The Nature of Information / Bản chất của thông tin

We had seen a series of cognitive revolutions in the 20th century, but probably the discovery of living information was the deepest one. That means we have to know better about the nature of information if we want to know better about the nature of life!

Chúng ta đã thấy một loạt cuộc cách mạng về nhận thức trong thế kỷ 20, nhưng có lẽ việc khám phá ra thông tin của sự sống là cuộc cách mạng sâu sắc nhất! Có nghĩa là chúng ta phải hiểu rõ hơn về bản chất của thông tin nếu chúng ta muốn hiểu rõ hơn về bản chất của sự sống!

Dưới con mắt của Darwin, sự sống chỉ là một cỗ máy vật chất thuần túy, tế bào chỉ là một giọt nguyên sinh chất đơn giản… Mặc dù thuyết tiến hóa ngày nay đã nhận vơ di truyền học như một khám phá nằm trong truyền thống của mình, nhưng tư tưởng cốt lõi của học thuyết này vẫn bám theo tư tưởng đã quá lỗi thời của Darwin, do đó vẫn cố gắng quy giản mọi cơ chế của sự sống về những phản ứng hóa học thuần túy. Nhưng việc khám phá ra thông tin sinh học đã là một cú choáng trời giáng đối với thuyết tiến hóa, đẩy thuyết tiến hóa Darwin đến bế tắc, vì:

Thông tin không phải là vật chất – thông tin không bao giờ nẩy sinh từ vật chất. Một khoa học thuần túy vật chất sẽ không bao giờ giải thích được bản chất của sự sống!

Đó là quan điểm của Werner Gitt trong cuốn “In the beginning was information” (Khởi đầu đã có thông tin) do Master Books xuất bản lần thứ tư năm 2017.

Để thấy rõ sự bế tắc đó, cần phải đào sâu tìm hiểu khái niệm thông tin. Càng hiểu rõ bản chất của thông tin bao nhiêu sẽ càng hiểu rõ thông tin của sự sống bấy nhiêu, và do đó càng thấy rõ bấy nhiêu sự bế tắc của khoa học vật chất thuần túy trong tham vọng giải thích bản chất của sự sống!

Trong Chương 3, “Information is a fundamental entity” (Thông tin là một thực thể cơ bản), Gitt chỉ ra rằng thông tin là một khái niệm phức tạp đến nỗi không thể có một định nghĩa duy nhất cho nó. Điều này rất phù hợp với Định lý Bất toàn của Gödel: không có một sự mô tả nào là đầy đủ – nhiều mô tả khác nhau về cùng một đối tượng sẽ bổ sung cho nhau để làm nên một bức tranh mô tả phong phú hơn, đầy đủ hơn về đối tượng đó. Áp dụng vào khái niệm thông tin, có thể đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin, tùy theo nhu cầu và mục đích thực tế.  

Trong Chương 4, “The Five Levels of the Information Concept” (Năm cấp độ của Khái niệm Thông tin), Gitt tiếp tục trình bày khái niệm thông tin theo nhiều góc nhìn dưới nhiều cấp độ – từ cấp độ thấp nhất là quan tâm đến thông tin theo khía cạnh số lượng thuần túy đến cấp độ cao nhất là quan tâm đến mục đích của thông tin. Đây là bước chuẩn bị rất quan trọng để hiểu thông tin của sự sống. Câu chuyện của Gitt trong chương này bắt đầu từ “Phiến đá Rosetta”

Phiến đá Rosetta

Hình sau đây là một ảnh chụp một phiến đá trên các lăng mộ của các pharaohs Ai Cập cổ đại.

Câu hỏi đặt ra là: Những hình vẽ trên đó có ý nghĩa gì vậy? Đó chỉ là những hình vẽ trang trí thuần túy hay một thông điệp gì đó? Để kiểm tra xem đó có phải là một thông tin mà các pharaohs muốn gửi gắm tới hậu thế hay không, Gitt đề nghị tiến hành kiểm tra những điều kiện (ĐK) sau đây:

ĐK1: Một số ký hiệu nhất định đã được sử dụng để thiết lập nên một thông tin. ĐK này dường như được thỏa mãn, vì từ hình trên có thể nhận ra một số hình được sử dụng lặp đi lặp lại như một ký hiệu.

ĐK2: Các ký hiệu không được kết nối theo chu kỳ điều hòa, tức là các hình vẽ không có mục đích trang trí thuần túy. Dễ thấy ĐK này cũng được thỏa mãn.

