi đón Quyên, tức là yêu thương Quyên, Quyên không nên đối xử với tôi như thế… Dòng suy nghĩ ấy kích thích tôi dừng lại. Chỗ ấy cách ngã ba Dã Tượng – Trần Hưng Đạo khoảng 100m. Quyên cũng dừng lại. Tôi quay sang Quyên, nói:

  • Nếu Quyên không muốn nói chuyện thì cho anh biết từ nay anh có nên đi đón Quyên như thế này nữa không?

Quyên nhìn thẳng vào tôi, một cái nhìn trách móc, nhưng im lặng, không nói gì cả. Tôi không hiểu cái nhìn ấy của Quyên, vì đang nghĩ rằng câu nói của tôi mang ý nghĩa của một “tối hậu thư” – “tối hậu thư” của một kẻ còn trẻ măng đang lên cơn giận, một kẻ đầy hiếu thắng, chưa hiểu gì về cuộc đời cả.

Tôi đã quá ngu để không nghĩ rằng nỗi buồn của Quyên lúc đó có thể có liên quan đến tôi. Tôi quá hiếu thắng nên không nhận ra rằng sự im lặng của Quyên, và nhất là cái nhìn thẳng của Quyên, mà suốt dọc đường trước đó không có, là tín hiệu trách móc rõ ràng đối với tôi, có nghĩa là tôi đã có lỗi gì đó với Quyên. Tôi không đủ khôn để đặt ra giả định đó. Sự im lặng tiếp tục của Quyên làm cho nước tràn khỏi ly.

Sau khoảng 30-40 giây im lặng nhìn nhau, tôi không nói gì nữa, nhảy lên xe đạp ra về, để mặc Quyên đi bộ một mình về nhà lúc trời đã tối.

Đêm hôm ấy tôi lại mất ngủ, trằn trọc… Cơn giận giảm dần. Tôi thao thức mãi cho đến khuya, hình ảnh Quyên lủi thủi đi bộ về nhà một mình bắt đầu hiện lên trong tâm trí tôi. Tôi bắt đầu thấy ân hận. Bắt đầu thấy thương Quyên. Nếu còn kịp, có thể tôi đã quay lại để đưa Quyên về. Nhưng không kịp nữa rồi. Giờ này chắc chắn Quyên đã về tới nhà rồi. Có khi Quyên cũng đi ngủ rồi. Nỗi ân hận càng lúc càng lớn lên.

Ngay hôm sau tôi đã đến nhà Quyên để xin lỗi. Quyên không ra tiếp tôi. Tôi đợi. Quyên nhất định không ra. Tôi vẫn đợi. Nhưng Quyên nhất định không ra. Thời gian chờ đợi khá lâu. Đến lúc không thể chờ được nữa, tôi quyết định ra về. Mẹ Quyên chứng kiến toàn bộ cuộc tan vỡ đó. Mẹ tôn trọng chúng tôi, không can thiệp. Nhưng khi tôi ra về, Mẹ nói với tôi: “Con cứ về đi. Mẹ sẽ giữ nó cho con!”.

Tôi rất buồn, chỉ nói được một chữ với Mẹ: “Vâng ạ”, rồi ra về. Đó là lần cuối cùng tôi có mặt trên tầng ba Nhà 87 Nguyễn Du.

Vì buồn nên tôi đã không nghĩ nhiều về câu nói của Mẹ, mà lẽ ra tôi phải nghĩ. Câu nói ấy, dù chỉ là một lời an ủi Mẹ dành cho tôi, cũng đã đáng phải suy nghĩ rồi. Nhưng bây giờ nghĩ lại tôi mới hiểu rằng đó không chỉ là một lời an ủi. Rõ ràng Mẹ không muốn chúng tôi giận nhau. Mẹ không muốn chúng tôi rời xa nhau. Mặc dù tôi chưa trở thành chàng rể của Mẹ, nhưng vị thế của tôi trong gia đình Quyên hồi đó đã giống như vậy rồi. Nhưng hồi ấy tôi còn quá non nớt để hiểu được lời Mẹ nói. Bao nhiêu yêu thương Mẹ dành cho Quyên và cho tôi nằm trong câu nói rất đơn giản ấy, “Con cứ về đi, Mẹ sẽ giữ nó cho con”, nhưng tôi không hiểu. Tiếc lắm thay …

Buồn … 

Nỗi buồn ấy kéo dài mãi cho tới sau này, mãi cho tới hôm nay, mỗi khi kỷ niệm về Quyên dội về, nhất là những khi tôi kể lại câu chuyện này.

