GENETIC TOPOLOGICAL SPACE / KHÔNG GIAN TOPO DI TRUYỀN HỌC

Dr Huu Nhu Vu, the author of the book “The Axiom of Order & Biological Space-Time”, recently finished a new research on “The Genetic Topological Space and Human Fate”. In this work, Dr Vu proposed some ideas which may be very strange to many people, but interesting to think about. PVHg’s Home has honor to introduce it to the readers. Please enjoy and comment…

TS Vũ Hữu Như, tác giả cuốn “Tiên đề Thứ tự & Không-Thời gian Sinh học”, vừa hoàn thành một nghiên cứu mới về “Không gian Topo Di truyền học và Thông tin Vận mệnh”. Trong công trình này, TS Vũ đề xuất một số ý tưởng có thể rất xa lạ với nhiều người, nhưng thú vị để suy ngẫm. PVHg’s Home hân hạnh giới thiệu công trình này với độc giả. Xin mời thưởng thức và bình luận…

 

KHOA HỌC PHƯƠNG ĐÔNG và PHƯƠNG TÂY

 

Phương Đông và phương Tây trong chiều dài lịch sử dường như có những truyền thống văn hóa và những xu hướng phát triển khác nhau khiến chúng ta khó lòng lý giải và phân tích. Sự cách biệt về địa lý, sự khác biệt về hề thống di truyền, sự gian nan của “con đường tơ lụa” (The Way of Silk) đã cản trở sự giao lưu, trao đổi văn hóa Đông – Tây. Kết quả đã tạo ra những nét khác biệt đặc thù.

Nhưng trước khi tìm hiểu sự khác biệt, chúng ta hãy điểm qua một số nét tương đồng của thời kỳ xa xôi từ khoảng thế kỷ thứ V TCN. Khi ở phương Tây có những thành phố như Athena, Alexandria cùng với sự xuất hiện những nhà tư tưởng lớn như Democritus, Socrates, Aristotle, Euclid, Archimedes, Ptolemy… thì ở phương Đông cũng xuất hiện các nhà đại hiền triết như Lão Tử, Khổng Tử và đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Từ thời đó Democritus đã đưa ra học thuyết cấu tạo nguyên tử (atom) và Hình học Euclid đã có vai trò thống trị. Trong khi ở phương Đông ra đời Bát Quái và Kinh Dịch. Lão Tử đã đưa ra học thuyết Đại Đạo (The Tao), một khái niệm sơ khai của lý thuyết trường v.v… Điều này cho thấy khả năng tư duy của con người có những điểm rất tương đồng.

Sự khác biệt đáng kể giữa khoa học phương Đông và phương Tây chỉ bắt đầu thể hiện rõ nét từ thế kỷ XVI, thời kỳ phục hưng, khi ở phương Tây xuất hiện những nhà khoa học lớn như Leonardo Da Vinci, René Descartes, Giordano Filippo Bruno, Copernicus, Kleper, Galileo Galilei,…

Thời kỳ này toán học đóng vai trò hết sức quan trọng, là cột xương sống cho các ngành khoa học khác, đặc biệt là lý thuyết số, đại số và giải tích toán và thống kê xác suất. Tập hợp số thực R cùng với các phép tính vi tích phân trong thế kỷ tiếp theo đã đẩy khái niệm “Khoa học chính xác” lên rất cao. Đó chính là niềm kiêu hãnh để nhà toán học David Hilbert trong thế kỷ XX nêu lên khẩu hiệu:

“Wir müssen wissen — wir werden wissen!”

(Chúng ta phải biết, chúng ta sẽ biết)

Tuy vậy, sự vươn mình mạnh mẽ của khoa học phương Tây chỉ bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX và càng nở rộ trong thế kỷ XX, thời đại năng lượng nguyên tử và công nghệ thông tin cùng với sinh học phân tử mở đầu cho thời kỳ cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ hai. Sự đi sâu vào cấu trúc nguyên tử và các hạt hạ nguyên tử (Subatomic particles) đã đưa nhận thức của con người tới những câu hỏi lớn về ý nghĩa của “xác định” (certainty) và “bất định” (uncertainty). Hệ thức bất định của Werner Heisenberg cho thấy tính xác định không phải là chân lý duy nhất phải tôn thờ cho mọi khoa học.