ĐK3: Các ký hiệu được trình bày theo một trật tự có thể nhận ra được, chẳng hạn theo hàng hay theo cột… Dễ nhận thấy hình ảnh trên là những ký hiệu được trình bày theo hàng.

Cả 3 điều kiện đều được thỏa mãn, Gitt kết luận hình ảnh trên ắt phải là một thông tin gì đó của các pharaohs, và dãy ký hiệu trên ắt phải là một thứ ngôn ngữ nào đó mà người Ai Cập cổ đại sử dụng để diễn đạt các thông điệp của họ.

Vâng, đó chính là một ngôn ngữ viết của người Ai Cập cổ đại. Nếu đọc được, hiểu được thứ chữ viết ấy, chúng ta sẽ biết người Ai Cập cổ đại nghĩ gì, nền văn minh của họ ra sao. Không phải chúng ta, mà nhân loại từ 2000 năm trước đã muốn đọc và hiểu được thứ chữ đó, nhưng không ai hiểu. Nói cách khác, trong một thời gian dài khoảng 2000 năm, kể từ khi người ta nhìn thấy những chữ viết đó đến trước khi hiểu được nó, thứ ngôn ngữ cổ Ai Cập này bị coi như một “tử ngữ”!

Bí mật ấy chỉ được khám phá vào ngày 19 tháng 7 năm 1799, nhờ một phiến đá đã đi vào lịch sử ngôn ngữ học với cái tên “Phiến đá Rosetta” (Rosetta Stone).

Bài báo “1799 July 19 Rosetta Stone found[1] (Ngày 19/07/1799 tìm thấy phiến đá Rosetta) kể lại như sau:

Ngày 19/07/1799, trong chiến dịch Ai Cập của Napoléon Bonaparte, một người lính Pháp phát hiện ra một phiến đá ba-zan màu đen ở gần thị trấn Rosetta, khoảng 35 dặm về phía đông của thành phố Alexandria, trong đó ghi chép một văn bản cổ xưa. Hòn đá có hình dạng bất thường chứa những đoạn văn được viết bằng ba thứ chữ khác nhau: chữ Hy Lạp, chữ tượng hình Ai Cập cổ đại và chữ Demotic của Ai Cập. Đoạn văn tiếng Hy Lạp cổ đại trên Phiến đá Rosetta nói với các nhà khảo cổ rằng nó được khắc bởi các linh mục tôn vinh nhà vua Ai Cập, Ptolemy V, vào thế kỷ thứ hai trước C.N. Đáng ngạc nhiên hơn, đoạn văn Hy Lạp đã thông báo rằng ba chữ viết đều có ý nghĩa giống hệt nhau. Do đó, cổ vật này nắm giữ chìa khóa để giải câu đố về chữ tượng hình Ai Cập cổ đại, một thứ ngôn ngữ viết đã bị chết trong gần 2.000 năm.

Khi Napoléon, vị hoàng đế nổi tiếng vì quan điểm khai sáng về giáo dục, nghệ thuật và văn hóa, trên đường hành quân xâm chiếm Ai Cập vào năm 1798, đã đi cùng với một nhóm các học giả và bảo họ hãy thu giữ cho nước Pháp tất cả các hiện vật văn hóa quan trọng mà họ thấy trên đường đi. Pierre Bouchard, một trong những người lính của Napoléon, nhận thức rõ tầm quan trọng của mệnh lệnh của vị hoàng đế, nên đã cất giữ rồi nộp lên cấp trên phiến đá ba-zan anh trông thấy – một phiến đá dài gần bốn feet, rộng hai feet rưỡi, tại một pháo đài gần Rosetta, trên đó khắc nhiều thứ chữ và hình vẽ. Khi người Anh đánh bại Napoleon vào năm 1801 ở Ai Cập, họ đã chiếm hữu Phiến đá Rosetta.