Cách đây mấy năm, trên một chuyến xe có tôi, Khánh Hội, em gái sát Quyên, và hai con của Hội, bỗng nhiên Hội lên tiếng lúc xe bắt đầu chuyển bánh: “Anh Hưng dở thật, tự nhiên lại giận chị em. Nếu không có chuyện đó thì có phải bây giờ tất cả những người trên xe này đều là người nhà ruột thịt với nhau rồi không…”.

Tôi không biết nói thế nào cho phù hợp, cổ nghẹn lại, tôi khóc trong lòng!

Độc giả cứ đọc tiếp câu chuyện đi. Đọc hết Phần II của câu chuyện, bạn sẽ hiểu tại sao tôi cảm động đến mức ấy.

Quyên không bao giờ nói với tôi lý do thực sự của nỗi buồn tối Thứ Năm đó. Mãi sau này tôi mới được biết, mà cũng chỉ biết lờ mờ, vì không phải do chính Quyên nói, mà từ người đời rồi đến tai tôi: ấy là kết quả học tập của Quyên năm ấy không đạt được mong muốn, và tôi là một nguyên nhân, có lẽ là nguyên nhân chủ yếu, và điều này trái với thề ước ban đầu của tôi là sẽ giúp đỡ Quyên trong học tập.

Mặc dù lý do đó chỉ là một lời đồn đại, nhưng tôi tin là đúng, vì hai lẽ sau đây: một, chuyện Quyền buồn hôm ấy là một sự kiện đột ngột, điều đó chứng tỏ Quyên nhận được một thông tin nào đó bất lợi, làm cho Quyên buồn; hai, ngoài lý do đó không thể có một lý do nào khác. Trước đó hai chúng tôi vẫn gặp nhau hàng ngày, không hề gián đoạn, và cả hai đều rất vui vẻ, không hề có một biểu hiện nào cho thấy Quyên có một sự khác biệt.

Khi tôi kể chuyện này cho bạn bè, có người đặt câu hỏi liệu có khả năng có một người thứ ba xuất hiện ở phía Quyên không? Tôi trả lời ngay rằng không! Quyên không phải là người như thế. Vả lại, nếu có điều đó thì tôi cũng cảm nhận được ngay, và Quyên cũng không thể có sự biến đổi đột ngột như vậy được.

Những sự kiện diễn ra sau này càng xác nhận điều đó. Tôi vẫn để dành nhiều chi tiết cho Phần II của câu chuyện.

Vâng, chuyện đến đây chưa kết thúc. Thậm chí những tình tiết tiếp theo còn đặc biệt hơn. Vì thực tế tôi vẫn yêu Quyên, rất yêu. Và tôi cũng tin rằng Quyên vẫn yêu tôi. Chúng tôi còn quá trẻ để không biết tha thứ cho nhau, nhưng lòng vẫn thuộc về nhau.

Tuy nhiên, tôi đã rất ân hận. Càng về sau tôi càng ân hận. Càng trải đời tôi càng ân hận. Ân hận vì thói hiếu thắng của mình. Ân hận vì sự ích kỷ của mình. Sự ích kỷ ấy lộ rõ nhất trong kết quả học tập cuối năm ấy: trong khi tôi thi cử với kết quả xuất sắc thì Quyên lại không đạt được những kết quả mong muốn. Tôi đã không làm gì như tôi đã hứa hẹn lúc mới kết bạn. Tôi đã lôi kéo Quyên vào cuộc rong chơi hưởng thụ mật ngọt của tình ái nhưng không biết lo toan cho tương lai của Quyên… Tôi vẫn là một thằng trẻ con! Hoặc chưa thực sự trở thành người lớn để có ý thức trách nhiệm với người mình yêu.