Cùng với các thành tựu của cơ học lượng tử và lý thuyết trường lượng tử, sự ra đời của lý thuyết tương đối đã khiến nhận thức về không gian và thời gian cũng phải thay đổi. Thời gian không còn là sự trôi chảy tuyệt đối như Newton khẳng định, hơn nữa bốn trục của không – thời gian là bình đẳng. Về bản chất chúng chỉ là các tập hợp sắp thứ tự. Điều này rất quan trọng vì vật lý học hiện đại một cách tự nhiên đã đến gần với triết học phương Đông, Lý thuyết Đại Đạo của Lão Tử và quan niệm không – thời gian của Phật giáo.

Nhìn lại những thành tựu của khoa học phương Tây có thể rút ra một nhận xét: đó là nền khoa học được xây dựng trên nền tảng khai thác triệt để tập hợp số thực R để biểu diễn các hiện tượng của tự nhiên. Đây là một “tập hợp sắp thứ tự, tuyến tính và trù mật”, nó cho phép con người xây dựng nên “khoa học chính xác”. Đó là khoa học cố gắng đi tới mô tả mọi hiện tượng tự nhiên với mức độ “xác định” càng cao càng tốt. Các nhà vật lý đầy lòng tin nói về sự tồn tại của các hạt cơ bản có thời gian sống “mười mũ âm hai mươi giây” (các hạt cộng hưởng, 10-20s).

Tuy khác biệt nhưng khoa học Phương Đông và Phương Tây đương nhiên luôn có sự giao lưu, trao đổi và xâm nhập lẫn nhau. Sau đây chúng ta đề cập chủ yếu đến nền văn minh phương Đông thuộc các nước Trung Á, Tây Á như Ba Tư, Ả Rập và sau đó là nói đến Ấn Độ và Trung Hoa.

Trước hết phải nói đến nền văn minh Lưỡng Hà (Trung Á – Mesopotamia) được xem là cái nôi văn minh cổ nhất của loài người. Vùng châu thổ rộng lớn, màu mỡ nằm bên hai con sông Tigris và Euphrates (gắn liền với các quốc gia Iraq, Syria, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), nơi được mô tả là linh địa xưa của vườn địa đàng, đã ra đời xã hội tri thức đầu tiên của loài người vào thiên niên kỷ thứ IV TCN. Nó có nền móng từ nền văn minh Ubaid (5900 – 4000 TCN). Đó là nơi kết thúc thời kỳ đồ đá mới và khai mở thời kỳ đồ đồng, nơi đã ra đời hệ đếm 60 ngày, 24 giờ, 60 phút và chia vòng tròn ra 360 độ. Ở đó những nghiên cứu thiên văn đã gắn với việc quan sát các ngôi sao (Hoả tinh, Kim tinh, Thuỷ tinh, Mộc tinh, …) trên bầu trời. Các nhà chiêm tinh đã tạo ra lịch 12 tháng, tháng 30 ngày (theo vòng quay mặt trăng), dự báo nhật – nguyệt thực.

Người Lưỡng Hà cổ đại biết làm các phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số, luỹ thừa và khai căn, giải phương trình 3 ẩn số. Họ biết tính diện tích các hình, quan hệ 3 cạnh của tam giác (trước Pythagoras một thế kỷ). Họ biết chế tạo bánh xe và xe kéo, chiến xa, thuyền đi biển (3000 năm TCN). Đặc biệt trong giai đoạn 4300 – 3100 TCN đã diễn ra sự đô thị hoá mạnh mẽ. Sự ra đời của các thành phố lớn đã kéo theo sự tập trung các nhà thông thái lập nên các trường phái khoa học đầu tiên trong lịch sử.