Một số học giả, bao gồm cả nhà ngôn ngữ học người Anh là Thomas Young đã đạt được tiến bộ đáng kể trong những nghiên cứu phân tích đầu tiên về chữ tượng hình Ai Cập cổ đại trên Phiến đá Rosetta. Nhưng người đạt được thắng lợi quyết định là nhà Ai Cập học người Pháp Jean-Francois Champollion (1790-1832) – một người tự học các ngôn ngữ cổ, cuối cùng đã bẻ được khóa mật mã và giải mã thành công chữ tượng hình Ai Cập cổ đại bằng cách sử dụng kiến thức của ông về ngôn ngữ nói chung, trong đó tiếng Hy Lạp là nguồn chỉ dẫn. Champollion khám phá ra rằng chữ tượng hình Ai Cập cổ đã sử dụng hình ảnh để thể hiện các đối tượng, âm thanh và các nhóm âm thanh. Sau khi bản khắc Phiến đá Rosetta Stone được dịch thành công, cánh cửa bước vào thế giới bí mật của nền văn minh Ai Cập cổ đại đã được mở toang! Đây là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của ngôn ngữ học, diễn ra vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19.

Bây giờ xin trở lại với câu chuyện về thông tin mà Gitt đang muốn nói. Vì ý nghĩa của toàn bộ văn bản trên Phiến đá Rosetta đã được khám phá, chúng ta có thể kết luận rằng văn bản ấy là một thông tin!

Ngôn ngữ học và khoa học computer ngày nay đã phát triển tới mức có thể dịch thuật ngôn ngữ cổ Ai Cập sang bất kỳ một thứ ngôn ngữ nào khác và ngược lại. Điều này nói lên rằng cùng một thông tin có thể diễn đạt bằng nhiều thứ ngôn ngữ khác nhau. Vậy bản chất của thông tin là ý nghĩa của bản thông điệp, thay vì các ký hiệu diễn đạt nó. Nói cách khác, ký hiệu là cái vỏ của thông tin, hoặc những mã để trình bày thông tin, hoặc thông tin ở cấp độ hình thức. Còn cái lõi của thông tin là ý nghĩa của nó. Với nhận thức như thế, Gitt chỉ ra 5 tầng biểu lộ khái niệm thông tin.

5 tầng khái niệm thông tin

Tầng thấp nhất – Thông tin như một số lượng các bits

Đó là thông tin nhìn theo quan điểm thống kê thuần túy – thông tin chỉ xét về mặt số lượng, đo bằng “bit”, như trong lý thuyết của Claude Shannon. Thí dụ khi xem một cuốn sách, một chương trình computer, hoặc bộ gene của con người… chúng ta có thể quan tâm đến những câu hỏi sau đây:

  • Có bao nhiêu chữ cái, hoặc con số, hoặc từ ngữ trong toàn bộ văn bản đó?
  • Văn bản đó sử dụng bao nhiêu chữ cái, chẳng hạn a, b, c… hoặc A, G, T, C?
  • Tần suất xuất hiện của mỗi chữ cái hoặc từ ngữ là bao nhiêu?

Khi đặt những câu hỏi như thế, chúng ta chỉ quan tâm tới lượng thông tin chứa đựng trong văn bản, mà không quan tâm tới nội dung ý nghĩa của thông tin. Nói cách khác, trong trường hợp này, chúng ta không quan tâm tới thứ tự của các ký hiệu. Khi đó, bất kỳ một chỉnh hợp nào của một tập hợp các ký hiệu cũng có thể xem như một thông tin. Chẳng hạn, với 3 chữ cái A, B, C có thể có 3! = 6 thông tin.

Với cách nhìn đó, lượng thông tin sẽ tăng lên khi số ký hiệu được sử dụng tăng lên. Càng nhiều ký hiệu, càng nhiều thông tin.

Hình như các nhà xuất bản ở Việt Nam hiện nay tính tiền nhuận bút cho tác giả theo thông in ở tầng thấp nhất này, tức thông tin theo quan điểm số lượng của Claude Shannon – nhuận bút viết sách được tính theo số trang sách. Việc này có thể không làm thỏa mãn các tác giả viết sách, nhưng khổ một nỗi là ngoài cách định lượng thông tin theo kiểu Shannon, hiện không có cách nào khác.

Phương pháp định lượng thông tin kiểu Shannon là nhu cầu bức thiết trong việc phát triển công nghệ thông tin – công nghệ thông tin đòi hỏi phải đo lường được lượng thông tin lưu trữ trong các bộ nhớ, lượng thông tin được xử lý trong một đơn vị thời gian trong một cỗ máy xử lý, hoặc lượng thông tin chuyển tải trên các đường truyền… Đó là lý do để Lý thuyết Thông tin của Claude Shannon ra đời, tạo nên cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ thông tin từ giữa thế kỷ 20 cho tới nay.