Nhưng đó là lỗi của tuổi trẻ chứ không phải lỗi của trái tim tôi. Thực tế tôi vẫn yêu Quyên nồng nàn. Đó là điều tôi muốn thú nhận. Vâng, lòng tự ái bảo tôi phải quên kỷ niệm yêu thương đi, nhưng tình yêu mạnh gấp bội thường xuyên kéo tôi trở lại quá khứ. Tôi không dám khoe mình là người mạnh mẽ trong thế giới tình cảm, thậm chí tôi biết mình yếu đuối. Trong những lúc buồn nhất, tôi chỉ có một cứu cánh: công việc!

 

Cuộc đến thăm bất ngờ

 

Vâng, chỉ có sự bận rộn vì công việc mới làm tôi quên đi cái hẫng hụt vì vắng Quyên. Công việc của tôi lúc đó là học: tôi bắt đầu nhập học đại học vào cuối Tháng 08/1962 (lại cuối Tháng 8).

Ngay buổi học đầu tiên, lũ sinh viên chúng tôi bị giáng ngay một “đòn búa tạ” lên đầu, sợ xanh mày xanh mặt. Học liền cả sáng lẫn chiều 8 tiếng đồng hồ chỉ có Toán và Toán. Một lượng lý thuyết khổng lồ được nhồi nhét tới tấp vào đầu, chưa kịp tiêu hóa đã phải đối mặt với hàng đống bài tập khó. Tất cả sinh viên ban Toán năm ấy đều là học sinh xuất sắc môn Toán ở phổ thông, trong thâm tâm anh nào cũng ngầm tự phụ tưởng mình là “thiên tài”, nhưng bây giờ mới biết hóa ra Toán học không phải là một khu vườn chỉ có bóng mát và cây cối xanh tươi, mà còn có những bụi dặm đầy gai góc trong đó, đòi hỏi những con người không chỉ có niềm say mê khoa học lãng mạn, mà còn phải có sự nỗ lực chăm chỉ của anh lực điền kéo cày trên đồng ruộng, đổ mồ hôi sôi nước mắt. 

Không biết vì ngẫu nhiên hay ý Trời, ba sự kiện lớn trong đời tôi xảy ra gần như cùng một lúc: 1/ Nhập học đại học, 2/ Tan vỡ tình yêu, 3/ Dọn nhà về nơi ở mới –  bố mẹ tôi quyết định rời Nhà 52 Quán Sứ để dọn về 33 Thái Phiên!

Tôi sinh ra tại Nhà 52 Quán Sứ. Sống 17 năm ở đó với biết bao kỷ niệm ấu thơ và niên thiếu. Năm cuối cùng dành tất cả cho Tố Quyên. Nay cùng một lúc phải từ biệt ngôi nhà thân yêu nhất và người yêu thương nhất, để bắt đầu một cuộc hành trình hoàn toàn mới. Đúng hôm dọn nhà cũng là hôm tôi nhập học đại học. Sáng sớm tôi rời khỏi nhà 52 Quán Sứ để đi học, chiều tối về nhà mới. Tôi không được chứng kiến lúc xe cộ đến chở đồ đạc rời khỏi 52 Quán Sứ. Nếu chứng kiến, có thể tôi sẽ bật khóc. Làm sao không khóc khi phải rời khỏi những kỷ niệm yêu thương nhất? Chắc chắn Quyên cũng nhớ nó chứ không chỉ có tôi nhớ.   