Sau nền văn minh Lưỡng Hà, phải nói đến nền văn minh Ả-rập. Đây là cái nôi phát sinh ra đạo Hồi (Islam), người sáng lập là Mô-ha-mét (Muhammad), xuất thân từ một cậu bé chăn cừu. Châm ngôn của ông là: Tìm hiểu và mở mang tri thức là đang đi trên con đường của thánh Allah. Ông còn nói: Mực của nhà thông thái còn quý hơn máu của kẻ tử vì đạo. Sự nghiệp của Mô-ha-mét bắt đầu từ những năm 622 dương lịch. Ông đã xây dựng được một đế quốc hùng mạnh bao gồm vùng Tây Á, Sông Indus, Bắc Phi cho tới bờ Đại Tây Dương (Tây Ban Nha). Đây là thời kỳ hoàng kim của văn hoá Ả-rập, với tác phẩm “Nghìn lẻ một đêm” nổi tiếng. Trong toán học của thời kỳ này, người Ả-rập đã xây dựng được môn Lượng giác, trong Vật lý xây dựng được môn quang học. Mô-ha-mét đã cho xây dựng 3 trường đại học ở Cairo (Ai Cập), Baghdad (Iraq) và Córdoba (Tây Ban Nha). Nhà Toán học Muḥammad Ibn Mūsā al-Khwārizmī năm 830 đã công bố một tác phẩm nền tảng để từ đó hình thành nên môn Đại Số (Algebra) ở phương Tây. Thuật ngữ Algebra có từ gốc Ả Rập là Al-Jabr và thuật ngữ Algorithm, khởi thuỷ của Logic Toán là sự La-tinh hoá tên của nhà toán học đó: al-Khwārizmī. Tập hợp các số tự nhiên N theo hệ thập phân có nguồn gốc từ Ấn Độ cũng được các nhà toán học Ả-rập sử dụng rộng rãi trước khi truyền bá sang châu Âu.

Cũng là từ lưu vực các dòng sông lớn, nền văn minh Trung Hoa phát triển rực rỡ ở đồng bằng phía nam sông Dương Tử (một chi lưu của sông Hoàng Hà )

Khoảng 4400 năm TCN, xuất phát từ bức Hà Đồ trên lưng con Long mã nổi lên trên sông Hoàng Hà, vua Phục Hy đã đưa ra một cấu trúc toán học “Lưỡng Nghi – Bát Quái”. Đó là cách phát biểu “Tiên Đề Thứ Tự” sớm nhất của loài người. Phải đợi 6000 năm sau nhà toán học người Đức Gottfried W. Leibniz mới phát kiến ra phép tính nhị phân mà ngày nay chúng ta dùng trong ngôn ngữ Computer. Trên nền tảng của “Lưỡng nghi” (Một Âm, một Dương) người ta đã xây dựng nên “Tứ Tượng” và “Bát Quái”. Cấu trúc toán học này đã ngấm sâu vào đầu óc của các nhà triết học Trung Hoa suốt mấy ngàn năm tiếp sau và kết quả đã ra đời tác phẩm “Kinh Dịch”, một “Kỳ thư” đứng vững trong xã hội loài người cho đến tận ngày nay. Song hành với sự ra đời của Kinh Dịch, Lý thuyết “Âm – Dương và Ngũ Hành” cũng ra đời và trở thành nền tảng của Triết học phương Đông. Đây là sự khác biệt rất quan trọng giữa khoa học phương Đông và phương Tây sau tập hợp các số tự nhiên (N), hệ thập phân của người Ấn Độ (kể cả việc phát minh ra số “0” và số p = 3,1416).

Thông qua người Ả-rập truyền sang Tây Ban Nha, người châu Âu bắt đầu rời bỏ hệ đếm La Mã và chuyển sang sử dụng hệ thập phân vì tính thuận lợi của nó. Do nhu cầu phát triển của khoa học và kỹ thuật, các phép tính luỹ thừa, khai căn, lấy lô-ga-rit ra đời và kết quả là đã khai sinh ra tập hợp số thực R.