Tầng thứ 2 – Thông tin là một tập hợp ký hiệu tuân thủ một cú pháp (Syntax)

Ngôn ngữ của con người là một dạng thông tin điển hình. Bất kể ngôn ngữ nào của con người cũng có những quy tắc về cú pháp nhất định. Thí dụ tiếng Việt có quy tắc ghép vần các chữ cái thành một từ và quy tắc kết hợp các từ thành một câu.

Theo Wikipedia, bảng chữ cái tiếng Việt gồm 29 chữ cái. Để có thể viết tiếng Việt, phải có một quy tắc ghép các chữ cái thành một từ. Thí dụ: “Việt”, “ngữ”, “đẹp”…

Rõ ràng là các chữ cái không thể ghép với nhau một cách tùy tiện ngẫu nhiên được. Việc ghép tùy tiện ngẫu nhiên sẽ tạo ra những từ vô nghĩa. Thí dụ: “bgrtg”.

Ở tầng thấp nhất thì từ “bgrtg” có thể được coi là một thông tin, vì nó chứa đựng một lượng thông tin nhất định, đo bằng số bits.

Nhưng ở tầng 2 của thông tin, từ “bgrtg” không thể xem là một thông tin, vì các chữ cái được ghép với nhau tùy tiện, không tuân thủ quy tắc ghép vần trong tiếng Việt. Nói cách khác, từ “bgrtg” chỉ là một thông tin ở cấp độ 1 – cấp độ thấp nhất.

Khi mở TiVi không đúng kênh, ta sẽ có một đám nhiễu trên màn hình. Đám nhiễu ấy chứa một lượng thông tin ở tầng thấp nhất, nhưng không phải một thông tin ở tầng 2.

Mọi ngôn ngữ của con người còn đòi hỏi các từ được kết nối hoặc xâu chuỗi theo một trật tự xác định để tạo thành một câu, tức một thông tin xác định. Nói cách khác, mọi ngôn ngữ phải có một ngữ pháp – một bộ luật sắp xếp các từ theo một thứ tự xác định. Thí dụ: “Anh yêu em nhiều lắm!”. Ngữ pháp ở đây là thứ tự chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ. Vậy ở tầng 2 của thông tin, một tập hợp các chữ cái hoặc tập hợp các từ ngữ được xếp đặt theo một thứ tự xác định sẽ cho một thông tin.

Tóm lại, thông tin ở tầng 2 đòi hỏi 2 thành phần:

  • Mã (Code): một tập hợp các ký hiệu xác định được sử dụng.
  • Một cú pháp chính xác: mối quan hệ nội tại giữa các ký hiệu

Định nghĩa mã: Mã là một tập hợp các ký hiệu cần thiết để trình bày thông tin ở tầng 2 (trở lên).

Ngoài các mã quen thuộc như các chữ cái trong các ngôn ngữ của con người, còn có các hệ mã khác như mã điện tín (Morse), các nốt nhạc, các mã xử lý dữ liệu trong khoa học computer, mã gene (genetic codes), mã chữ nổi cho người mù (chữ Braille), mã ký hiệu bằng tay cho người câm điếc…

Số lượng các ký hiệu khác nhau của một hệ mã tùy thuộc vào mục đích sử dụng của nó. Thí dụ:

  • Hệ mã nhị phân [1, 0] được sử dụng cho công nghệ computer.
  • Hệ mã tứ phân (Quaternary code), sử dụng 4 ký hiệu, được sử dụng cho các tổ chức sống! Khoa học thông tin và sinh học đã chứng minh rằng hệ tứ phân là hệ mã tối ưu cho sự sống!
  • Bảng chữ cái tiếng Việt là hệ mã 29 chữ cái
  • Bảng chữ cái tiếng Anh là hệ mã 26 chữ cái
  • Bảng chữ cái tiếng Pháp giống bảng chữ cái tiếng Anh, nhưng phát âm khác nhau.
  • Bảng chữ cái tiếng Do Thái là hệ mã 22 chữ cái.
  • Bảng chữ cái tiếng Trung Quốc là hệ mã > 50.000 ký hiệu (vì mỗi chữ là một từ tượng hình, buộc người học phải thuộc tất cả các chữ, mỗi chữ là một ký hiệu).
  • Bảng chữ cái dành cho người mù (chữ Braille) là hệ mã 26 chữ cái.
  • Ngoài ra còn có những hệ mã bát phân (Octal code), hệ mã ngũ phân (Quinary code), hệ mã thập phân (Decimal code), hệ mã thập lục phân (Hexadecimal code)…

Liên quan đến thông tin ở tầng 2, Werner Gitt nêu lên một loạt các định lý sau đây[2]:

Định lý 6: Mã là điều kiện nhất thiết phải có để thiết lập một thông tin

Định lý 7: Việc gán ý nghĩa cho các ký hiệu là một quá trình thuộc về tinh thần tùy thuộc vào quy ước.  