Nhưng việc học quá nặng nề đã cướp hết thì giờ của tôi, không còn chỗ cho nghỉ ngơi, buồn bã, mơ mộng, nhớ nhung. Đời sinh viên khổ lắm, không chỉ vì học hành nặng nề, mà còn vì nhiều áp lực khác. Tôi không muốn kể về giai đoạn này, mà muốn quên nó đi. Suốt từ ngày nhập học đến khi tốt nghiệp, không có gì đáng để kể, ngoại trừ những kiến thức khoa học đã tiếp thu được… Nếu phải có một đánh giá tích cực về giai đoạn này thì tôi nói rằng đó là môi trường rèn luyện con người qua trường đời đầy thử thách nghiệt ngã và đau khổ, làm cho con người không chỉ lớn lên về kiến thức chuyên môn, mà già dặn hiểu đời hơn, biết phải làm gì để tồn tại trong cuộc “đấu tranh sinh tồn”… Trường đời ấy làm cho tôi ít cười hơn, biết suy nghĩ hơn, bắt đầu học cách nhìn đời qua lăng kính triết học…

Nhưng thỉnh thoảng quá khứ vẫn cứ dội về làm nhói con tim. Tôi cố gạt đi, không nghĩ đến chuyện cũ, vì càng nghĩ càng buồn. Trong đáy sâu lòng mình, tôi vẫn yêu nàng. Ánh sáng rực rỡ từ nàng tỏa ra trong buổi tối Mồng 1 Tết Nhâm Dần vẫn nằm trong trung tâm của ký ức. Tôi vẫn nhớ những tiếng thì thầm yêu đương trong “buồng đá” và trên gác sân Nhà 87 Nguyễn Du… Nhưng hiện tại khắc nghiệt buộc tôi phải quên quá khứ. Bài vở chất đống choán hết thì giờ của hiện tại. Tôi vốn có thói tự ái rất cao trong học hành, không cho phép mình thua kém bạn bè cùng lớp. Với một lớp học toàn người xuất sắc, rất khó để bạn luôn luôn vượt lên dẫn đầu cuộc đua. Vì thế tôi phải chăm học hơn bao giờ hết. Giống như bạn bè cùng lớp, tôi lao vào theo đuổi những ảo ảnh về trí tuệ, những tham vọng về khoa học… dần dần quên chuyện tình ái, quên quá khứ, quên nỗi buồn… Tôi không tin học thuyết “đấu tranh sinh tồn là động lực của tiến hóa”, nhưng quả thật môi trường đại học là một môi trường đấu tranh sinh tồn khắc nghiệt. Nó không cho tôi sự thư thả để mơ mộng, nó biến tôi thành một sinh vật làm toán, quên phắt rằng trước đó chẳng bao lâu mình đã sống một cuộc sống hồn nhiên mơ mộng.

Tình trạng ấy kéo dài 2 năm trời, kể từ khi nhập học đại học đến khi có một sự kiện hết sức bất ngờ, làm cho tôi sực tỉnh khỏi cơn mê chữ nghĩa học thuật u ám nặng nề. Đó là cuộc đến thăm bất ngờ của Tố Quyên. Vâng, tôi sắp kể về cuộc đến thăm bất ngờ ấy đây.

Với lịch sử, 2 năm chỉ là một tích tắc, nhưng với đời người, đó là một thời gian đủ dài để thay đổi một số phận. Bây giờ nhớ lại hai năm 1962-1964, hai năm vắng bóng Quyên, vắng bóng niềm vui và chỉ có học hành bù đầu, tôi vẫn còn thấy nặng nề. Đau đớn cho tôi là hình ảnh Quyên không thể ra khỏi tâm trí tôi. Cứ mỗi lần nghĩ đến Quyên tôi lại tự hỏi: Mình đã làm gì sai? Và tôi bế tắc không tìm được câu trả lời. Nỗi thất vọng ập lên tôi, và tôi thoát khỏi nó bằng bài vở, bằng những bài toán thách đố, bằng những cuốn sách toán học cao cấp tiếng Nga như Giải tích toán học của Khinchin, Bài tập Giải tích của Demidovich…

Nhưng giữa năm 1964, đúng vào lúc tôi buồn nhất, thất vọng nhất, nhớ Quyên nhất thì bỗng nhiên… Quyên xuất hiện trở lại!

Hôm ấy, giống như nhiều ngày khác, tôi đi học về muộn. Về tới nhà thì trời đã sâm sẩm tối. Nhà bây giờ là 33 Thái Phiên chứ không phải 52 Quán Sứ nữa. Vào tới phòng khách, tôi giật mình kinh ngạc…… Trời ơi! Điều gì thế này? Tôi đang mơ hay sự thật đây?