Điều chúng ta muốn nhắm tới trong bài viết này là bàn về sự khác biệt giữa văn hoá, khoa học vùng sông Hoàng Hà – Dương Tử, Trường Giang với văn hoá, khoa học Tây phương. Nền văn hoá Hoàng Hà – Dương tử có ảnh hưởng sâu rộng tới một vùng rộng lớn của châu Á, ăn sâu trong cuộc sống của khoảng 3 tỷ người trên hành tinh xanh. Cũng như khoa học Tây Âu, khoa học Á Đông rất chú ý nghiên cứu thiên văn, địa lý và kỹ thuật. Thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, người Trung Quốc đã biết chế tạo tên lửa dùng trong quân sự, đã phát minh kim la bàn, thuốc súng đen, … nhưng điều khác biệt lớn nhất là họ đi rất sâu vào khoa học nhân sinh (The Science of Human Life). Người Trung Quốc và người Ấn Độ đều rất say mê khoa học này và từ thế kỷ XIV nó đã lan truyền sang Tây Âu.

Không thể nghiên cứu khoa học nhân sinh bằng số học, điểm khác biệt của khoa học phương Đông là sớm đi vào “khoa học của các tập hợp”. Kinh Dịch và thuyết Âm Dương – Ngũ Hành chính là nền tảng của hướng phát triển khoa học này. Sử dụng “không gian các tập hợp” để biểu diễn sự sinh tồn, phát triển của con người. Đó là lý do để dẫn đến việc nghiên cứu các KHÔNG GIAN TOPO trên nền tảng của TOPO HỌC (TOPOLOGY)

 

KHÔNG GIAN TOPO DI TRUYỀN HỌC (GENETIC TOPOLOGICAL SPACE)

 

Khái niệm về Không gian Topo

Topology: The way the pats of something are organized or connected.

Không gian Topo là sự khái quát hoá của không gian Euclid và không gian Metric. Thay vì nghiên cứu khoảng cách giữa các điểm ta sẽ nghiên cứu sự tương quan giữa các tập hợp con của một tập hợp nào đó.

Nếu cho trước một tập hợp X thì một họ của các tập hợp con của X (tức 2X) sẽ tạo thành một Topo 𝓣 nếu nó thoả mãn điều kiện là giao của hai tập hợp con bất kỳ của 𝓣 sẽ cho ta một tập hợp con thuộc 𝓣. Tương tự một tổng của các tập hợp con của 𝓣. Dưới dạng biểu thức

Nếu U1 ∈ 𝓣, U2 ∈ ­𝓣 thì U1 ∩ U2 ­∈ 𝓣

Nếu Ut với t ∈ T và Ut ∈ 𝓣 thì Ut ∈ 𝓣

Bản thân X và tập hợp trống {∅} cũng thuộc 𝓣

Khi đó cặp (X, ­𝓣) được gọi là một không gian Topo

Cần chú ý rằng sẽ có một họ tập hợp con 𝓑 nào đó thuộc 𝓣 có khả năng hợp với nhau để tạo thành các tập hợp con khác của 𝓣, khi đó họ 𝓑 được gọi là một cơ sở của không gian Topo (X, 𝓣).

Cần nói thêm rằng các tập hợp con của 𝓣 có thể là các tập hợp mở hoặc là các tập hợp đóng (thí dụ tập hợp các điểm trong đoạn (a, b) là một tập hợp mở, còn tập hợp các điểm trong đoạn [a, b] là một tập hợp đóng)

Với sự khái quát như vậy thì không gian Topo là một cấu trúc đại số. (Thuật ngữ này ban đầu hàm nghĩa là phép phân tích địa danh, địa hình)

Một khái niệm quan trọng giữa các không gian Topo là khái niệm “đồng phôi” (Homeomorphism). Hai không gian topo X và Y gọi là đồng phôi nếu tồn tại một song ánh liên tục. Tính chất đồng phôi cho phép ta tìm thấy được sự tương đồng về cấu trúc toán học giữa hai không gian đó (mà bình thường có thể ta không nhận thấy được)

Không gian Topo Di truyền học

Quy trình tự tái sinh cơ bản của sự sống nói chung đã được thiết lập bởi sơ đồ

DNA → RNA → PROTEIN

Để dễ hình dung ta hãy nói đến thực khuẩn thể T4. Cấu trúc của nó chỉ gồm một vỏ protein bao bọc một phân tử DNA. Khi xâm nhập vào trong tế bào vi khuẩn E. Coli nó sẽ sử dụng bộ máy sao chép DNA của E. Coli tái bản rất nhiều phân tử DNA của nó. Kết quả sẽ tạo ra một thế hệ mới gồm nhiều T4. Thế hệ T4 mới này sẽ phá tung tế bào E. Coli để tiếp tục xâm nhập vào các tế bào E. Coli khác.