Định lý 9: Một thông tin chỉ được giải mã khi hệ mã phải được cả người gửi lẫn người nhận cùng biết.

Định lý 10: Chỉ những cấu trúc dựa trên một hệ mã mới có thể trình bày một thông tin. Đây chỉ là điều kiện cần để thiết lập một thông tin.

Định lý 11: Một hệ mã luôn luôn là kết quả của một quá trình thuộc về tinh thần, đòi hỏi một nguồn trí tuệ thông minh hoặc một nhà phát minh.

Định lý 12: Mọi thông tin đều có thể trình bày bởi bất kỳ một hệ mã nào được chọn.

Tầng thứ 3 – Thông tin là một thông điệp có ý nghĩa (Semantics)

Khi ta đọc một cuốn sách, chúng ta không quan tâm tới số chữ trong cuốn sách, cũng không quan tâm tới cú pháp được sử dụng để viết cuốn sách đó, mà chủ yếu ta quan tâm tới ý nghĩa và nội dung của nó. Cú pháp rất cần thiết để trình bày nội dung của cuốn sách, nhưng điều làm cho chúng ta ghi nhớ một cuốn sách không nằm ở cú pháp hoặc kích cỡ của nó, mà nằm ở nội dung tư tưởng hoặc ý nghĩa của nó – đó là thông tin ở tầng thứ ba! Thông tin ở tầng này không liên quan với việc lưu trữ hoặc chuyển giao thông tin. Chẳng hạn, chi phí gửi một bức điện tín không phụ thuộc vào nội dung và ý nghĩa của bức điện, mà chỉ phụ thuộc vào số chữ của nó. 

Định lý 13: Bất kỳ một thông tin nào cũng được gửi đi từ một người gửi nào đó và có ý nghĩa đối với một người nào đó.

Định lý 14: Bất kỳ một thực thể nào được coi như một thông tin ắt phải có ý nghĩa.

Ý nghĩa là khía cạnh chủ yếu của thông tin vì ý nghĩa là cái không thay đổi của thông tin. Trong khi đó, lượng thông tin và cú pháp của thông tin có thể thay đổi. Chẳng hạn một bản tin tiếng Anh được dịch ra tiếng Việt thì số lượng “bits” và cú pháp của thông tin sẽ thay đổi, nhưng ý nghĩa của thông tin không thay đổi.

Định lý 15: Truy ngược tiến trình chuyển giao một thông tin luôn luôn dẫn tới một nguồn trí tuệ thông minh.

Định lý 16: Nếu một chuỗi ký hiệu chỉ chứa đựng một chuỗi ký tự xuất hiện ngẫu nhiên và vô nghĩa, nó sẽ không phải là một thông tin đúng nghĩa.

Tất cả những cách thức nhằm biểu lộ ý nghĩa của thông tin đều được gọi là ngôn ngữ. Thông tin có thể được truyền đi hoặc lưu trữ trong một vật liệu trung gian nào đó chỉ khi nó đã được trình bày dưới dạng một ngôn ngữ.

Về lý thuyết, thông tin hoàn toàn không thay đổi trong các hệ thống chuyển giao thông tin (âm thanh, quang học, điện tử) cũng như trong hệ thống lưu trữ thông tin (bộ não, sách, hệ thống xử lý dữ liệu, các băng từ…). Tính bất biến này là hệ quả của bản chất phi vật chất.