Quyên ở đó! Quyên đang ngồi ở phòng khách! Quyên đang đợi tôi!

Có lẽ Quyên đợi khá lâu rồi! Hạnh phúc quá! Sung sướng quá! Có lẽ câu nói của Stendhal bây giờ mới thực sự ứng nghiệm:

Hạnh phúc sâu sắc nhất đời là khi ta được chứng kiến sự có mặt của người yêu!

Chính xác hơn, phải nói: Hạnh phúc sâu sắc nhất đời là khi ta được chứng kiến sự trở lại của người mà ta yêu tha thiết, ta nhớ da diết, ta buộc phải xa cách lâu dài chỉ vì ta trót giận hờn, ta trót hành động sai lầm mà không có cơ hội sửa chữa…

Cám ơn Quyên! Quyên đã cho tôi những khoảnh khắc thần tiên! Sự có mặt của Quyên tại 33 Thái Phiên giữa năm 1964 là một khoảnh khắc thần tiên trong đời tôi!

Ôi, bạn ơi, làm thế nào để tôi làm cho bạn hiểu được tâm trạng hạnh phúc sung sướng của tôi khi thấy Quyên ngồi sẵn ở đó chờ đợi tôi?

Hai năm rồi! Thời gian QUÁ DÀI cho một tình yêu nồng nàn phải chờ đợi!

Giống như ngày xưa, hôm ấy Quyên lại vui vẻ, trên môi lại có nụ cười tươi tắn. Quyên vẫn xinh đẹp lắm, mặc dù mập ra khá nhiều. Nhưng xin nhắc lại, hồi ấy, những năm 60 của thế kỷ trước, người mập xinh đẹp được gọi là đẹp phúc hậu. Không biết tôi là người mê cái đẹp phúc hậu hay vì tôi mê Quyên nên luôn thấy nàng đẹp, bất kể nàng thay đổi ra sao. Và cũng giống như ngày xưa, anh em tôi lại lần lượt ra khỏi phòng, nhường cho tôi và Quyên chuyện trò riêng tư. Cả hai cùng vui ra mặt. Quyên đã đến thăm tôi thì tất nhiên Quyên phải vui. Tôi có Quyên tất nhiên tôi quá vui. Cả hai đều né tránh chuyện buồn cũ. Cả hai đều nói về hiện tại – những chuyện “trung tính” mang tính thời sự. Quyên thì báo cho tôi biết đã gia nhập Đoàn Văn Công Không Quân. Tôi thì báo cho Quyên biết chuyện học hành căng thẳng. Xen kẽ chuyện “thời sự”, cả hai đều tế nhị báo cho nhau biết vẫn nghĩ đến nhau, nhưng chỉ nói có mức độ, dường như còn “để dành” sẽ nói rõ sau. Khoảng gần 9 giờ tối, Quyên ra về. Tiễn Quyên ra cổng, chúng tôi dừng lại dưới gốc cây lim trước cửa. Dưới tán lá cây bao phủ như che chở cho chúng tôi, tôi quyết định nói với Quyên lời quan trọng nhất:

  • Quyên ơi, chúng mình nối lại quan hệ như ngày xưa nhé.

Quyên im lặng một lúc rồi nói:

  • Không cần phải như thế, cứ coi nhau là bạn thân là được rồi.

Đến lượt tôi im lặng. Quyên chờ tôi nói. Tôi lại rơi vào thất vọng. Tôi không đồng ý với Quyên. Tôi không thể thân thiết với Quyên chỉ như một người bạn. Tôi chỉ có thể yêu Quyên. Quyên chỉ có thể là người yêu của tôi, hoặc người vợ của tôi. Tôi không tán thành ý kiến của Quyên. Một là yêu hết mình. Hai là không có gì cả. Nhưng tất cả những suy nghĩ đó tôi chỉ để ở trong đầu, không nói ra. Tôi không nói với Quyên rằng tôi đồng ý với Quyên, và cũng không phản đối. Tôi chỉ cảm thấy buồn, thất vọng, và xót xa khi nghĩ rằng thế là hết. Tôi nói:

  • Quyên về nhé.