Sự sao chép DNA được thực hiện một cách chính xác. Xác xuất sắp ghép sai một nucleotid là 10^(-9) (ngoài ra còn có cơ chế chỉnh sửa của Enzyme). Trên một phân tử DNA có chứa nhiều gene. Bộ gene của người (Human Genom) có số lượng gene nằm trong khoảng 50 – 100.000 gene. Mỗi gene là một dãy thứ tự (sequencer) viết bởi 10^2 – 10^4 ký tự. Cần chú ý rằng mỗi sequencer này là một CHỈNH HỢP LẶP chỉ tạo thành từ 4 nucleotid (4 chữ cái) của mã di truyền, đó là:

          A – Adenin

          T – Thimin

          G – Guanin

          C – Citocin

Hai tiên đề cơ bản để tạo dựng không gian di truyền là

            a ≠ ab (1)

và      ab ≠ ba (2)

Tiên đề (2) được gọi là tiên đề thứ tự (The Order Axiom)

Mỗi gene là một cấu trúc tuân thủ tiên đề thứ tự. Gene của con người có cấu trúc tinh vi hơn các loài khác. Bản thân mỗi gene là một tổ chức hoạt động theo chương trình dưới tác động của rất nhiều tác nhân bên ngoài. Chương trình (program) của một gene được mã hoá bởi những dãy ký tự của bốn nucleotid {A, T, G, C} phân định gene thành các phân đoạn

I – dãy ký tự điều hoà (ức chế hoặc tăng cường hoạt động)

P – Promoter: dãy ký tự cho phép bắt đầu hoạt động phiên mã của gene

O – Operator: dãy ký tự điều khiển hoạt động của gene

CO – Coding: các dãy ký tự thực sự mang mã di truyền

S – Stop: dãy ký tự đặc hiệu chấm dứt phiên mã

Ngoài các gene nằm trên phân tử DNA, trong tế bào còn có các gene cơ động TGE (Transposable Genetic Elements). Đó có thể là các gene nhảy (Tn) hoặc các đoạn ngắn (vài trăm) các ký tự (Insertion Sequencer), chúng có thể gắn xen vào một số vị trí của phân tử DNA gây nên sự biến đổi di truyền không bền (Giải Nobel 1983)

Với những nội dung nói trên, khiến việc điều hoà hoạt động của một gene là hết sức đa dạng và phức tạp. Các gene chỉ hoạt động khi hội đủ các điều kiện khai mở. Vì vậy vấn đề gene mở và mở gene đang còn là một câu hỏi lớn đối với những bí ẩn của sự sống. Lý thuyết “Thiên – Địa – Nhân” là một trong những cách giải đáp cho câu hỏi này.

Để có một cách diễn đạt ngắn gọn ta có thể nói rằng không gian topo di truyền của sự sống nói chung và con người nói riêng là không gian của các phân tử DNA. Đó là những tổ hợp của các gene và mỗi gene là một dãy thứ tự (sequencer) viết nên từ 4 ký tự {A, T, G, C}. Không gian di truyền này khác nhau ở mỗi con người cụ thể. Theo các nhà sinh học thì “kiểu gene” (genotype) khác nhau sẽ biểu hiện ra các “kiểu hình” (phenotype) khác nhau. Ở một thí dụ quen thuộc là mỗi người có một “hệ vân tay” khác nhau.

 

KHÔNG GIAN DI TRUYỀN HỌC và THUYẾT ÂM DƯƠNG – NGŨ HÀNH

 

Trong phần trên ta đã luôn nói tới danh từ “tổ hợp”, đến đây ta cần nhấn mạnh rằng: Tổ hợp là những tập hợp tuân thủ Tiên đề Thứ tự (ab ≠ ba).