Có rất nhiều dạng ngôn ngữ khác nhau, Thí dụ:

  • Ngôn ngữ tự nhiên được sử dụng để thông tin liên lạc: hiện có khoảng 5100 ngôn ngữ sống trên trái đất.
  • Ngôn ngữ liên lạc nhân tạo và ngôn ngữ dùng để đánh tín hiệu: ngôn ngữ dành cho người câm điếc, tín hiệu giao thông, mã cờ (flag codes)…
  • Ngôn ngữ hình thức nhân tạo: ngôn ngữ logic toán học, nốt nhạc, các ký hiệu hóa học, ngôn ngữ thuật toán, ngôn ngữ lập trình như BASIC, C, C++, Fortran, Pascal…
  • Ngôn ngữ đặc biệt tìm thấy trong các tổ chức sống: ngôn ngữ di truyền (mã DNA), ngôn ngữ của loài ong, ngôn ngữ pheromones của nhiều loài sâu bọ, các hệ tín hiệu trong các mạng nhện, ngôn ngữ của cá heo,…

Tầng thứ 4 – Thông tin có công dụng như một chỉ thị hướng dẫn (Pragmatics)

Định lý 17: Thông tin luôn luôn đưa đến một hệ quả thực tế. Thí dụ một chương trình computer, thông tin hướng dẫn các hoạt động trong tế bào, một mệnh lệnh trong quân đội…

Định lý 18: Thông tin có thể kích thích người nhận thông tin thực hiện một hành động nào đó. Chức năng này có thể tác động trong cả những hệ vô sinh (như computer hoặc các máy tự động) lẫn trong các tổ chức sống (hoạt động trong tế bào, hành động của động vật, hoạt động của con người).

Chữ “pragmatics” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: “pragmatike” = nghệ thuật làm một việc đúng đắn. Thí dụ: Thông tin của DNA hướng dẫn các acid amin kết hợp lại với nhau theo đúng thứ tự thiết kế; Chương trình computer hướng dẫn một tên lửa vũ trụ hoạt động đúng như kế hoạch đã vạch sẵn…

Có một thông tin khổng lồ đóng vai trò hướng dẫn con người hành động đúng đắn, đó là cuốn Kinh Thánh. Gitt nhận xét: “Nhiều người sau khi đọc Kinh Thánh đã bắt đầu hành động theo những cung cách hoàn toàn mới”. Rồi ông dẫn lời Blaise Pascal nói:

“Trong Kinh Thánh có đủ những đoạn an ủi con người về mọi phương diện trong đời sống, và cũng có đủ những đoạn làm cho con người sợ hãi (giáo dục con người)” (There are enough passages in Scripture to comfort people in all spheres of life, and there are enough passages that can horrify them) (trang 74, sách đã dẫn).

Tầng thứ 5 – Thông tin có mục đích (Apobetics)

Định lý 19: Mọi thông tin đều có một mục đích nhất định. 

Thí dụ:

● Mọi chương trình computer đều có mục đích rất rõ ràng: Win10 để điều hành, Microsoft Word để soạn văn bản, Photoshop để biên tập hình ảnh…

● Thông tin của sự sống có mục đích rõ ràng: hướng dẫn vật chất trong tế bào hoạt động đúng theo thiết kế đòi hỏi, để sự sống được duy trì và sinh sôi nẩy nở.

● Thánh Giô-an, một trong 4 tác giả của Kinh Phúc Âm (Tân Ước) viết:

“Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này” (Giô-an 20:30).

Mục đích của thông tin này là báo cho chúng ta biết rằng ngoài những phép lạ đã được kể trong sách, Chúa Jesus còn làm nhiều phép lạ khác nữa, không thể ghi chép hết được.

● William Shakespeare nói: “Love looks not with the eyes but with the mind, And therefore is winged Cupid painted blind” (Tình yêu không nhìn bằng mắt mà bằng tâm hồn, và vì thế thần ái tình có cánh được vẽ nhắm mắt). Dường như Shakespeare muốn nhắc những người đang yêu rằng tình yêu đích thực đến từ tâm hồn chứ không từ con mắt. Đó là điều Shakespeare muốn khuyên bạn, còn bạn có đồng ý hay không lại là chuyện khác.

● Hình ảnh sau đây muốn nói rằng tư duy duy lý không thể nhận thức được chân lý toàn phần, chỉ có thể nhận thức được chân lý cục bộ. Mọi tham vọng biết được cái toàn bộ hoặc nguồn gốc tận cùng của sự vật là điều bất khả. Vì thế những cấu trúc trong hình này được gọi là “cấu trúc bất khả” (impossible structures).