Quyên lên xe, đạp đi…. Tôi nhìn theo một lát rồi quay vào nhà, lòng buồn rười rượi. Tôi yêu nàng, vẫn yêu nàng tha thiết, nhưng tôi không muốn xin nàng tình yêu ấy. Tình yêu phải đến từ hai phía. Vì thế tôi không tiễn nàng, mặc dù nếu tôi muốn, tôi có thể, và chắc là nàng sẽ rất vui.

Thế đấy, một lần nữa tôi đã để Quyên ra về một mình lúc trời đã tối. Chỉ khác là lần này Quyên đi xe đạp. Nhưng chắc là trên đường về Quyên sẽ không vui. Bởi ít nhất Quyên muốn tôi là một người bạn thân. Ôi, bạn thân cũng quý lắm chứ. Nhưng tôi yêu sự hoàn hảo. Tôi yêu sự tuyệt đối, Cái Đẹp tuyệt đối! Tôi ghét sự nửa vời. Tôi thích yêu hết mình. Tôi không tin tôi có thể là bạn thân với Quyên mà không yêu Quyên. Điều ấy quá vô lý. Nhưng có lẽ đàn bà có cách suy nghĩ khác mà tôi không hiểu.

Độc giả hãy làm quan tòa giúp tôi. Ai đúng? Ai sai?

Hồi trẻ, tôi nghĩ tôi đúng. Nhưng càng về già, tôi càng thay đổi, và đến hôm nay, tôi biết tôi sai. Nếu không sai thì là ngu dại. Tại sao lại đòi hỏi người đàn bà phải nói ra lời ngay tức khắc điều mình muốn? Đó là một cái ngu. Tại sao lại tin rằng người đàn bà nói hôm nay thế nào là chắc chắn mọi sự sẽ diễn ra đúng như thế ấy. Đó là cái ngu thứ hai. Tại sao tôi không có cách cư xử nào làm cho Quyên cảm động để nhận lời tôi, mà lại bắt Quyên phải đồng ý ngay với mình? Đó là cái ngu thứ ba. Tại sao không lấy xe đạp ra tiễn Quyên về đến tận nhà? Đó là cái ngu thứ tư. Tại sao tôi không thấy thương Quyên, mà lại một lần nữa để Quyên ra về một mình lúc trời đã tối? Đó là cái ngu thứ năm. Tại sao tôi ích kỷ chỉ biết đến cái mong muốn của mình mà không biết chiều chuộng Quyên, người mà tôi yêu tha thiết? Đó là cái ngu thứ sáu…

Ông quan tòa trẻ măng trong tôi bênh tôi, nhưng ông quan tòa trí tuệ và quan tòa lương tri nhiều tuổi trong tôi kết tội tôi là ích kỷ, ngu dại, không hiểu phụ nữ…

Tội nặng nhất là ích kỷ, chỉ biết YÊU mà không biết THƯƠNG.

Quan tòa lương tri lớn tiếng kết tội: con người chỉ khi nào biết HY SINH cho người mình yêu thì mới thực sự biết yêu! Chừng nào anh ta chỉ nghĩ đến bản thân và dễ giận hờn thì chừng ấy anh ta chưa thực sự biết yêu….

Nhưng quan tòa lương tri tha thứ cho tôi vì hai lẽ:

Một, tôi còn quá trẻ để hiểu đời, để biết sống vì người khác;

Hai, thực tế nữ thần tình yêu vẫn ngự trị trong tôi – tôi càng yêu Quyên hơn, yêu hơn bao giờ hết. Chính trong tâm trạng đó, tôi bật ra câu nhạc đầu tiên:

“Người yêu ơi thầm nhớ,

bên đàn tim ta sầu lắng,

tâm tình bên nhau nay thấy…

còn đâu?”

Rồi những câu nhạc khác cứ thế xuất hiện rất nhanh thành một bản nhạc hoàn chỉnh, như tôi đã kể ngay từ đầu câu chuyện này.