Cách đây hơn 6000 năm, mặc dù chưa hề biết đến cấu trúc của nguyên tử hydrogen nhưng con người đã nhìn nhận nguyên lý cơ bản của trời đất là sự tồn tại và kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố “Âm” và “Dương”. Sự kết hợp (tổ hợp) của hai yếu tố âm-dương được biểu diễn bằng sự kết hợp của hai vạch âm và dương. Sự kết hợp âm-dương đơn giản nhất đã tạo ra “Tứ Tượng”

Không hiểu con số 3 có sức mạnh siêu việt gì, khi nó quyết định “không gian thực” là “ba chiều”. Mọi sự mô tả về “Thế giới quan” của con người đều được thoả mãn bởi không gian 3 chiều. Không gian Euclid R3 đã là nền tảng xây dựng nên bao nhiêu ngành khoa học ứng dụng suốt nhiều thế kỷ. Nó chỉ bắt đầu gây bốc nổi khi thuyết tương đối hẹp ra đời.

Khái niệm “không-thời gian 4 chiều” đã tạo ra một cuộc cách mạng trong khoa học và nhận thức. Sự tách bạch giữa “Không gian thực” và “Không gian Toán học” càng ngày càng rõ ràng. Nhưng vấn đề nảy sinh ở đây là giữa không gian topo di truyền học và không gian thực có mối liên hệ nào chăng? Bốn nghìn năm trước công nguyên người ta đã tạo ra “bát quái”, đó là những chỉnh hợp lặp chập ba từ hai vạch âm-dương. Chỉnh hợp lặp chập 2 từ Bát quái ta sẽ có 64 quẻ trong Kinh Dịch. Các nhà Dịch học suốt mấy ngàn năm qua rất nhiều trải nghiệm với những trí tuệ siêu phàm đã cố gắng tìm ra sự tương thích giữa các tổ hợp chập 6 của hai vạch âm dương với những thông tin dự báo lành dữ, phúc – họa, tiến – lùi.

Cấu trúc của bát quái khiến ta cũng phải suy ngẫm về lượng thông tin của genetic code. Bảng mã di truyền này cho ta thông tin về vị trí không gian mà một amino acid sẽ được phép gắn vào chuỗi polypeptide trong tiến trình tổng hợp các phân tử protein. Phải chăng không gian thực 3 chiều là tương thích với genetic code. 

Sự tương thích giữa Genotype và Phenotype chính là những ánh xạ từ không gian topo di truyền ra các biểu hiện ngoại hình. Con người bắt đầu hình thành từ một hợp tử, đó là một tế bào với nhân là sự kết hợp của 23 NST đơn bội trong tinh trùng của bố và 23 NST đơn bội từ tế bào trứng của mẹ. Trải qua quá trình nhân đôi liên tục của tế bào hợp tử, sẽ tạo thành một phôi đa bào. Phôi đa bào dần dần được biệt hoá thành các cơ quan chuyên biệt, trong đó có bộ não và điểm đến sẽ là một con người sinh ra đời. Vì vậy cái nền tảng, cái quyết định vận mệnh của một con người chính là không gian topo di truyền nằm trong nhân tế bào phôi. 

Các nghiên cứu của các nhà nhân tướng học từ Á sang Âu trong suốt hàng ngàn năm qua đã cho thấy rằng cấu trúc của bàn tay là một phenotype đáng tin cậy của genotype: người Ấn Độ, người Trung Hoa, … rồi đến người Ả Rập và lan truyền sang Tây Âu. Thuật xem tướng tay đã trở thành một khoa học không ồn ào nhưng được ứng dụng hiệu quả vào khoa học đánh giá tiềm năng của con người, đặc biệt trong khoa học hình sự. Qua nghiên cứu tướng tay người ta có thể đánh giá được tình trạng sức khoẻ, khả năng trí tuệ, cuộc sống tình cảm và khả năng thành đạt của một con người. Vì vậy không gian topo di truyền học là cách biểu diễn toán học của genotype.

HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG – NGŨ HÀNH và THÔNG TIN VẬN MỆNH

Học thuyết Âm dương – ngũ hành bắt nguồn từ thời kỳ Phục Hy (4477 TCN) rồi đến Hạ Vũ (2200 TCN). Đến thời kỳ Tây Chu (1100 TCN). Kinh Dịch đã ra đời như một tác phẩm được biên soạn có hệ thống .Hoc thuyết  Âm dương – Ngũ hành chỉ trở thành một học thuyết chính thống từ thời Tần – Hán (211 TCN – 220 Tây Lịch). Nền tảng của học thuyết này là Triết lý “Ngũ hành sinh ra từ sự vận động của âm dương”. Quan niệm đó thực chất đã xây dựng một cấu trúc toán học của năm tập hợp mở “Thuỷ”, “Hoả”, “Kim”, “Thổ” và “Mộc” lấy tên của năm ngôi sao trong thái dương hệ để biểu diễn năm tập hợp cơ sở của cấu trúc này. Các tập hợp cơ sở này chạy trên vùng biến đổi của 60 giáp tý. Vùng biến thiên này là các tổ hợp của “Mười Thiên Can” và “Mười Hai Địa Chi”. Trong mục trên ta đã nhấn mạnh vai trò của Genotype đối với vận mệnh của con người vì Genotype quyết định sức mạnh của trí tuệ, thể chất và tâm hồn. Nhưng Genotype là một hệ tiếp thu và xử lý thông tin. Thuyết “Thiên – Địa – Nhân” chính là đề cao sự tương tác này. Vấn đề “gene mở” và “mở gene” sẽ phải tìm lời giải trong sự tương tác giữa genotype với các thông tin từ bên ngoài vũ trụ. Các tác động này liên tụ biến đổi theo thời gian. Phần ảnh hưởng rõ rệt nhất là sự tuần hoàn của các thiên thể trong thái dương hệ được biểu diễn qua sự tuần hoàn của 10 Thiên Can và 12 địa chi.

Khoa học mệnh lý cũng phân biệt hai khái niệm “Mệnh” và “Vận”. Mệnh do genotype quyết định, trong khi Vận là sự tương tác của quá trình biệt hoá trong tế bào với các tác động ngoại cảnh.

Chúng ta đang bàn về học thuyết âm dương – ngũ hành và cách lý giải của học thuyết này tới mệnh vận của con người từ góc nhìn của lý thuyết tập hợp. Theo tư tưởng của Định lý Gödel thì không có lý thuyết, không có hệ tiên đề nào là đẩy đủ. Học thuyết âm dương – ngũ hành cũng đã được xây dựng trên một hệ tiên đề (ngũ hành) và một cấu trúc đại số (với các phép toán tương sinh, tương khắc) để từ đó soi rọi vào vận mệnh và cuộc đời của một con người (Dự đoán theo Tứ Trụ). Vì ngũ hành là các “tập hợp mở”, nó chứa đựng sự trừu tượng và cả sự lạ lẫm của Lý thuyết các Tập hợp (Set Theory) nên phần nào đó nó mang tính “bất định” (uncertainty) khiến nó luôn chịu sự ngờ vực. Nhưng dù thế nào, học thuyết này đã đứng vững suốt mấy ngàn năm ở phương Đông cho đến tận ngày nay và “khả năng dự báo thông tin vận mệnh” của nó thì rất đáng khâm phục.

Sự sống là những “hệ thứ tự”, những hệ thống này chỉ tồn tại trong những điều kiện “xác định”, cũng nghĩa là xác suất tồn tại của các hệ thứ tự là rất thấp. Lý thuyết âm dương – ngũ hành cho ta thấy rằng mọi trạng thái cực đoan, thái quá đều dẫn đến sự phá huỷ thứ tự.

Không gian Topo di truyền học là một không gian của các tập hợp được sắp thứ tự. Các không gian mệnh lý học, không gian âm nhạc v.v… đều là những không gian của các tập hợp được sắp thứ tự. Việc nghiên cứu không gian Topo di truyền học cho phép chúng ta tìm được sự tương đồng của không gian di truyền học với các không gian sắp thứ tự khác trên cơ thể con người, tức là nghiên cứu sâu hơn quan hệ giữa genotype và phenotype. Điều đó cũng có nghĩa là giữa không gian di truyền học và không gian mệnh lý học có những mối tương quan chặt chẽ, từ đó giúp ta có được những thông tin dự báo về vận mệnh của con người, với mục đích “Chánh Hung, Hướng Cát”.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s