● Cuốn “Định lý Gödel: Nền tảng của Khoa học Nhận thức Hiện đại” của Phạm Việt Hưng, NXB Tri Thức xuất bản năm 2019, trang 237, chứa đựng thông tin sau đây:

“Định luật Pasteur về Tạo Sinh tự động bác bỏ Học thuyết Darwin về Phi Tạo Sinh” (The Pasteurian Law of Biogenesis automatically refuted Darwinian Doctrine of Abiogenesis).

Thông tin ấy có mục đích rõ ràng là loan báo cho mọi người biết một sự thật ít người để ý hoặc không hề biết: Học thuyết Darwin về Phi Tạo Sinh trái với một định luật tự nhiên đã được toàn thế giới thừa nhận, đó là Định luật Tạo Sinh – định luật khẳng định rằng sự sống chỉ ra đời từ sự sống!

Thực tế trong sinh học hiện nay lưu hành hai lý thuyết mâu thuẫn với nhau, loại trừ nhau: đó là Biogenesis (Tạo Sinh) và Abiogenesis (Phi Tạo Sinh).

Có một Giáo sư biện luận rằng Định luật Tạo Sinh chỉ có thể kiểm tra được trong một thời hạn ngắn, không thể kiểm tra được trong một thời hạn dài hàng tỷ năm. Đây là một ý kiến nực cười, vì thực tế không hề có một lý thuyết nào kiểm tra được với thời hạn hàng tỷ năm. Lịch sử loài người đến này cũng chỉ có ngót 10 ngàn năm. Khảo cố học cho thấy con người xuất hiện cũng chỉ mới có vài triệu năm. Ý ông GS này muốn nói Thuyết Phi Tạo Sinh có thể đúng với thời hạn hàng tỷ năm (!!!). Thật nực cười –chính ông vừa nói Định luật Tạo Sinh không thể kiểm tra được trong thời hạn dài hàng tỷ năm, vậy làm thế nào để kiểm tra Thuyết Phi Tạo Sinh trong thời hạn đó? Đây rõ ràng là một ngụy biện nhằm bảo vệ niềm tin của mình!

Về mặt khoa học, nếu bạn muốn bác bỏ Định luật Tạo Sinh, bạn phải chỉ ra ít nhất một trường hợp định luật ấy sai. Chừng nào bạn không tìm thấy bất kỳ một ngoại lệ nào, bạn buộc phải chấp nhận định luật ấy. Học thuyết Darwin về Phi Tạo Sinh hiển nhiên là trái với Định luật Tạo Sinh, vậy nó ắt phải sai! Đó chính là lý do đầu tiên trong 9 lý do khoa học để tạp chí New Scientist ngày 24/01/2009 – năm kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Darwin và 150 năm ra đời cuốn “Về nguồn gốc các loài” của ông – đã tuyên bố trên trang bìa: “DARWIN WAS WRONG” (DARWIN SAI).

● Bài viết này – bài viết bạn đang đọc – cũng là một thông tin có mục đích rõ ràng. Mục đích ấy đã được nói ngay từ đầu, trong phần “abstract” – tóm tắt chủ đề của bài viết – rằng “chúng ta phải hiểu rõ hơn về bản chất của thông tin nếu chúng ta muốn hiểu rõ hơn về bản chất của sự sống!”.

Định lý 20: Mục đích của thông tin là khía cạnh quan trọng nhất của thông tin, vì nó thể hiện rõ ý muốn của người gửi tin.

Định lý 23: Không có bất kỳ một định luật tự nhiên nào cho thấy vật chất đẻ ra thông tin. Điều đó không thể xảy ra trong bất kỳ một quá trình vật lý nào hoặc một hiện tượng vật chất nào đã biết.

Thí dụ:

  • Thông tin của cuốn “Cuộc đời của Pi” xuất phát từ tư tưởng và tình cảm của Yann Martel.  
  • Thông tin của một chương trình computer xuất phát trí tuệ của nhà lập trình.
  • Thông tin của bản nhạc “Hoa Đỗ Quyên”[3] xuất phát từ cảm xúc của người sáng tác ra bản nhạc này.
  • Thông tin của bức tranh “Chân dung bà Rimsky Korsakov”[4] xuất phát từ cảm xúc của họa sĩ Franz Xaver Winterhalter.

Định lý 23B (một cách phát biểu khác của Định lý 23): Mọi thông tin đều bắt nguồn từ một trí tuệ thông minh!

Hệ quả của Định lý 23: Thông tin của sự sống ắt phải bắt nguồn từ một nguồn trí tuệ thông minh!