Đó là bản Mối Tình Đầu, bản nhạc duy nhất tôi sáng tác trong đời. Nó kể lại một sự kiện có thật, đúng như đã diễn ra. Nó đánh dấu thời điểm tôi yêu Quyên nhất – không phải là thời điểm tôi được thỏa mãn nhất vì tình yêu ấy, mà là thời điểm thất vọng nhất, nhớ Quyên nhất.

Sự xuất hiện trở lại của Quyên ở 33 Thái Phiên đem lại hạnh phúc và hy vọng cho tôi bao nhiêu thì lời nói của Quyên lúc tạm biệt cũng làm tôi thất vọng bấy nhiêu. Nỗi thất vọng ấy không giết chết tình yêu, mà làm cho tình yêu ấy cháy bùng lên để biến thành một bản nhạc. Và bản nhạc cũng có số phận của nó.

Năm 2001, trong một dịp từ Úc về thăm Hà Nội, tôi lang thang một mình trên phố, lòng buồn mênh mang. Tôi ghé vào quán Café Paloma ở ngã tư Hàng Bài – Lý Thường Kiệt. Ô, hay quá, trong quán đang có biểu diễn âm nhạc theo yêu cầu của khán giả. Một chàng trai đang chơi piano, một cô gái đang kéo violon. Tôi chọn một chỗ gần ban nhạc, im lặng thưởng thức tiếng piano thánh thót, tiếng violon thiết tha. Trong khi nghe, tôi lấy một mảnh giấy, viết một loạt bản nhạc theo yêu cầu:

  1. Ode to Joy (Giao hưởng Niềm vui), trích đoạn Giao hưởng số 9 của Beethoven
  2. Serenade (Chiều tà) của Schubert
  3. Rêverie (Mộng mơ) của Schumann
  4. Rêve d’Amour (Giấc mộng Tình ái) của Franz Liszt
  5. Mối Tình Đầu của tôi

Ngay sau khi bản nhạc đang chơi kết thúc, tôi đưa mảnh giấy cho anh chàng pianist, kèm theo bản Mối Tình Đầu, lấy từ trong cặp sách tôi mang theo. Hai nghệ sĩ ngoảnh lại nhìn tôi, chắc họ thấy một cái gì hơi lạ ở tôi chăng? Rồi cả hai bắt đầu chơi những bản nhạc tôi yêu cầu. Ngay từ bản đầu tiên, rồi bản thứ hai… tôi đã thấy họ rất chuyên nghiệp. Đến bản Mối Tình Đầu tôi sung sướng nhận ra nhạc của mình không tồi. Tôi lập tức nghĩ đến Quyên, ước gì nàng có mặt lúc này để nghe tình yêu tôi nói với nàng.

Đúng là chuyên nghiệp có khác. Hai nghệ sĩ chơi bản nhạc của tôi ngay tức khắc, đâu ra đấy, hoàn hảo, không cần phải dạo thử một lần nào. Ôi, tôi biết ơn hai nghệ sĩ đó nhiều lắm! Tiếng piano thánh thót, tiếng violon thiết tha. Piano chạy hợp âm rải làm nền, violon chạy giai điệu chính. Đôi chỗ họ đổi vai trò cho nhau. Tuyệt vời quá! Có thể bạn không tin khi tôi kể rằng bản Mối Tình Đầu của tôi hôm ấy không hề làm cho khán giả bị hụt hẫng sau khi họ vừa được nghe những “Mộng mơ” của Schumann, “Giấc mộng Tình ái” của Franz Liszt…

Để giải tỏa mối nghi ngờ này, có lẽ tôi sẽ tìm gặp lại hai nghệ sĩ đó để thu âm bản nhạc của tôi, để mời mọi người nghe, để mọi người cảm nhận được Tình yêu Trong sáng của tôi và Quyên, và cảm nhận được nỗi buồn luyến tiếc của tôi khi tình yêu ấy tan vỡ… Có thể đó cũng chính là tâm trạng của Quyên. Ôi, cầu xin Chúa giúp tôi thực hiện ước mơ này trong một ngày không xa.

Nghệ sĩ piano hôm ấy là Nguyễn Tài Tuấn, con trai nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, tác giả bài hát nổi tiếng “Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó”.

Nghệ sĩ violon hôm ấy là cô Hương, nhạc công Đoàn Giao hưởng Việt Nam. Sau hôm ở Café Paloma, Hương đi tu nghiệp tại Nhạc viện Tchaikovsky. 

Năm 2018, nghe tôi kể chuyện về Quyên, nhạc sĩ Vũ Như Ngọc rất cảm động. Anh liền viết bản “Hoa Đỗ Quyên”, như một khúc biến tấu dựa trên chủ đề Mối Tình Đầu của tôi. Bạn đọc có thể thưởng thức ca khúc này ngay dưới đây:

Hoa Đỗ Quyên, nhạc và lời của Vũ Như Ngọc, biến tấu trên chủ đề Mối Tình Đầu của Việt Hưng, ca sĩ Doãn Minh trình bày

Mối Tình Đầu là kỷ niệm không bao giờ quên của tôi – kỷ niệm ngày Quyên trở lại Nhà 33 Thái Phiên, để lại cho tôi một nỗi buồn mênh mang vì một tình yêu nồng nàn không được thỏa mãn…

Tôi đã không bao giờ mang bản nhạc ấy đến tặng Quyên. Không bao giờ hát cho Quyên nghe. Mặc dù Quyên là linh hồn của bản nhạc ấy. Không phải vì tôi giận Quyên. Mà vì cuộc đời cuốn chúng tôi theo hai ngả khác biệt, xa cách nhau. Năm 1965 bắt đầu cuộc chiến tranh Mỹ bắn phá miền Bắc Việt Nam. Mọi người phải đi sơ tán. Không gian cách biệt. Thông tin liên lạc không có. Hầu như mọi người phải lo cuộc sống an toàn, lo tồn tại.

Hai năm sau, tôi đã tốt nghiệp đại học, rồi đi sơ tán hết nơi này đến nơi khác. Làm gì còn thời gian để mơ mộng. Tình hình ấy kéo dài, cho đến khi một sự cố đau buồn xảy ra. Vâng, rất đau buồn. Chuyện đó sẽ được kể ở Phần II.

 

HẾT PHẦN I

 

Xem tiếp Phần II:

https://viethungpham.com/2021/12/29/tu-truyen-moi-tinh-dau-2/

 


[1] Người đời thường gán câu này cho Shakespeare, nhưng thực ra Shakespeare chỉ nói gần giống như thế: “Beauty is bought by judgement of the eye”. https://www.phrases.org.uk/meanings/beauty-is-in-the-eye-of-the-beholder.html

[2] Infinite love is the only truth. Everything else is illusion, David Icke.

5 thoughts on “Tự Truyện MỐI TÌNH ĐẦU (1)

  1. MINH HỌA.

    1. Mời các bạn nghe bản nhạc “Mộng mơ” trích trong Tổ khúc “Những ngày ấu thơ” của nhạc sĩ thiên tài người Đức Robert Shumann (1810-1856) được biểu diễn bởi danh cầm Vladimir Horowitz – người được mệnh danh là Gã phù thủy của cây đàn piano.

    2. Mời các bạn nghe tiếp bản “Giấc mơ của người đang yêu” của nhà soạn nhạc – nghệ sỹ piano thiên tài người Hungary Franz Liszt (1811-1886).

    3. Đây là các bản nhạc nên và/ hoặc cần phải nghe trước khi chết (!).

    Thích

  2. Pingback: Gửi anh Hùng………béo :V – Mai's blog

  3. Kính chào Chú Hưng ạ,

    Con rất thích Tự truyện “Mối Tình Đầu” của Chú ạ.

    Con đang “hóng” Phần 2 ạ… 🙂

    Kính chúc Chú và gia đình luôn mạnh khoẻ và nhiều niềm vui mới ạ.

    Con chào ạ.
    Thảo

    Thích

  4. MINH HỌA.

    4. Mới các bạn nghe bản “Khúc nhạc chiều” của nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Franz Schubert (1797-1828).

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s