KẾT LUẬN

Từ những phân tích và lập luận nói trên, có thể rút ra những kết luận quan trọng sau đây:

  1. Không thể cài đặt, lưu trữ, và chuyển giao thông tin mà không sử dụng một mã xác định nào đó.
  2. Không thể có một mã mà không có một quy ước chung.
  3. Không thể có một thông tin không bắt nguồn từ một trí tuệ thông minh hoặc một ý chí.
  4. Mọi thông tin đều có 5 cấp độ biểu lộ: thống kê, cú pháp, ngữ nghĩa, công dụng, mục đích
  5. Thông tin là một thực thể phi vật chất, nhưng nó cần môi trường vật chất để lưu trữ và chuyển giao.
  6. Vật chất và thông tin là điều kiện cần của sự sống, nhưng chưa đủ.

Sinh học cổ điển coi sự sống chỉ là một cỗ máy vật chất thuần túy. Đến nay, quan điểm ấy đã được chứng minh là SAI.

Đại diện cho quan điểm lỗi thời đó là phát biểu của Jean Baptiste Lamarck (1744 – 1829):

“Sự sống chỉ là một hiện tượng vật lý. Tất cả mọi biểu hiện của sự sống đều dựa trên những nguyên nhân cơ học, vật lý, và hóa học, những nguyên nhân này mang tính chất vật chất hữu cơ” (Life is merely a physical phenomenon. All manifestations of life are based on mechanical, physical, and chemical causes, being properties of organic matter)[5] (trang 82, sách đã dẫn).

Quan điểm coi sự sống là cỗ máy vật chất thuần túy của Lamarck cũng là quan điểm của Darwin, thậm chí là quan điểm của nhiều nhà khoa học hiện nay. Đó là quan điểm của chủ nghĩa tự nhiên (naturalism) và chủ nghĩa duy vật (materialism) trong khoa học.

Dưới ánh sáng của khoa học về thông tin, chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa duy vật đã trở nên quá lỗi thời, vì thông tin không phải là vật chất.

Thế mới biết Lord Kelvin là một thiên tài, vì ngay từ cuối thế kỷ 19, ông đã khẳng định:

“Tôi cần phải nói công khai rằng sự khởi đầu và sự duy trì sự sống trên trái đất hoàn toàn vượt quá phạm vi của mọi phỏng đoán hợp lý trong khoa học động lực. Đóng góp duy nhất của khoa học động lực cho sinh học lý thuyết là sự phủ định tuyệt đối về sự khởi đầu tự động hoặc sự duy trì tự động của sự sống” (I need scarcely say that the beginning and maintenance of life on earth is absolutely and infinitely beyond the range of all sound speculation in dynamical science. The only contribution of dynamics to theoretical biology is absolute negation of automatic commencement or automatic maintenance of life)[6].

Nói gọn lại, Kelvin khẳng định:

Khoa học vật chất thuần túy không thể giải thích được sự hình thành và sự duy trì sự sống!

Rõ ràng là Kelvin, với trực giác thiên tài, từ hơn 120 năm trước, đã cảm thấy có một “cái gì đó” nằm ngoài khả năng tác động của vật lý và hóa học nhưng lại đóng vài trò quyết định trong sự hình thành của sự sống.

Ngày này chúng ta biết “cái gì đó” chính là thông tin – THÔNG TIN CỦA SỰ SỐNG!

 

DJP, Sydney 19/07/2020


[1] https://www.history.com/this-day-in-history/rosetta-stone-found

[2] Bài viết này không liệt kê tất cả các định lý trong sách của Werner Gitt, mà chỉ nêu lên những định lý phục vụ trực tiếp cho chủ đề đang thảo luận.

[3] https://www.youtube.com/watch?v=6FZ8rb71rgk

[4] https://curiator.com/art/franz-xaver-winterhalter/barbe-dmitrievna-mergassov-madame-rimsky-korsakov

[5] Nguồn dẫn nguyên thủy: Philosophie Zoologique, Paris, 1809, Vol. 1, p. 104 f.

[6] https://zapatopi.net/kelvin/quotes/

2 thoughts on “The Nature of Information / Bản chất của thông tin

  1. Pingback: THE NATURE OF INFORMATIION / BẢN CHẤT CỦA THÔNG TIN (DJP, Sydney) | Ngoclinhvugia's Blog

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s